Tên Tài Khoảng  Mật Khẩu
Remove ads

Hội Ngộ - Vì Một Việt Nam Tự Do

Nơi Lắng Nghe Mọi Ý Kiến - Nơi Bạn Có Thể Viết Lên Ý Tưởng Của Mình - Không Phân Biệt Sắc Tộc - Tôn Giáo - Chính Trị

Title: Nhân Văn Giai Phẩm phần III: Giai phẩm mùa xuân
Hop cho: 
Lượt xem:210     
New Topic New Poll
<<Báo cáo vi phạmBáo cáo vi phạm>>
Trang 1 / 1    
Tác giảThảo luận
VIP4_Hi3n
 Tác giả    



Đánh giá:Đại Tá

Điểm số: 89846
Từ: 5746
Từ: Germany
Đăng ký: 05/12/2010
Thời gian dành: 16297 giờ

(Ngày đăng:13/04/2011 6:18 AM)
Share to: Facebook Twitter MSN linkedin google yahoo

Nhân Văn Giai Phẩm phần III: Giai phẩm mùa xuân

Sau đây xin giới thiệu: Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm Phần III: Giai Phẩm Mùa Xuân.

Hình bìa Giai Phẩm Mùa Xuân và Mùa Đông xuất bản năm 1956

Trong Giai phẩm mùa xuân bài thơ quyết liệt nhất, hỏi tội bọn nịnh thần, là của Văn Cao. Nhưng không ai dám đánh Văn Cao, tác giả quốc ca. Tất cả mũi dùi đổ vào Trần Dần, Lê Đạt, hai nhà thơ trẻ chưa nổi tiếng. Chính vì vụ đánh Trần Dần, Lê Đạt mà Phan Khôi trở lại vai “ngự sử văn đàn” với bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ và các nhà trí thức khác tích cực tham gia phong trào.

Tổ chức Giai phẩm mùa xuân

Giai phẩm mùa xuân do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương. Trần Dần có tham dự vào việc tổ chức ra báo và bài vở không ?

Hoàng Cầm trong bài Con người Trần Dần, in trên Nhân văn số 1 (8/1956) và cả đến sau này, trong bài phỏng vấn trên RFI, đều xác định là Trần Dần không biết gì về việc in bài thơ Nhất định thắng vì lúc đó đang tham gia Cải cách ruộng đất ở xa. Có lẽ là để gỡ tội cho Trần Dần.

 

Nhưng sự thực thì Trần Dần có tham gia vào việc ra Giai Phẩm mùa xuân : Sau khi bị bắt lần thứ nhất, bị cấm trại 3 tháng cùng với Tử Phác [vì "phạm kỷ luật quân đội" nhưng trên thực tế vì tổ chức phê bình thơ Tố Hữu và viết bản dự thảo đòi tự do sáng tác], Trần Dần, Tử Phác được gửi đi tham quan Cải cách ruộng đất.

 

Trong lời “thú tội”, Trần Dần viết về thời điểm này như sau :

“Sau thời gian đó, trên có cho tôi đi tham quan Cải cách ruộng đất để tự cải tạo. Song, tôi lại dựa vào cái thế tham quan, cứ đi lại Hà nội, tiếp tục quan hệ với một người vợ chưa được phép. Hơn nữa lại quan hệ với Hoàng Cầm, Lê Đạt, raGiai phẩm mùa xuân. Tuy là họ đề ra, song sau khi thống nhất trước với nhau là : “Tự do lấy bài tôi đưa vào”, thì tôi hoàn toàn đồng tình. Mỗi lần gặp lại thúc đẩy, dục dã, ra cho nhanh. Việc tập hợp bài vở, tôi không rõ chi tiết. Bài Lão Rồnglà do tôi viết. Tôi ví đồng chí Văn Phác như tên lý trưởng đã chà đạp Lão Rồng”. (Trần Dần, Những lời thú nhận bước đầu, Văn Nghệ, số 12, tháng 5/1958, trang 60).

 

Phía Lê Đạt, ông xác định việc chủ trương và tổ chức Giai Phẩm mùa xuân như sau :

 

“Trần Dần ra rồi, chúng tôi mới nghĩ đến chuyện này : bây giờ làm sao mà in được một tập thơ, trái với nguyên tắc lúc bấy giờ – nguyên tắc bấy giờ là tất cả các bài đều bị kiểm duyệt. Tôi chủ trương tập này phải là một tập tự do sáng tác hoàn toàn, tức là mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm về bài của mình vàkhông có kiểm duyệt gì cả. Tôi có bàn với Dần, Cầm, với Văn Cao, Tử Phác và mấy anh hội họa nữa là Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng. Lúc đó thì chưa tìm được chữ gì hay lắm. Tôi cũng không thích chữ Giai Phẩm tại chữ Giai Phẩm có vẻ Tự Lực Văn Ðoàn, nghe chữ ấy nó sang trọng quá tôi không thích. Nhưng lúc đó anh Minh Ðức (nhà xuất bản) và anh Ðang đều thích chữ ấy. Trước tôi định cái tít là “Thơ năm người”, nhưng mọi người bảo thế là “gây sự” quá, thì sau cũng đành lấy chữ Giai Phẩm”. (Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI).

 

Về mặt văn bản, căn cứ vào các sáng tác in trong Giai Phẩm mùa xuân, chúng ta có thể xác định rằng : Giai Phẩm mùa xuân là tạp chí văn học đầu tiên ở miền Bắc sau Cách mạng tháng Tám, đáp ứng hai đòi hỏi : tự do sáng tác và đổi mới văn học do Lê Đạt, Hoàng Cầm chủ trương, với sự cộng tác của Trần Dần, Văn Cao, Tử Phác…

 

Nội dung Giai phẩm mùa xuân

Giai phẩm mùa xuân chuyên về thơ. Tất cả có 9 bài thơ (Lê Đạt ba, Hoàng Cầm hai, Văn Cao, Nguyễn Sáng, Phùng Quán, mỗi người một và bài Nhất định thắng của Trần Dần), ngoài ra còn một truyện ngắn của Sỹ Ngọc và truyện phiếm Lão Rồng của Trần Dần.

 

Về hình thức, thơ trong Giai phẩm mùa xuân khác với Thơ Mới : các câu dài, ngắn, không đồng đều; nhịp điệu phóng khoáng; có thể nói đây là tạp chí thơ đầu tiên thể hiện cách làm thơ hiện đại không vần ở miền Bắc. Tất nhiên cũng mới chỉ là những thử nghiệm, các tác giả chưa xác định được căn cước của riêng mình, như sau này Lê Đạt với Bóng chữ, Trần Dần với Cổng tỉnh, Hoàng Cầm với Về Kinh Bắc, Đặng Đình Hưng với Ô mai, Bến lạ.

 

Về nội dung tư tưởng, sáng tác trong Giai phẩm mùa xuân có ba hướng khá rõ :

 

Khuynh hướng tuyên truyền cách mạng : Chống địa chủ, cường hào ác bá, đề cao cách mạng (Mùa xuân đến rồi đây của Hoàng Cầm), thơ chiêu hồi gửi miền Nam (Thơ qua đài phát thanh, Hoàng Cầm). Thơ đề cao chiến thắng và công lao của Đảng (Hoa đào vẫn nở, Nguyễn Sáng). Thơ kiến thiết đất nước, xây dựng xã hội mới (Mỗi ngày mỗi lớn – Gửi kế hoạch nhà nước 1956, Lê Đạt). Thơ ca tụng công nhân quét đường (Thi sĩ và công nhân, Phùng Quán). Văn tả cảnh đói khổ của người dân lao động, sự bóc lột của địa chủ, nhưng nhờ ánh sáng của Đảng, từ nay, trời sẽ “trong sáng vĩnh viễn” (Sổ tay, Sỹ Ngọc).

 

Khuynh hướng vừa chống vừa theo :Trần Dần (Nhất định thắng).

 

Khuynh hướng chống đối và đòi tự do sáng tác : Văn Cao (Anh có nghe thấy không) và Lê Đạt (Làm thơ và Mới).

 

Thơ Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm thời còn đi Kháng chiến (Ảnh : DR)

 

Về mặt thi ca, Hoàng Cầm có phần nổi tiếng hơn Tố Hữu : những bài Đêm liên hoan, Tâm sự đêm giao thừa, Bên kia sông Đuống… tuy không được phổ biến rộng rãi trên báo của đảng, nhưng vẫn truyền qua các kênh đại chúng, trở thành những tác phẩm tiêu biểu của thi ca kháng chiến và đã đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền cho tinh thần chiến đấu vệ quốc quân.

 

Thơ Tố Hữu, vì có nhiều câu kêu gọi sự giết chóc (dù là giết “quân thù”) : “Giết giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ…”, lại có những câu ca tụng đảng trơ trẽn : “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt” hoặc“Đảng ta Mác – Lê nin vĩ đại…”, hoặc những câu thờ phụng lãnh tụ ngoại lai :Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít- Ta-Lin bất diệt, đôi khi đi đến chỗ vong bản như : Xít- ta- lin ! Xít- ta- lin ! / Yêu biết mấy, nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi Xít-Ta – Lin... nên dù Tố Hữu có quyền thế, dù thơ Tố Hữu được học, được tung hô trong hơn nửa thế kỷ, nhưng thơ ông vẫn không được toàn dân chấp nhận. Tố Hữu cũng có những câu thơ hay, nhưng chúng bị ngập trong rừng thơ tuyên truyền. Đối với số đông người Việt, Tố Hữu là chủ soái của trường thơ ca tụng Bác và Đảng.

 

Hoàng Cầm là nhà thơ đích thực, từ Bắc chí Nam, trước và sau 1954, thơ Hoàng Cầm được mọi người yêu mến, bởi thơ ông nói lên tâm sự đớn đau của con người. Hoàng Cầm cũng tuyên truyền, nhưng thường tuyên truyền cho lòng yêu nước, rất ít những câu ca tụng đảng, ca tụng lãnh tụ hay một chủ nghĩa ngoại lai như trường hợp Tố Hữu.

 

Cho nên, không phải tình cờ mà Nguyễn Hữu Đang, năm 1956, khi ra Nhân Văn số 1, đã nhờ Hoàng Cầm viết bài bênh vực Trần Dần : Bởi trong nền thi ca cách mạng, chỉ Hoàng Cầm mới có đủ tư thế văn học để đương đầu với Tố Hữu lúc bấy giờ.

 

Trong NVGP, Hoàng Cầm giữ vị trí điều hoà và liên lạc mời những người có “vai vế” như Văn Cao, Phan Khôi… tham gia phong trào. Hoàng Cầm cùng với Lê Đạt tổ chức Giai phẩm mùa xuân, nhưng thơ ông trong Giai phẩm mùa xuânkhông có tính cách quyết liệt như thơ Văn Cao, không tố giác như thơ Trần Dần và cũng không đòi đổi mới thi ca như thơ Lê Đạt.

 

Đó cũng là phong cách của Hoàng Cầm : trung dung, ôn hoà, cũng có thể như ông tự nhận mình là nhát, ít nhất trong những bước đầu. Nhưng khi cần bênh vực Trần Dần, ông đã lên tiếng mạnh mẽ trong bài Con người Trần Dần.

 

Bài Mùa xuân đến rồi đây của ông nói lên nỗi khổ của người dân trong bảy mươi năm nô lệ, đói khổ, dưới sự thống trị của bọn “địa chủ cường hào ác bá”, nhưng rồi cách mạng thành công, công bằng, ấm no, hạnh phúc trở lại :

 

Bẩy mươi mùa xuân không xuân

Bảy mươi năm cùng tháng tận

Dòng sông Nhị ơi ! Con cò lận đận

Bãi ngô dài cát trắng

Lòng sông cuốn nặng

Phù sa

Nước mắt mẹ con ta

Chảy ra ngoài biển rộng

Réo lên đầu sóng

Đùn đùn mây đen

Mưa lọt mái nhà rách thủng.

Mưa thốc xuống tàu chuối khô

Ướt đẫm manh tải

Mẹ con nằm trong đêm mưa

Nằm trong nước mắt đỏ như máu

Nằm trong nước sông đầy bùn nhơ

Dòng sông Nhị ơi ! Lúa mượt hai bờ

Địa chủ đứng trên đê

Mắt ngầu hổ dữ…

 

Sau khi duyệt lại những năm tháng tối tăm cùng khốn của con người trong đói khổ, bị đàn áp, Hoàng Cầm ca tụng mùa xuân trở về (cách mạng thành công), mang lại ấm no, công bằng :

 

Dòng sông Nhị ơi ! Mùa xuân đến rồi đây

Mẹ con được chia : hai gánh thóc đầy (Mùa xuân đến rồi đây)

“Thơ qua đài phát thanh” là một bài thơ “chiêu hồi” gửi “người em” bên kia vĩ tuyến, có những câu rất lãng mạng :

Tôi tìm Em trên sóng điện bao la

Thơ đã đứng lên, vút đi, cao lớn

Ống nói như môi em chờ đón

Trầm ngâm, ấp một nụ cười

Tôi sung sướng truyền thơ tôi

Cho những Người yêu khắp nước

 

Tóm lại, Hoàng Cầm trong Giai phẩm mùa xuân mới chỉ thử nghiệm những câu thơ không vần, trong tinh thần tuyên truyền cách mạng, chưa đả động đến những vấn đề gai góc như tự do tư tưởng, tự do sáng tác, và trong văn bản, chưa có câu nào “bôi đen” chế độ.

Thơ Trần Dần

Nhà thơ Trần Dần thời trẻ. Chân dung do Nguyễn Sáng vẽ năm 1956 và in trên Nhân Văn số 1 (Ảnh : DR)

 

Bài thơ Nhất định thắng là tác phẩm chính trong thời kỳ NVGP của Trần Dần, phản ánh khá rõ tính cách mâu thuẫn trong tư tưởng tác giả với giọng anh hùng ca. Trần Dần lồng bi kịch cá nhân của mình (yêu người con gái ở phố Sinh Từ) trong bối cảnh chung của đất nước sau hiệp định Genève :

 

- Miền Bắc nghèo đói, thất nghiệp “Anh bước đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”.

- Miền Nam dưới gót dày của “giặc” : “Ở miền Nam có tên giặc họ Ngô, tài của hắn là Khuyển Ưng của Mỹ”.

- Nhưng chúng ta “Nhất định thắng”, đất nước sẽ thống nhất : “hàng triệu tâm hồn, đã bỏ miền Nam ra Bắc”, và “kẻ thù” (nghèo đói, Ngô, Mỹ) sẽ phải thua :“bọn Mỹ Diệm ôm đầu sợ hãi”.

- Rồi trời lại xanh : “Anh bước đi đã thấy phố đã thấy nhà, không thấy mưa sa, chỉ thấy nắng lên, trên màu cờ đỏ”.

Nhất định thắng như một bài thơ tuyên truyền

 

Đây là đoạn mở đầu :

 

Tôi ở phố Sinh Từ :

Hai người

Một gian nhà chật.

Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui ?

Tổ Quốc hôm nay

tuy gọi sống hoà bình

Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất

Chúng ta còn muôn việc rối tinh…

Chúng ta

Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc

Vợ con đau thì rối ruột thuốc men

Khi mảng vui – khi chợt nhớ – chợt quên

Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt,

Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.

Ta biết đâu bên Mỹ Miếc tít mù

Chúng còn đương bày kế hại đời ta ?

Người ta nói thằng Ngô con đĩ

Ở miền Nam có tên giặc họ Ngô

Tài của hắn là : Khuyển Ưng của Mỹ

Bửu bối gớm ghê là : một lưỡi đao cùn

Hắn nhay mãi cố xẻ đôi Tổ Quốc.

Tác phẩm trình bày cảnh đói khổ của miền Bắc, nhưng thầm ngụ ý Mỹ Diệm mới là nguồn cơn của mọi đớn đau : “Em ơi, Em có biết đâu, Ta khổ thế này, Vì sao ? Em biết đâu, Mỹ Miếc, Ngô Nghê gì ?”. Khi chửi Ngô Đình Diệm, Trần Dần có những câu sắt máu, đại loại : “Hắn thét lên ộc máu mũi máu mồm”, “Đất trời sâu / đương vẩy máu / đuổi theo chân hắn. Hắn run sợ – Quỳ xin đã muộn ! / Dù đêm khuya, bóng tối đặc ngầu ngầu / Máu vẫn đỏ / trúng đầu trúng mặt / Tên tội nhân kia ! / Lịch sử vang tên mày !”

 

Bài thơ kết thúc có hậu : “Em có thấy bay trên trời xanh / Hàng triệu tâm hồn / Họ đã bỏ miền Nam ra Bắc ! / Chúng đem súng mà ngăn / Đem giây mà trói ! / Giữ thân người không giữ được nhân tâm / Người Nam gửi tâm hồn ra Bắc cả / Bọn Mỹ Diệm ôm đầu sợ hãi / Đổ lên chúng nó / Mây đen / lửa loạn / bão thù”.

Và khi “ta” đã toàn thắng : “Anh bước đi / đã thấy phố thấy nhà / Không thấy mưa sa / Chỉ thấy nắng lên / trên màu cờ đỏ”. Người dân phố Sinh Từ đóng cửa xuống đường đi mít tinh : “Vung cờ đỏ hát hò vỡ phổi”.

 

Đó là một bài anh hùng ca theo đường lối thơ cách mạng, có nhiều câu tuyên truyền theo thông tin nhà nước. Thực ra, tháng 4/1955, khi Trần Dần viết bàiNhất định thắng, người Mỹ chưa vào miền Nam. Ngô Đình Diệm mới về, chỉ là thủ tướng, đang lo dẹp Bình Xuyên, Hoà Hảo, chưa thật sự nắm quyền và có chính sách chống Cộng triệt để như sau này. Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm mới tổ chức cuộc trưng cầu dân ý “truất phế” Bảo Đại.

 

Cho nên khi Hoài Thanh viết : “Toàn bài của Trần Dần toát ra một sự hằn học sâu sắc đối với chế độ tươi sáng ở miền Bắc, đối với sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, thống nhất của nhân dân ta. Tôi không kết luận về người. Tôi chỉ căn cứ vào bài văn. Tự nó, bài “Nhất định thắng” trong lời và chữ của nó, chứa đựng những tư tưởng phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta, chống lại cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Trong nền văn nghệ chúng ta đầy tin tưởng ở hiện tại và tương lai của chế độ, của dân tộc, bài “Nhất định thắng” của Trần Dần thật đúng như lời đồng chí Nguyễn Tuân nói, là một thứ mụn lở trên một cơ thể lành mạnh”. (Hoài Thanh, Vạch trần chất phản động của bài Nhất định thắng của Trần Dần, Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 110 (1.3.1956), Lại Nguyên Ân sưu tầm). Viết như vậy, Hoài Thanh không còn đứng ở cương vị một nhà phê bình đứng đắn dựa trên văn bản để xét mà ông đã xuyên tạc, hoặc nói ngược lại ý nghiã trong bài thơ của Trần Dần.

 

Nhưng tại sao Trần Dần cũng lại viết :

 

“Bài Nhất định thắng  sinh ra trong cái nôi những tư tưởng chống đối như thế. Dưới chiêu bài “phát hiện mâu thuẫn xã hội”, “chống công thức, tìm cái mới”, bài Nhất định thắng bôi đen miền Bắc. Thất nghiệp hàng ế, đi Nam, hai năm không thống nhất được v.v… và cái điệp khúc “mưa sa trên màu cờ đỏ” nó nhấn mạnh : “Đảng là nguyên nhân của cái xã hội thê thảm này.” Những sự quy kết khác ép cho địch, thực chất chỉ là chiêu bài. Có những câu đả kích cán bộ chính trị “nhà chính trị lắm mưu trong bụng” về sau in xoá đi. Bài Nhất định thắng là một cuộc đánh thẳng vào tư tưởng của Đảng, trắng trợn và hung hăng”. (Trần Dần, Những lời thú nhận bước đầu, Văn Nghệ, số 12, tháng 5/1958, trang 60).

 

“Thú nhận” như thế tức là tức là hoàn toàn nhận lỗi chống chế độ về mình. Mà thực tế văn bản đâu phải thế ? Tại sao ? Vậy có thể hiểu là, ở thời điểm 1958, trong bối cảnh trù dập của lớp học Thái Hà, Trần Dần đã phải thú nhận tất cả mọi “tội”, kể cả những tội không phải của mình, ví dụ như “phát hiện mâu thuẫn xã hội”, “chống công thức, tìm cái mới” là “tội” của Lê Đạt. Những lời thơ trongNhất định thắng chưa thể gọi “là một cuộc đánh thẳng vào tư tưởng của Đảng, trắng trợn và hung hăng” như Trần Dần đã (phải) xác nhận.

 

Vì vậy, chúng ta nên thận trọng khi tìm hiểu hiện tượng những thành viên trong NVGP, người này tố cáo người kia, trong không khí thanh trừng này, kể cả việc phải tố cáo chính mình.

Tóm lại xung quanh bài Nhất định thắng có ba vấn đề :

 

- Tính cách mâu thuẫn trong tư tưởng Trần Dần

- Việc bắt buộc phải nhận tội dưới áp lực cách mạng.

- Bi kịch Trần Dần.

 

Nhất định thắng như một tác phẩm văn học

 

Nhất định thắng trước hết là một bài thơ tuyên truyền, nhiều câu khẩu hiệu, có lẽ vì thế mà cả Hoàng Cầm lẫn Phan Khôi (hai người cực lực bênh vực Trần Dần) đều không cho Nhất định thắng là một bài thơ hay.

Nhưng nếu cắt những đoạn tuyên truyền máu mê thô thiển đi, như Hoàng Văn Chí đã làm thì bài Nhất định thắng trở thành một tác phẩm văn học giá trị. Bởi khi đem bi kịch riêng  lồng vào lịch sử, Trần Dần đã có những câu thơ thật xúc động :

 

Tôi ở phố Sinh Từ

Những ngày ấy bao nhiêu thương xót

Tôi bước đi

không thấy phố

không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

trên màu cờ đỏ

Gặp em trong mưa

Em đi tìm việc

Mỗi ngày đi lại cúi đầu về

- Anh ạ !

họ vẫn bảo chờ…

Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?

Trời mưa, trời mưa

Ba tháng rồi

Em đợi

Sống bằng tương lai

Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi

Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã…

Em đi

trong mưa

cúi đầu

nghiêng vai

Người con gái mới mười chín tuổi

 

Khi nói đến tình trạng thất nghiệp ở miền Bắc, Trần Dần có những hình ảnh thơ mộng và nhức nhối :

 

Gặp em trong mưa

Em đi tìm việc

Mỗi ngày đi lại cúi đầu về

- Anh ạ.

Họ vẫn bảo chờ…

Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?

Trời mưa, trời mưa

Ba tháng rồi

Em đợi

Sống bằng tương lai

Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi

Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã…

Em đi

trong mưa

cúi đầu

nghiêng vai

Người con gái mới mười chín tuổi.

 

Nói đến nghịch cảnh chia đôi đất nước, Trần Dần có những lời lẽ thiết tha, đòi đoạn :

 

Tôi đã sống rã rời cân não

Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam

Những cơn mưa rơi mãi tối sầm

Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng

….

Tôi nức nở giữa trời mưa bão.

Họ vẫn ra đi.

- Nhưng sao bước rã rời ?

Sao họ khóc ?

Họ có gì thất vọng ?

Đất níu chân đi,

gió cản áo bay về

Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống

Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió

Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi

Tôi cúi xuống – Quỳ xin mưa bão

Chớ đổ thêm lên đầu họ

Khổ nhiều rồi !”

Chính những câu thơ này đã khiến bài Nhất định thắng sống mãi trong lòng người dân miền Nam.

Toàn bài phản ánh những suy nghĩ của Trần Dần về tình hình đất nước năm 1955,  những suy nghĩ này thường mâu thuẫn nhau : vừa nói lên cái khổ của người dân miền Bắc  dưới chế độ cộng sản : tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà… nhưng lại mong miền Bắc thắng trong cuộc thống nhất đất nước. Hoặc nói về màu cờ : Trần Dần vừa thấy “mưa sa trên màu cờ đỏ”, nhưng lại cũng thấy “nắng lên đỏ phố đỏ cờ”, “cờ bay đỏ phố đỏ nhà”, và  có lúc “cầm cờ đỏ hét hò vỡ ngực”.

 

Phần dở là những câu, những đoạn tuyên truyền khơi gợi căm thù, kiểu : “Hôm nay hàng triệu mối thù sâu / tới đập cửa lão già Ngô đòi mạng / Vung đao cùn chém phải quãng trời không”.

Phần hay là những đoạn thơ nhân bản, nói lên những đau đớn xót xa của người dân đói khổ, thất nghiệp, ở Bắc; của người dân lìa bỏ quê cha đất tổ, trong Nam, và tác giả mong một ngày sẽ có hiệp thương, thống nhất đất nước, để hai miền cùng đọc tác phẩm của mình, và như thế độc giả sẽ tăng lên gấp bội.

Hoàng Văn Chí khi in bài Nhất định thắng trong Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, đã cắt  những câu, đoạn, những lời sắt máu, oán thù, khiến bài thơ hay hơn, nhân bản hơn. Nhưng việc cắt xén này làm thay đổi ý nghĩa của bài thơ và lập trường chính trị của Trần Dần năm 1956, làm cho Nhất định thắng trở thành một tác phẩm chống cộng, được chính quyền miền Nam trưng dụng như một biểu tượng “tố cộng”. Và chính quyền miền Bắc dựa vào đó để buộc tội Trần Dần. Bi kịch của nhà thơ là tác phẩm của ông, đã bị/được, bên này, bên kia gán cho những ý nghĩa không có trong văn bản, đem trưng dụng để tung hô hay buộc tội.

 

Độc giả miền Bắc, năm 1956, theo lời Lê Đạt, khi đọc Nhất định thắng, cũng chỉ giữ lại những câu hay nhất : “Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Bởi nó đã nói lên được tâm sự của con người sống dưới chế độ cộng sản. Hậu thế sẽ nhớ đến Trần Dần qua hai câu thơ kiệt tác đó.

 

Văn Cao và Lê Đạt : tác giả đích thực “có vấn đề”

 

Hai tác giả đích thực “có vấn đề” phải là Văn Cao và Lê Đạt, bởi họ đã nói đến thực chất của chế độ, đòi quyền tự do tư tưởng, tự do sáng tác, và chủ trương đổi mới văn học trên Giai phẩm mùa xuân.

 

Thơ Văn Cao

Nhạc sĩ Văn Cao vào năm 1993 (Ảnh : DR)

Với bài Anh có nghe thấy không Văn Caonói đến sự bế quan toả cảng tinh thần trong chế độ cộng sản, đến khát vọng tự do của con người :

Cửa đóng lại từ chín giờ

Không một cuốn sách chờ đợi

Dù những ngôi sao đang nở trên trời

Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại

Tất cả hướng về biển

Bọt cứ tan trên bãi cát xa

Mà cửa bể vẫn im lìm chưa mở

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả

Những con người không phải của chúng ta

Vẫn ngày ngày ngang nhiên sống

Chúng nó còn ở lại

Trong những áo dài đen nham hiểm

Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người
Chúng nó còn ở lại
Trong những tủ sách gia đình
Ở điếu thuốc trên môi những em bé mười lăm
Từng bước chân các cô gái
Từng con đường từng bãi cỏ từng bóng tối
Mắt quầng thâm còn nhỡ mãi đêm

Chúng nó còn ở lại
Trong những tuổi bốn mươi
Đang đi vào cuộc sống
Như nấm mọc trên những thân gỗ mục

Người bán giấy cũ
Đã hết những trang tiểu thuyết ế
Những trang báo ngày xưa
Đang bán đến những trang sách mới
Những bài thơ mới nhất của anh

Anh muốn giơ tay lên mặt trời
Để vui da mình hồng hồng sắc máu
Mấy năm một điệu sáo
Như giọng máy nước thâu đêm chảy

Chung quanh còn những người khôn ngoan
Không có mồm
Mắt không bao giờ nhìn thẳng
(…)
Bây giờ không còn những tiểng nổ to
Nhưng còn những tiếng rạn vỡ
Có thể thu hết những khẩu súng phản động
Nhưng vẫn còn
Những khẩu súng đưa người tự tử.

Anh có nghe thấy không
Chỗ nào cũng có tiếng
Chưa nói lên

Những người của chúng ta
Đang mờ mờ xuất hiện
Le lói hy vọng
Trên những cánh đồng lầy

Nghìn năm cũ phủ mất nhiều giá trị
Đốt nghìn kinh chưa thắp sáng cuộc đời

Vào một cuộc đấu tranh mới
Với những người không phải của chúng ta
Anh có nghe thấy không

Vào một cuộc đấu tranh mới
Để mở tung các cánh cửa sổ
Mở tung các cửa bể
Và tung ra hàng loạt hàng loạt
Những con người thật của chúng ta

Giọng thơ Văn Cao nhẹ nhàng, nhưng ý thơ rất quyết liệt : đòi tự do, lên án sự bưng bít của chế độ và kêu gọi mọi người đứng dậy tranh đấu đến cùng.Những lời đầu, Văn Cao mở vào không gian kín mít, không gian nghẹt thở sau khi cách mạng thành công :

 

Cửa đóng lại từ chín giờ

Không một cuốn sách chờ đợi

Dù những ngôi sao đang nở trên trời

Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại

Đó là thứ không khí thiết quân luật. Cửa đóng. Không có sách hay không còn sách. Mặc dù sao (vàng) lấp lánh trên trời. Mặc dù mùa xuân đã đến. Mọi con mắt hướng ra biển (về phía tự do), nhưng cửa biển vẫn im ỉm đóng :

 

Tất cả hướng về biển

Bọt cứ tan trên bãi cát xa

Mà cửa bể vẫn im lìm chưa mở

 

Vẫn giọng ôn hoà, nhưng không kém phần khắc hạch, Văn Cao trỏ thẳng vào bọn gian thần, bọn dốt nát, bọn kìm kẹp văn hoá tư tưởng, mắng và đuổi, khi nào “chúng nó” còn đây thì :

 

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả

Chúng nó là ai ?

Nhà thơ trả lời – Chúng là :

 

Những con người không phải của chúng ta

Vẫn ngày ngày ngang nhiên sống

Chúng nó còn ở lại

Trong những áo dài đen nham hiểm

Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người.

“Chúng nó”, bọn áo thụng, len lỏi khắp nơi, từ trong tủ sách gia đình đến điếu thuốc trên môi đứa bé mười lăm, quẩn trong bước chân người con gái. “Chúng nó” nấp trong mọi lứa tuổi, mọi từng lớp xã hội, “chúng nó” trà trộn vào đời sống hàng ngày, làm ô uế không gian, lũng đoạn thời gian. Sách cũ, sách mới đem bán cân giấy lộn, đến cả những bài thơ mới nhất của anh. Những kẻ “khôn ngoan” thì ngậm miệng “mắt không bao giờ nhìn thẳng”.

 

Nhưng Anh người nghệ sĩ tự do, Anh có nghe thấy không ? Bọn chúng đã “đốt nghìn kinh chưa thắp sáng cuộc đời”. Còn Anh, anh phải bước vào cuộc đấu tranh mới : mở tung các cửa bể, và anh phải tung ra những con người thật của chúng ta, để thay thế “chúng nó”, những con người giả.

 

Thơ Văn Cao là nộ khí trầm lặng của một nghệ sĩ bị giam hãm tư tưởng, của một kẻ sĩ can trường hạch tội gian thần. Giọng nhẹ nhàng nhưng tha thiết kêu gọi mọi người đứng lên đấu tranh cho tự do tư tưởng. Văn Cao là một nghệ sĩvà cũng là một kẻ sĩ.

 

Nhưng lạ lùng là cả triều đình và bọn nịnh thần không ai dám động đến Văn Cao. Chẳng lẽ họ không hiểu ? Kể cả những người lắm chữ như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi ?

 

Dĩ nhiên là họ hiểu. Nhưng bởi Văn Cao là một tài năng lớn, trên tất cả “chúng nó” và Văn Cao là tác giả quốc ca. Chính bài quốc ca đã đỡ đòn cho Văn Cao trong toàn bộ hành trình Nhân Văn Giai Phẩm.

 

Thơ Lê Đạt

Nhà thơ Lê Đạt vào năm 1996 qua ống kính nhiếp ảnh gia Gerhard và nét cọ họa sĩ Từ Duy (Nguồn : Tập thơ Đường Chữ / Diendan.org)

Lê Đạt là nhà thơ trẻ chưa có tên tuổi gì khi chủ trương Giai phẩm mùa xuân, nhưng đường lối tranh đấu của Lê Đạt đã rõ ràng qua hai bài : Làm thơ và Mới.

Bài Làm thơ nói lên tâm trạng và hoài bão của một nhà thơ trẻ, trước tình thế đất nước :

 

Đêm khuya

Bóng đầu anh

Hằn lên trang sách nhỏ

Như bóng hàng cây

quặn gió

Lắng xuống mặt đường

Giông bão mênh mông

Anh nhìn Tổ quốc

Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút
Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người

Anh nghe tiếng đất trời

Xao động lùm cây ngọn cỏ

Như hiệu thính viên

Đêm không ngủ

Ghi những lời cuộc sống

điện về

Những tiếng nặng nề

Những tiếng cục cằn uất ức
Những tiếng căm thù chua xót
Những tiếng yêu thương

Lê Đạt tự coi mình như một hiệu thính viên lắng nghe tất cả những tiếng đau thương do người đồng loại điện về và thầm kín nói lên tham vọng “Anh nghe tiếng đất trời” của một “lãnh tụ”. Năm 1956, với những câu thơ :

 

Ghi những lời cuộc sống

điện về.

Hoặc :

Óc anh là một công trường

Mỗi dòng thơ là một cây số mới.

 

Hoặc :

Một tiếng súng tương lai

Nổ vào đầu dĩ vãng

 

Lê Đạt đã trở thành người đầu tiên làm thơ hiện đại ở miền Bắc, đã thực sự đưa ra cách suy nghĩ, cách tạo hình và kiến trúc tư tưởng rất mới (Trước đó có Nguyễn Đình Thi, bài Đất nước, nhưng thơ Nguyễn Đình Thi vẫn còn nằm trong không gian lãng mạn).

Lê Đạt còn là người đầu tiên đặt vấn đề nhà văn dấn thân (écrivain engagé), nhà văn không thể làm ngơ trước những khó khăn của dân tộc, của con người và của cuộc sống. Sự dấn thân này, do tự thân Lê Đạt, không do ảnh hưởng của Sartre, vì năm 56, Lê Đạt chưa đọc Sartre và cả sau này ông cũng không mấy chú ý đến tư tưởng của Sartre.

 

Tóm lại, Lê Đạt là người có hoài bão chính trị cho dân tộc ngay từ những bước thơ đầu, khác hẳn với Trần Dần là nhà thơ “nổi loạn” chống lại mọi áp bức bó buộc bản thân, nhưng không có mục đích tranh đấu chính trị cho quốc gia dân tộc.

 

Lê Đạt xác định một lần nữa, bản chất và nhiệm vụ của một nhà thơ dấn thân, phải đi vào cuộc sống, phải tìm cách thay đổi xã hội, xây dựng lại con người :

 

Người làm thơ nắng mưa thiêu đốt

Ăn nằm với cuộc đời

Thai nghén đất trời

Sinh ra sự sống

Năng tâm tư của trăm ngàn quần chúng

Đau xót hơn bao nhiêu

Em ơi !

Anh thức thâu đêm suốt sáng

Moi óc làm thơ

Moi tim làm thơ

Như người thợ

Chui xuống lòng hầm mỏ

Moi than moi lửa

Đốt sáng cuộc đời

Anh muốn Đảng gọi anh đến nơi

Hội ý về cuộc sống

Điều động anh vào Bộ Tâm hồn quần chúng

Giúp Trung ương

Xây dựng

Những con người

Từng từng giọt mồ hôi

Đẫm bản đồ chính sách

Anh mở lối giữa cuộc đời ngóc ngách

Óc anh là một công trường

Mỗi dòng thơ là một cây số mới

Trên con đường đi tới

Xã hội

Ngày mai

Một tiếng súng tương lai

Nổ vào đầu dĩ vãng

Anh vác bút đi theo Đảng

Xông lên hàng đầu

 

Năm 1956, khi chủ trương Giai phẩn mùa xuân, Lê Đạt vẫn còn làm việc ở tuyên huấn, cạnh những cột trụ Trường Chinh, Tố Hữu. Lê Đạt chưa thể tách rời khỏi Đảng. Đoạn kết bài Làm thơ có những câu tỏ ý vẫn tin tưởng vào Đảng, một Đảng sẽ lành mạnh hơn, biết đặt văn nghệ sĩ vào những vị trí xứng đáng để họ có thể nhả tơ xây dựng lại đời sống con người. Đó là một chiến lược của nhà chính trị Lê Đạt, hay là niềm tin tưởng thật của nhà thơ Lê Đạt. Khó biết được.

 

Tố Hữu nhìn thấy những “nguy cơ” trong bài thơ thứ nhì của Lê Đạt, bài Mới, như một lời tố cáo, mạnh mẽ và quyết liệt của lớp đảng viên trẻ, muốn đổi mới văn học, muốn “đập cánh bay lên”, muốn chống lại “bao nhiêu gồng xiềng tập quán / cột lấy bước chân”, muốn chống lại những thành phần kỳ cựu đã sống quá lâu, trở thành những ông bình vôi, khép kín trong công thức, bị xỏ dây vào mũi :

Tôi mới hai mươi lăm tuổi

Chung quanh tôi bao cuộc đời mệt mỏi

Thất bại cúi đầu

Công thức xỏ giây vào mũi

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Ỳ như một chiếc bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại

Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm bại

Khôn ngoan không dám làm người

Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi

Nhà thơ nhìn quanh : một xã hội “công thức giả tạo”, với những ông bình vôi hủ lậu kéo dài cuộc sống và nhìn lại chính mình, còn trẻ, nhưng đã tự đánh mất mình, vì khôn ngoan, nên không dám làm người ! Cuối cùng nhà thơ mạnh dạn đứng lên hô hào đổi mới toàn diện thi ca xã hội và con người :

 

Mới Mới !

Luôn luôn Mới

Bay cho cao

Bay cho xa

Trên những vết già nua cũ kỹ

Trên lề đường han rỉ

Vượt ngày hôm nay

Vượt ngày mai, ngày kia,

Vượt mãi

 

Tố Hữu khó chịu nhất những câu thơ trên đây, có thể coi là bản tuyên ngôn, là lời kêu gọi của Lê Đạt cho một đường hướng sáng tác mới vượt trên lối mòn cũ của các bậc đàn anh Tố Hữu, Xuân Diệu. Thấy sự nghiệp thi ca cách mạng của mình có thể bị chao đảo, sẵn quyền uy trong tay, Tố Hữu đã thẳng tay triệt hạ mầm mống nổi loạn, đòi thay đổi cục diện văn nghệ, đòi “chôn đàn anh” của ngòi bút trẻ Lê Đạt.

 

Giai phẩm mùa xuân là tác phẩm đầu tiên ở miền Bắc chủ trương đổi mới thi ca, tự do sáng tác, với những khuynh hướng khác nhau : thơ tuyên truyền theo đường lối cách mạng của Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Phùng Quán… Thơ nói lên tình hình nghèo khổ thất nghiệp ở Bắc và tố cáo tội ác Mỹ Diệm trong Nam của Trần Dần. Thơ đòi tự do tư tưởng và chửi bọn nịnh thần của Văn Cao. Thơ xây dựng một xã hội mới, một nền thơ mới của Lê Đạt.

 

Bài thơ quyết liệt nhất là của Văn Cao. Nhưng không ai dám đánh Văn Cao. Tất cả mũi dùi đổ vào Trần Dần và Lê Đạt, hai nhà thơ trẻ chưa nổi tiếng. Và chính vì vụ đánh Trần Dần và Lê Đạt mà trí thức tham gia.

Lúc đầu trí thức chưa tham gia, nhưng vì vụ đánh Trần Dần, Lê Đạt mà Phan Khôi trở lại vai “ngự sử văn đàn” với bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ. Bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang đọc trước lớp học 18 ngày và bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi là hai tác phẩm chủ chốt, đã thuyết phục Trương Tửu và những nhà trí thức khác tham gia tích cực, tạo nên một phong trào rộng lớn : Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

 

(Hết phần thứ ba)

usertype:1

--------------------------------------------------------------
kẻ thù truyền kiếp phương Bắc Trung Cộng trước mối họa diệt vong gần kề Tuổi Trẻ VN hãy biểu lộ lòng yêu nước va`quyết định tương lai của chính mình..Lẽ nào chúng ta có thể an phận, mặc cho tập đoàn lãnh đạo Đảng Nhà Nước CSVN Buôn Dân Bán Nước làm nô dịch cho Trung Quốc?Tuổi Trẻ và Toàn dân ta hãy cùng nắm chặt tay nhau tiến bước, đạp đổ bạo quyền CSVN và tự đứng lên phế bỏ chế độ độc tài, đòi quyền tự quyết dân tộc,Hãy nối kết nhau, tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do.Kêu gọi đoàn kết toàn dân giải thể chế độ độc tài phi nhân bán nước, hùng hổ với dân, hèn với giặc.
Tuổi Trẻ Hãy đứng lên xuống đường đấu tranh cho Việt Nam

VIP4_Hi3n
Share to: Facebook Twitter MSN linkedin google yahoo 1# 



Đánh giá:Đại Tá

Điểm số:89846
Từ:5746
Từ: Germany
Đăng ký:05/12/2010
Thời gian dành: 16297 giờ

RE:Nhân Văn Giai Phẩm phần IV : Nguyên nhân đưa đến cuộc cách mạng mùa thu của tư tưởng
(Ngày đăng:19/04/2011 10:11 AM)

Nhân Văn Giai Phẩm phần IV : Nguyên nhân đưa đến cuộc cách mạng mùa thu của tư tưởng

Lâm Thao


Trang nhà www.Vietquoc.org xin giới thiệu đến qúy bạn đọc một loạt bài viết về sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm do Thụy Khuê biên soạn. Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức tại miền Bắc dưới chế độ Cộng sản Việt Nam có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và chính thức bị dập tắt vào tháng 6 năm 1958.

Sau đây xin giới thiệu: Nhân Văn Giai Phẩ Phần IV: Nguyên nhân đưa đến cuộc cách mạng mùa thu của tư tưởng

Nhân Văn Giai Phẩm phần IV :

Nguyên nhân đưa đến cuộc cách mạng mùa thu của tư tưởng

Thụy Khuê

Bìa hai quyển Giai Phẩm mùa thu (1956) (Ảnh ghép : RFI)

Trường Chinh là người soạn thảo bản Đề cương Văn hoá Việt Nam. Đây là văn bản chính thức xác định đường lối văn hoá văn nghệ mác-xít. Văn bản này là đầu mối trách nhiệm tình trạng suy đồi của văn hoá văn nghệ Việt Nam: bắt buộc sáng tác và phê bình phải theo con đường duy nhất là tuyên truyền và phục vụ sự lãnh đạo độc tôn của đảng cộng sản. Triệt hạ những đường hướng tư tưởng khác. Triệt hạ những tài năng có tư tưởng tự do. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chống lại chính sách văn hoá văn nghệ của đảng Cộng sản.

Từ mùa xuân 1956 sang mùa thu 1956

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I gắn bó với Giai phẩm mùa xuân và giai đoạn II gồm toàn bộ những tờ báo phát hành từ tháng 8/1956 đến tháng 12/56.

Giai đoạn I có thể tóm tắt như sau:

Giai phẩm mùa xuân ra đời cuối tháng 1/1956. Hơn một tuần sau, nhiều sự kiện quan trọng liên tiếp xẩy ra:

- 28 Tết Nguyên đán: Tố Hữu sai người tìm gọi Lê Đạt lên Tuyên huấn.

- 4 Tết: Trần Dần và Tử Phác bị bắt tại Yên Viên, nơi đang học tập cải cách ruộng đất.

- 5 Tết: Lê Đạt ăn Tết xong mới lên trình diện Tố Hữu. Bị giữ lại kiểm thảo 15 ngày.

- Trần Dần, sau ba ngày bị giam dưới một căn hầm, dùng dao cạo cứa cổ, được đưa đến bệnh viện. Tại đây, ngày 21/2/56 Trần Dần viết một lá thư dài cho đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Tướng Thanh can thiệp, Trần Dần, Tử Phác được tha ngày 5/5/56.

Trong tháng 2/56, một “hội nghị lớn” luận tội Trần Dần (vắng mặt) được tổ chức. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu ngày 7/3/1956 với bài viết của Hoài Thanh trên báo Văn Nghệ số 110.

Giai đoạn II bắt nguồn từ những biến cố lớn trong các nước cộng sản và trong nội bộ của đảng cộng sản Việt Nam:

Ngày 24/2/1956, tại đại hội XX của đảng Cộng sản Liên xô: Khrouchtchev đọc bản tường trình mật về tội ác của Staline. Ngày 26/5/1956, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng“. Ngày 28/6/1956, Ba Lan nổi dậy.

Những biến cố trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình Việt Nam: Theo đường lối của Liên Xô và Trung quốc, Đảng Lao Động mở rộng chính sách học tập tự do dân chủ.

Một mặt khác, trong nội bộ Đảng cũng đang có những bất ổn chính trị:

Trong hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (họp từ ngày 25/8/56 đến 24/9/56), Trường Chinh bị “nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm” trong công tác Cải cách ruộng đất, phải tự kiểm thảo và xin từ chức. Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương, bị loại ra khỏi Bộ Chính trị, Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hồ Chí Minh kiêm nhiệm hai chức Chủ Tịch Đảng và Tổng Bí thư từ (9/1956 đến 9/1960). Sau đó là thời kỳ Lê Duẩn làm Tổng Bí thư (9/1960 đến 7/1986), xẩy ra vụ Xét Lại Chống Đảng.

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm xẩy ra dưới thời Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư.

Vậy ai là người trách nhiệm chính?

Ai trách nhiệm vụ Nhân văn giai phẩm?

Nguyễn Hữu Đang, ảnh chụp thời trẻ (Ảnh : DR)

Trả lời câu hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh có trách nhiệm như thế nào về vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang tuyên bố: “Cái việc mà người ta cứ nói là việc nọ việc kia là người dưới làm chứ cụ Hồ không biết, cụ Hồ không thực tiễn làm, đó là một cách nói không đúng sự thật. Người ta thấy việc gì mà có dư luận kêu ca, thắc mắc thì không muốn để cái kêu ca thắc mắc đó hướng vào vị lãnh tụ mà người ta suy tôn tuyệt đối. Có thể nói là người ta thần thánh hóa cụ Hồ. Vì cái lý do nó là như thế. Thực chất thì cụ Hồ không phải là người bị vô hiệu hóa trong bộ máy lãnh đạo của đảng và của dân tộc. Cụ Hồ lúc nào cũng là người có đầy đủ quyền hành, lúc nào cụ cũng sáng suốt, linh lợi, lúc nào cụ cũng có uy tín với dân và cũng có quyền đối với các đồng chí trong đảng, đối với những người lãnh đạo khác. Chắc bà cũng biết rằng những vị lãnh đạo khác của đảng, đối với cụ Hồ là học trò chứ không phải như ở các đảng Cộng sản khác đâu. Cho nên uy tín của cụ Hồ, quyền hành của cụ Hồ bao giờ cũng rất vững, cụ Hồ biết hết cả, và việc đó cụ Hồ cũng đồng tình làm.

Có thể nói tóm một câu là cho đến mấy năm sau cùng, vì cụ yếu cụ ít chăm nom công việc, cụ khoán cho Bộ chính trị, cụ ít can thiệp trực tiếp, chứ còn trước đó thì bất cứ việc gì cũng là trong phạm vi chỉ đạo của cụ cả. Hay cũng ở cụ, dở cũng ở cụ. Cụ phải gánh trách nhiệm đó, điều đó rõ ràng.

Có khi nào một lãnh tụ tối cao đối với dân tộc, lãnh tụ tối cao của Đảng mà lại không có trách nhiệm về việc nọ, việc kia. Điều đó không đúng. Chế độ gọi là “báo cáo thỉnh thị” rất chặt chẽ trong nội bộ đảng Cộng sản và trong bộ máy chuyên chính của nhà nước cũng thế, nghiêm ngặt lắm”.(Nguyễn Hữu Đang, trả lời phỏng vấn RFI, ngày 3/9/1995).

Nhận định trên đây của Nguyễn Hữu Đang phù hợp với một số nhận định khác về vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh trong đời sống văn hóa văn nghệ:

Hà Xuân Trường nói về vai trò của Đảng trong “Mặt trận văn hoá văn nghệ”:“Tôi muốn trở lại ý cơ bản này: buổi đầu cách mạng và kháng chiến, tờ báo Đảng đã có sự quan tâm thích đáng đến mặt trận văn hoá – văn nghệ. (…) Sự đầu tư công sức và tâm huyết của Đảng vào mặt trận này là đáng kể: từ Bác, đến các anh Trường Chinh, Tố Hữu. Cần nhắc thêm vai trò của Bác và các ý kiến của Bác căn dặn giới báo chí và văn hoá – văn nghệ ngay từ buổi đầu này. Bác thường gửi bài cho báo Đảng, trên Sự Thật lúc ấy, cũng như trên tờ Nhân Dân sau này [Nhân Dân, tiếp tục tờ Sự Thật, ra số 1, ngày 11/3/1951] dưới các bút danh ta đã quen thuộc: C.B, X.Y.Z, A.G (chúng tôi thường gọi Anh Già)… Điều đặc biệt là Bác viết rất ngắn và mỗi lần gửi bài cho báo, Bác thường viết luôn một loạt có đánh số thứ tự. Bác dặn anh em chúng tôi là đánh số như thế để cho bạn đọc và cả Bác dễ nhớ, bao giờ gần hết bài thì Bác chỉ cần xem trên báo là Bác biết để Bác kịp viết tiếp, “các chú không cần phải nhắc”. (Hà Xuân Trường, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập II, nxb Tác Phẩm Mới, 1987, trang 44-45).

Và ông xác định vị trí và trách nhiệm của từng người trong cấp lãnh đạo:“Công tác văn hoá – văn nghệ lúc bấy giờ nằm trong sự chỉ đạo của Tiểu ban tuyên truyền do anh Trường Chinh đứng đầu. Anh Tố Hữu lúc này được Trung Ương giao trực tiếp tổ chức, chỉ đạo công tác văn nghệ. Tôi là người của Tiểu ban tuyên truyền, làm tờ Sự Thật, do vậy mà có trách nhiệm liên lạc giữa Trung ương và bộ phận văn hoá – văn nghệ, giữa anh Trường Chinh và anh Tố Hữu. Trách nhiệm chính là làm sao giúp Trung ương nắm tình hình văn nghệ, và từ góc độ báo Đảng, mà góp phần gợi giúp cho người văn nghệ mạnh dạn đi vào quần chúng, dần dần nắm hiểu đời sống, tham gia công tác cách mạng, và khắc phục từng bước các ảnh hưởng của cách nhìn và thói quen cảm xúc tiểu tư sản…” (Hà Xuân Trường, bđd, trang 41)

“Anh [tức Trường Chinh] còn cho biết thêm là bản báo cáo [Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam] tuy là do anh trực tiếp soạn thảo, nhưng đã được ban thường vụ Trung ương thông qua và Bác đã xem và góp ý kiến”(Hà Xuân Trường, bđd, trang 42).

Hoàng Trung Thông cho biết: “Sau này tôi mới biết cuốn truyện về chiến sĩ thi đua đầu tiên là do Bác Hồ viết để làm mẫu cho những người khác viết theo” (Hoàng Trung Thông, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, Tập I, nxb Tác Phẩm Mới, 1985, trang 191).

Bìa quyển Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học (1985)

Tháng Giêng năm 1956, Giai Phẩm Mùa Xuân vừa ló dạng thể hiện tự do sáng tác, đã bị dập tắt ngay. Vậy có thể hiểu là Trường Chinh đã giao cho Tố Hữu, người có tư thù với Hoàng Cầm, Trần Dần và Lê Đạt trong việc phê bình tập thơ Việt Bắc, xử lý vụGiai phẩm mùa xuân theo chỉ thị của Hồ Chí Minh.

Trong tháng 8 và 9 năm 1956, có hai sự kiện trùng hợp đáng kể:

Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm phát triển trở lại.

Quyết định cho phép Hội văn nghệ tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày, theo đường lối Liên Xô, trong tháng 8/1956, đến từ ai, nếu không phải là Hồ Chí Minh?

Lớp học này do Nguyễn Hữu Đang phụ trách. Vai trò của Nguyễn Hữu Đang sẽ nổi bật trong lớp học này. Bài tham luận ông đọc ngày 26/8/56 tổng kết lớp học sẽ là cái mốc quan trọng đẩy mạnh tiến trình đòi hỏi tự do dân chủ, việc thành lập báo Nhân Văn và tục bản tờ Giai Phẩm, tạo nên cuộc Cách mạng mùa thu của tư tưởng.

Tháng 10/56 Hungary nổi dậy. Tháng 11/56 xe tăng Xô Viết tiến vào Budapest.

Ngày 9/12/1956 Hồ Chí Minh ký sắc lệnh báo chí. Đóng cửa Nhân Văn.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt lần thứ nhì, tháng12/56.

Tháng 2/57 trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp từ 20 đến 28/2 tại Hà Nội, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát âm mưu phản động” của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.

Cuối năm 57: Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Huy Cận và Hà Xuân Trường được cử đi học tập chính sách của Trung Quốc. Khi họ trở về, tháng 2/58 việc thanh trừng Nhân Văn Giai Phẩm được tổ chức quy mô và toàn diện trong hai lớp đấu tranh Thái Hà.

Lần này nữa, trách nhiệm hẳn cũng đến từ từng cao nhất của cấp lãnh đạo: Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Khảo sát bị kịch Nhân Văn, chúng ta thấy rõ sự đối lập giữa hai nhân vật: Nguyễn Hữu Đang và Trường Chinh, cả hai đều được Hồ Chí Minh tin dùng.

Trường Chinh là Tổng bí thư đảng Cộng sản, còn Nguyễn Hữu Đang là ai?

Tại sao ông lại được Hồ Chí Minh giao cho trách nhiệm tổ chức ngày lễ độc lập 2/9/45. Vì bất đồng ý kiến với Trường Chinh, năm 1948, ông đã bỏ đảng. Nhưng sau khi hoà bình lập lại, năm 1954, ông lại được gọi về làm việc và đến tháng 8/56, ông được phép đứng ra tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chống lại toàn bộ chính sách văn hoá văn nghệ của đảng Cộng sản. Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu chính sách văn hoá văn nghệ ấy như thế nào?

Nói đến đường lối văn hoá văn nghệ của đảng Cộng sản là phải nói đến Trường Chinh, vì chính Trường Chinh (chứ không phải Hồ Chí Minh) đã viết bản đề cương văn hoá văn nghệ và cũng chính Trường Chinh trực tiếp lãnh đạo văn hoá văn nghệ.

Trường Chinh

Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1907-1988) là nhà chính trị, nhưng trước tiên, ông là nhà báo, viết văn và làm thơ (bút hiệu Sóng Hồng). 1927, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (tiền thân của đảng cộng sản). 1940 là chủ bút báo Cờ Giải phóng, cơ quan của xứ ủy Bắc Kỳ. Sau đó làm chủ bút tờ Sự thật, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản. Từ tháng 5/1941 đến tháng 9/ 1956, làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam [đảng này thành lập tháng 2/1930. Từ tháng 9/1930 đến tháng 11/1945, lấy tên là Đảng Cộng sản Đông dương (theo chỉ thị của quốc tế cộng sản). Tháng 11/1945 Đảng "tự giải thể", rút vào bí mật. 1951, Đảng công khai trở lại với tên Lao Động và đến năm 1976, mới chính thức lấy tên là đảng Cộng sản VN]

Hà Xuân Trường kể lại: “Đảng lúc bấy giờ, sau khi tuyên bố “tự giải tán”, để chuyển thành Hội nghiên cứu chủ nghiã Mác ở Đông Dương (ngày 11/11/1945). Anh Trường Chinh lúc bấy giờ là Tổng bí thư Đảng, Trưởng tiểu ban tuyên truyền của Trung ương, kiêm chủ bút (tức Tổng biên tập) tờ Sự thật” (số 1, ra ngày 5/12/1945 ở Hà Nội) (Hà Xuân Trường, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập II, trang 31).

Đảng trải qua hai biến cố quan trọng: ngày 2/9/1945: Tuyên ngôn độc lập. Hơn hai tháng sau, ngày 11/11/1945, Đảng tuyên bố “tự giải tán”, đổi tên thành Hội nghiên cứu chủ nghiã Mác ở Đông Dương. Đó là chiến thuật chính trị của Hồ Chí Minh: Chính phủ lâm thời tạm giấu cái gốc quốc tế cộng sản, lấy danh nghĩa Mặt trận Việt Minh để tập hợp mọi thành phần dân tộc cả quốc gia lẫn cộng sản trong công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyễn Hữu Đang cho biết: “Vai trò của Hồ chủ tịch rất quan trọng. Cụ có thành lập Mặt trận Việt Minh thì mới có Cách mạng tháng Tám. Nếu đảng Cộng sản đứng ra vận động cuộc Cách mạng tháng Tám, tôi tin là không được kết quả như là Mặt trận Việt Minh, đó là một mặt trận gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp tham gia cho nên phát triển mạnh, được nhân dân ta hưởng ứng hơn chứ còn nếu đảng Cộng sản đứng ra thì vẫn bị hạn chế đấy”. “Đảng Cộng sản lúc bấy giờ có 5000 người chứ ăn thua gì đâu”.(Nguyễn Hữu Đang, trả lời phỏng vấn RFI)

Về mặt thực tế, đảng cộng sản vẫn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trường Chinh là người thảo đề cương, vạch rõ đường lối văn hoá và văn nghệ Mác-xít của đảng cộng sản Việt nam qua hai văn bản quan trọng: “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) và Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam đọc tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhì, ở Việt Bắc, ngày 19/7/1948.

Tầm quan trọng và ảnh hưởng của hai văn bản này trong đời sống văn hoá văn nghệ Việt Nam dưới chế độ cộng sản, được Hà Xuân Trường so sánh với lập thuyết của Mao: “Chúng ta chỉ cần nghiên cứu Đề cương văn hoá Việt nam năm 1943, báo cáo Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt nam năm 1948 của đồng chí Trường Chinh, và so sánh những văn kiện đó với phần “Văn hóa dân chủ mới” và “Tọa đàm văn nghệ ở Diên an” của Mao Trạch Đông thì rõ ràng khác nhau lắm, khác từ gốc, khác từ mục tiêu đến phương pháp nhận thức”. (Hà Xuân Trường, bđd, trang 46).

Như vậy, Trường Chinh là người được Hồ Chí Minh giao cho trọng trách khai thảo đường lối văn học mác-xít của đảng cộng sản Việt nam. Trường Chinh chính là người khai sinh và chỉ đạo chính sách văn hoá văn nghệ kháng chiến. Tố Hữu, trách nhiệm phần lãnh đạo văn nghệ:

“Công tác văn hoá – văn nghệ lúc bấy giờ nằm trong sự chỉ đạo của Tiểu ban tuyên truyền do anh Trường Chinh đứng đầu. Anh Tố Hữu lúc này được Trung Ương giao trực tiếp tổ chức, chỉ đạo công tác văn nghệ” (Hà Xuân Trường, bđd, trang 41)

Vai trò của Trường Chinh trong giai đoạn đầu cách mạng được xác định như sau: “1943, ông đã chỉ đạo việc thành lập hội văn hoá cứu quốc-tổ chức văn nghệ cách mạng đầu tiên ở Việt nam, và là người soạn thảo “Đề cương văn hoá Việt nam” (Nguyễn Hoành Khung, Từ điển Văn Học).

Bản Đề cương văn hoá Việt nam

Phần đầu bản Đề cương Văn hóa in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên Phong 1945-1946 của Lại Nguyên Ân (1996)

Bản Đề Cương Văn Hoá Việt nam có 5 phần chính:

1- Cách đặt vấn đề.

2- Phân đoạn văn hoá VN.

3- Những nguy cơ văn hoá dưới ách phát- xít Nhật Pháp.

4- Xác định văn hoá cách mạng VN.

5- Nhiệm vụ của các nhà văn hoá mác-xít VN.

[in trong Tiên Phong số 1, ra ngày 10/11/45, và in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên Phong 1945-1946 của Lại Nguyên Ân, nxb Hội Nhà Văn, 1996]

Phần đầu, Trường Chinh giới hạn lãnh vực của văn hoá: “Văn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật”. Và xác định sự lãnh đạo của đảng: “đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hoá tiên phong” .

Phần hai, phân chia văn hoá VN làm ba giai đoạn: từ Quang Trung trở về trước “phong kiến”, “nô lệ”, “phụ thuộc vào văn hoá Tàu”; từ Quang Trung đến thời Pháp thuộc “phong kiến, tiểu tư sản”; từ Pháp thuộc đến1943:“phong kiến, tư bản, thuộc địa”

Phần ba, tác giả vạch rõ “những thủ đoạn phát-xít trói buộc văn hoá và giết chết văn hoá Việt nam”.

Phần bốn, ông đặt hai tiêu đề chính:

- “Cách mạng văn hoá muốn hoàn thành phải do đảng C.S.Đ.D. lãnh đạo”,

- Và “Nền văn hoá mà cuộc cách mạng văn hoá Đông Dương phải thực hiện sẽ là văn hoá xã hội chủ nghiã”.

Và phần năm, xác định “nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hoá mác xít Đ.D và nhất là những nhà văn hoá mác xít V.N”, qua hai công việc chính phải làm:

a/ Tranh đấu về học thuật tư tưởng (đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, Á có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: triết học Khổng, Mạnh, Đê-các-tơ (Descartes), Béc-son (Bergson), Căng (Kant), Nít-sờ (Nietzsche), v.v…; làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng.

b/ tranh đấu về tông phái văn nghệ (chống chủ nghiã cổ điển, chủ nghiã lãng mạn, chủ nghiã tự nhiên, chủ nghiã tượng trưng v.v… làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghiã thắng).

Đây là văn bản chính thức của đảng cộng sản, xác định đường lối văn hoá văn nghệ mác-xít. Văn bản này là đầu mối trách nhiệm tình trạng suy đồi của văn hoá văn nghệ Việt nam: bắt buộc sáng tác và phê bình phải theo con đường duy nhất là tuyên truyền và phục vụ sự lãnh đạo độc tôn của đảng cộng sản. Triệt hạ những đường hướng tư tưởng khác. Triệt hạ những tài năng có tư tưởng tự do.

Nguyễn Hữu Đang

Nguyễn Hữu Đang, ảnh chụp tháng 09/1997 (Ảnh : DR)

Qua hoạt động chính trị và ngòi bút, Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) được xác định như một nhà chính trị và văn hoá: Theo cách mạng từ những buổi đầu, có óc tổ chức và tài hùng biện, Nguyễn Hữu Đang được coi là “cánh tay phải” của Hồ Chí Minh.

Năm 1929, Nguyễn Hữu Đang gia nhập Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hoạt động đắc lực trong Hội truyền bá quốc ngữ từ năm 1938. Từ 1937 đến 39, làm báo cùng với Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) và Trần Huy Liệu. 1943: Tham gia đảng Cộng sản Đông dương, liên lạc mật thiết với Trường Chinh (Tổng bí thư) và thành ủy Hà Nội, nhưng chưa được kết nạp. 1943-46: Cùng Trường Chinh sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hóa cứu quốc. Tổ chức ngày tuyên ngôn độc lập 2/9/1945. Tham gia Chính phủ lâm thời, làm thứ trưởng Bộ truyên truyền, rồi Bộ thanh niên, Chủ tịch uỷ ban vận động mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội, “Khai mạc Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ nhất vào chiều 24/11/1946 có Bác Hồ đến nói chuyện” (Hà Xuân Trường, bđd, trang 40).

Vị trí và uy tín của Nguyễn Hữu Đang, được Nguyễn Huy Tưởng ghi lại trong nhật ký như sau:

“Anh Nguyễn Hữu Đang xuống làm việc cho Truyền bá quốc ngữ từ hơn hai tháng nay. Anh xin nghỉ ở sở Tài chính [Hà nội] xuống đây làm việc nghĩa. Đức hi sinh của anh thực không thể nào tả được. Nhờ anh mà phong trào quốc ngữ ở Hải phòng chết đi nay sống lại. Anh như một ông tướng khuyến khích được cả một đạo quân chiến bại”. (Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng ngày 16/6/1942).

“Chuyện Tham Ý phục các cán bộ Việt Minh. (…) Phục Đang. Hỏi thầm một người: Có phải là cánh tay phải của Cụ Hồ không? Băn khoăn không biết bây giờ Đang về khu này thì phải vào chức gì cho xứng? Theo ý anh tham biện ấy, thì ở đây không có một chức gì cao hơn để Đang làm cả, vì Đang trên cả ủy ban kháng chiến”. (Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, ngày 15/11/1947)

Năm 1947, Nguyễn Hữu Đang mới được chính thức kết nạp vào Đảng.

Năm 1948, ông rời mọi sinh hoạt của Đảng, lui về Thanh hoá.

Từ vị trí được coi là “cánh tay phải của cụ Hồ”, “trên cả ủy ban kháng chiến”, tại sao năm 1948, Nguyễn Hữu Đang rút lui về Thanh hoá?

Sự chia tay với cách mạng xẩy ra trong Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ hai (khai mạc ngày 15/7/48 ở Việt Bắc). Trong hội nghị này Trường Chinh đọc bản báo cáo nổi tiếng Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt nam.

Hoàng Cầm kể về đại hội này:Vào khoảng tháng 7 năm 48, có Đại hội văn hóa toàn quốc do ông Trường Chinh đề xướng và làm chủ tịch. Hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức để động viên và hướng dẫn trí thức và văn nghệ sĩ chuẩn bị đi sâu vào cuộc kháng chiến. (…) Tức là lúc bấy giờ hội nghị mới đề ra Văn nghệ kháng chiến. (…) Tôi cũng được mời, nhưng không đi dự vì bị ốm, trong hội nghị có mặt anh Nguyễn Hữu Đang.Sau hội nghị đó, không hiểu vì lý do gì thì anh Đang không làm công tác kháng chiến nữa, anh về Thanh hóa, ở nhà người bạn là anh Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà xuất bản Minh Đức(…) Anh Đang không làm công việc gì của nhà nước cả, tôi cũng không hiểu rõ nguyên nhân. Mãi sau này, hòa bình rồi, về Hà nội tôi cũng chỉ nghe phong phanh anh em bàn tán thôi chứ hỏi anh Đang thì anh ấy cũng không nói, là hình như trong Hội nghị văn hóa toàn quốc, anh Đang có mâu thuẫn về đường lối văn nghệ, văn hóa với ông Trường Chinh. Do mâu thuẫn không giải quyết được, cho nên anh Đang không làm việc nữa, anh nghỉ. Anh về Thanh hóa”. (Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI)

[Xin nhắc lại: tháng 7/48 có hai đại hội: Đại hội Văn hoá toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc, khai mạc ngày 15/8/48, do Trường Chinh chủ trì và đọc bản bán cáo Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt nam, Nguyễn Hữu Đang có tham dự. Hội nghị Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất, cũng họp tại Việt Bắc, từ 23 đến 25/7/48, chính thức thành lập Hội Văn Nghệ Việt nam, Nguyễn Hữu Đang không tham dự].

Nguyễn Hữu Đang, vì không đồng ý với Trường Chinh trong Hội nghị Văn hoá toàn quốc, nên đã bỏ về Thanh hoá, không tham dự đời sống văn hoá chính trị nữa.

Mà không đồng ý thì chắc chắn là về bản báo cáo của Trường Chinh.

Vậy bản báo cáo mà Trường Chinh đọc tại hội nghị này nội dung ra sao?

Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt nam

Bản báo cáo Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt nam được nhà xuất bản Sự Thật in thành sách (Chúng tôi không có văn bản này). Nhưng Phần VII, được in trên báo Văn Nghệ số 6 tháng 11/48, dưới tiêu đề “Mấy vấn đề thắc mắc trong văn học nghệ thuật” và sau này in lại trong cuốn Cách Mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập II, đổi tên thành “Mấy vấn đề cụ thể trong văn học và nghệ thuật”.

Bài “Mấy vấn đề thắc mắc trong văn học nghệ thuật” đặt trọng tâm trả lời những thắc mắc của người làm văn học nghệ thuật, trên một số điểm:

1- Xác định nghệ thuật và tuyên truyền:

“Nghệ thuật phục vụ cho mục đích chính nghĩa là nghệ thuật hợp chân lý. Nghệ thuật phục vụ cho mục đích phi nghĩa là nghệ thuật phản chân lý”.

“Tuyên truyền của phe xâm lược, phản động là tuyên truyền phản chân lý. Tuyên truyền của phe cách mạng là tuyên truyền chân thật, phù hợp với chân lý rõ ràng”.

2- Khẳng định khuynh hướng sáng tác: Hiện thực xã hội chủ nghĩa.

3- Chỉ ra đường lối “phê bình đúng nguyên tắc”, “chú trọng đả kích tư tưởng, văn học, nghệ thuật phản động của địch”.

4- Cho rằng “Quần chúng là nhà phê bình nghệ thuật sành hơn ai hết, chính vì quần chúng gồm nhiều tai, mắt, óc khôn và có cảm giác chung đấu lại. Không một nhà phê bình nào sánh được với quần chúng về mặt đó”.

5- Chỉ ra 4 điều cho nhà văn noi theo để “làm sao cho sáng tác văn nghệ được tốt”.

6- Xác định: “Đối tượng sáng tác văn nghệ của ta là nhân dân”. “Sáng tác văn nghệ có cả một nguồn cổ vũ mạnh mẽ là phong trào thi đua”.

Tóm lại, Trường Chinh đã vạch sẵn con đường văn học nghệ thuật xã hội chủ nghiã.

Con đường này, gồm những yếu tố chính: Văn nghệ phục vụ cách mạng. Văn nghệ tuyên truyền. Văn nghệ thi đua. Hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đả kích tư tưởng phản động của địch. Sáng tác cho nhân dân. Nhân dân làm chủ phê bình.

Đường lối văn nghệ tuyên truyền cách mạng này đã tạo ra nhiều lớp người viết với những sáng tác mà nhạc sĩ Tô Hải, trong cuốn Hồi ký củamột thằng hèn (Tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia, Hoa Kỳ, 2009) đã gọi là thời kỳ “bồi bút, bồi nhạc”. Cao điểm là cuốn Bọn Nhân văn giai phẩm trước toà án dư luận mà chúng ta đã biết. Và ảnh hưởng của nó còn kéo dài tới ngày nay.

Là người làm văn hoá, Nguyễn Hữu Đang bỏ đi từ năm 1948 là phải.

Sự rời đảng của Nguyễn Hữu Đang không chỉ vì bất đồng ý kiến về văn hoá mà còn cả những bất đồng về chính trị nữa.

Nhưng trong kháng chiến không chỉ có một Nguyễn Hữu Đang chống lại đường lối văn hoá văn nghệ của đảng Cộng sản, mà còn có những tiếng nói khác, như Nguyễn Mạnh Tường:

Hoàng Trung Thông kể: “Năm 1949, Đại hội văn nghệ Khu Bốn được tổ chức và Chi hội văn nghệ Liên khu Bốn được thành lập (…)

“Cuộc tranh đấu tư tưởng duy nhất ở Liên Khu Bốn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là cuộc đấu tranh với một số quan điểm của Nguyễn Mạnh Tường. Trong một cuộc nói chuyện Nguyễn Mạnh Tường cho rằng văn nghệ ta như một cái chuồng nhốt các văn nghệ sĩ trong đó”. (Hoàng Trung Thông, bđd, trang 181)

Như Trương Tửu:

“Đồng chí Nguyễn Chí Thanh – bấy giờ là bí thư Đảng bộ Liên Khu Bốn, đã có ý kiến về những luận điểm tơ-rốt-kít của Trương Tửu trong buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương. Trong cuộc đấu tranh chính trị năm 1952, Trương Tửu bị đưa ra phê phán gay gắt.” (Hoàng Trung Thông, bđd, trang 187).

Như Tô Ngọc Vân:

“Anh Tô Ngọc Vân tỏ ý không đồng tình về sự phân tích của đồng chí Trường Chinh về chủ nghiã “quy-bít”. Nhưng anh Trường Chinh không trực tiếp trả lời, và tờ Sự thật không lên tiếng, để tránh gây các mặc cảm không cần thiết đối với anh chị em văn nghệ đang đến với Đảng, và tự giác chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết của tôi thảo luận với anh Tô Ngọc Vân, ký tên Lê Trọng Lâm, lại đăng trên tạp chí Văn nghệ” (Hà Xuân Trường, bđd, trang 42-43).

Thái độ của Trường Chinh đối với những người chống đối rất khôn khéo: ông không ra mặt trả lời và khuyên cấp dưới “cần phải đấu tranh tư tưởng nhưng đừng nặng lời quá; vì lúc bấy giờ chúng ta đang cần phải đoàn kết để kháng chiến chống Pháp, mặc dầu đoàn kết không có nghiã là thủ tiêu đấu tranh” (Hà Xuân Trường, bđd, trang 42-43).

Tóm lại, đã có những người làm văn hoá văn nghệ bắt đầu thắc mắc về đường lối văn hoá văn nghệ của đảng Cộng sản ngay trong kháng chiến. Những thắc mắc này càng lớn mạnh khi hòa bình lập lại sau 1954, kết hợp thành sự phản kháng toàn bộ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

Sự trở lại của Nguyễn Hữu Đang

Nguyễn Hữu Đang, vì bất đồng ý kiến với Trường Chinh, bỏ về Thanh hoá, cộng tác với nhà xuất bản Minh Đức từ 1948.

Nhưng tại sao năm 1954, ông trở lại hoạt động? Việc gọi ông trở lại có thể từ lệnh của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hoàng Cầm kể: “Đến khi hòa bình lập lại, năm 1954, tôi cũng chỉ được nghe kể lại chứ không được chứng kiến, là như sau: Ông Trường Chinh có hỏi ông Tố Hữu: Anh Đang anh ấy đã không làm việc gì từ lâu rồi, từ mấy năm nay, thì bây giờ hòa bình thắng lợi rồi, ta phải mời anh ấy ra làm việc chứ. Thế là anh Tố Hữu cũng nghe theo và mời anh Đang ở Thanh hóa ra” (Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI).

Theo hồi ký Nguyễn Huy Tưởng, chính ông là người được cử vào Thanh hoá mời Nguyễn Hữu Đang. Và theo Hoàng Cầm: Khi Nguyễn Hữu Đang ra đến Hà nội, Tố Hữu đề nghị chức Giám đốc sở Văn hóa Thông tin Hà nội, nhưng Nguyễn Hữu Đang từ chối, ngỏ ý muốn làm báo Văn Nghệ, Tố Hữu đành phải bằng lòng.

Những thắc mắc

Hoàng Cầm kể:”Anh Đang về báo Văn Nghệ, nhưng anh Đang là người đặc biệt có tài tổ chức: trong kháng chiến anh ấy đã tổ chức thanh niên xung phong, tổ chức mặt trận bình dân học vụ, sau đó lại là tổ chức hội nghị văn hóa toàn quốc. (…) Vì anh ấy có tài tổ chức cho nên anh ấy tổ chức ngay hai cuộc phê bình trong văn học:

Thứ nhất là cuộc phê bình tác phẩm Vượt Côn Đảo của Phùng Quán (…) Và tổ chức một lớp học tập chính trị, đầu đề tài liệu học tập là “Những tài liệu của Mác, Lê-nin, Staline nói về vấn đề văn nghệ”. (Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI).

Về không khí của lớp học này, Hoàng Cầm nhớ lại:

“Đầu đề tài liệu học tập là “Những tài liệu của Mác, Lê-nin, Staline nói về vấn đề văn nghệ”. Buổi sáng học, buổi chiều làm việc cơ quan. Tôi nhớ học 18 ngày. Nhưng từ hôm mở lớp đến độ ngày thứ năm thì có cái mục gọi là liên hệ thực tế. Tất cả các văn nghệ sĩ ở các tỉnh hoặc đi tập kết về Hà nội, thì họ đều nêu lên những thắc mắc, mà phải nói là những thắc mắc ghê gớm về vấn đề văn nghệ và lãnh đạo văn nghệ. Nó gần như là một cuộc tố khổ: các văn nghệ sĩ đều nói ra những thắc mắc về việc lãnh đạo địa phương, cả lãnh đạo trung ương nữa, đối với văn nghệ (…) Toàn là những thắc mắc mà anh em lôi ra từ thực tế trong kháng chiến và thực tế trong hòa bình lập lại” (Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI).

Georges Boudarel, đặt trọng tâm trên hai chữ thắc mắc này, theo ông đây là một thứ mây mù của ý thức, một kỷ xảo nói mà như không nói, một nghệ thuật không gọi sự vật theo tên của nó.

Hai chữ thắc mắc không thể dịch sang tiếng Pháp, Boudarel cho là trung tâm của vấn đề: Trong một nước mà cuộc đấu tranh chống thực dân, giành độc lập, bảo vệ truyền thống dân tộc, được phất lên dưới ngọn cờ của chủ nghiã Mác-Lê-Mao, như một nghịch lý, thì thắc mắc là đứa con lai lạ lùng, sinh ra từ cuộc tình vừa nóng bỏng vừa tương phản vừa không thể thú nhận được giữa quốc tế vô sản và lòng ái quốc cực đoan.

Chủ nghiã cộng sản mà người ta du nhập vào đã thủ tiêu nhanh chóng mọi hình thức tự do phát biểu của xã hội dân sự kể cả những người ủng hộ nhiệt thành. Năm 1950, chủ nghiã Mao ào ạt tràn vào, với những đợt chỉnh huấn, phát hiện, tố giác, kiểm thảo, tự kiểm thảo… mang lại những hậu quả tai hại.

Nếu năm 1946, hầu hết mọi thành phần dân tộc đều đi theo kháng chiến chống Pháp, thì tới 1950, nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong đó có Phạm Duy, Vũ Hoàng Chương, hoặc sẽ nổi tiếng sau này như Doãn Quốc Sỹ… đã không thể chịu được, phải quay “về thành”.

Sự phản kháng của họ mang tính chất bi đát, bởi phải chọn lựa giữa hai con đường: hoặc tiếp tục chống thực dân Pháp thì phải theo chủ nghiã cộng sản Mao; hoặc chống cộng sản Mao thì phải vào vùng Pháp đóng. Bị xâu xé giữa, một bên là lòng yêu nước thúc đẩy họ phải chấp nhận tất cả để chiếm lại tổ quốc đã mất và một bên là cái vốn văn hoá Tây phương thúc đẩy họ đòi hỏi một thứ tự do không thể nào có được với đảng Cộng sản. Người trí thức, những năm tháng ấy, vừa như sống một bản hùng ca, lại vừa chịu một bi kịch gậm nhấm từ bên trong.

Đại đa số thành phần dân tộc, trong đó có người trí thức, tìm cách hoà mình với đời sống mới, từ đó nẩy sinh những thắc mắc: Nền dân chủ cộng hoà, do Hồ Chí Minh tạo dựng, có mang lại độc lập thật sự cho nước Việt không? Những người mang thắc mắc trong lòng muốn tin vào lãnh đạo của họ nhưng trong thâm tâm vẫn không thể nào tin được. Chỉ biết  mình có những thắc mắc không thể nói ra. Cái hình thức đối lập bị dồn nén, sự phản kháng bị chôn vùi, chỉ được nói thầm, nói một nửa, đọc giữa hai hàng chữ, đoán ngầm những ngụ ý… trở thành một phần của đời sống Việt nam dưới chế độ cộng sản. Và những vấn đề mở ra từ năm 1956, với Nhân Văn Giai Phẩm, vẫn còn đúng với hôm nay. (Theo phân tích của Boudarel, trong cuốn THĐNTĐVN, từ trang 9 đến 20).

Những thắc mắc ấy tạm ngủ yên trong thời chiến, nhưng bừng lên khi hoà bình lập lại.

Và trong lớp học 18 ngày, Nguyễn Hữu Đang là người đã thấy rõ tình thế, mạnh bạo đứng lên, đặt với lãnh đạo những câu hỏi cần thiết.

Lớp học 18 ngày

Về lớp học này, Người Quan Sát tường thuật trên Nhân Văn số 1 (20/9/56), như sau:

“Trong tháng Tám vừa qua, Hội Văn nghệ đã tổ chức tại thủ đô một đợt học tập mười tám ngày nhằm mục đích nâng cao trình độ lý luận văn nghệ của anh chị em công tác trong ngành. [...] Ý định của Thường vụ Hội là như vậy, nhưng trên ba trăm người tham gia học tập đã dần dần từ thảo luận nguyên tắc sáng tác chuyển sang kiểm điểm phong trào, đem lý luận đối chiếu với thực tế, liên hệ bản thân cũng có, nhưng chủ yếu là liên hệ lãnh đạo.

Mà phê bình lãnh đạo ngày nay, nhờ có ảnh hưởng của Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên xô, thường là rất mạnh bạo chứ không còn e dè, quanh co như cái thời phục tùng mù quáng hoặc có thắc mắc thì trước mặt cả nể, kể lể sau lưng nữa. Anh chị em đã phát huy tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, đem hết nhiệt tình cách mạng ra mà nói thẳng, nói thật, nói hết. Thế là việc học tập trở nên sôi nổi, nhất là ở bước cuối thì người ta có thể nói đến một không khí bừng bừng đấu tranh, làm cho chẳng những giới văn nghệ như cựa mình một cái thực mạnh mà nhiều ngành khác ở thủ đô cũng như thấy rung động lây.

Qua những sự việc mà anh chị em phát hiện cũng như qua những ý nghĩ, tình cảm mà anh chị em bộc lộ, chúng ta đã thấy phong trào văn nghệ trong sáu bảy năm nay đã có những sai lầm nghiêm trọng về mặt lãnh đạo. Quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tác đã bị vi phạm một cách có hệ thống”. (Trích bài “Chuẩn bị Đại Hội Văn nghệ Toàn quốc – Một đợt học tập và đấu tranh của giới văn nghệ”, Nhân Văn số 1, ra ngày 20/9/56).

Bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang đọc ngày 26/8/56 chỉ trích đường lối văn nghệ của Đảng trên ba điểm chính:

- Đường lối lãnh đạo văn nghệ của Trung ương Đảng hẹp hòi, gò bó, do nhận thức không đúng về mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ.

- Trung ương Đảng chưa có một chính sách cụ thể về văn nghệ.

- Bộ phận lãnh đạo văn nghệ không hợp lý, không trong sạch, có tính bè phái, nguy hiểm.

Nguyễn Hữu Đang được “cử toạ hoan hô nhiệt liệt”. Qua lời tổng kết của Nguyễn Đình Thi và lời tự kiểm thảo của Tố Hữu, bộ phận lãnh đạo văn nghệ đã phải “thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng và hứa hẹn sẽ sửa chữa”.

Vai trò lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm của Nguyễn Hữu Đang đã rõ: Dựa vào những biến động ở Liên xô và Trung quốc, vào sự đồng thuận của đông đảo trí thức văn nghệ sĩ, vào thế yếu của lãnh đạo sau thất bại Cải cách ruộng đất, Nguyễn Hữu Đang, với tài hùng biện nổi tiếng, đứng ra cổ động trí thức, hướng dẫn phong trào và chủ trương báo Nhân Văn, với ý định cải tổ lại nền chính trị của miền Bắc Việt nam.

Thực chất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là gì ?

Nguyễn Hữu Đang trả lời : Thực chất phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống -không phải chống Đảng Cộng Sản đâu, mà đấy là chống- cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt ghê lắm! Ðảng Cộng Sản đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những cái đó đều do những cái quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào nước Việt nam. Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông Trần Phú làm Tổng bí thư, thì làm cái cuộc gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là “Trí, phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ”. Nó quá tả như thế thì còn làm sao giành được độc lập! Như thế là chia rẽ dân tộc. Lúc bấy giờ chúng tôi cũng cảnh giác, chúng tôi theo đảng Cộng sản nhưng chống chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Nhưng rất tiếc là lúc bấy giờ, thế lực của Liên Xô rất mạnh, áp lực của Trung Quốc cũng rất mạnh cho nên cuộc đối thoại ấy không có kết quả” (Nguyễn Hữu Đang, trả lời phỏng vấn RFI tháng 9/1995).

Hai tờ báo tham gia phong trào vào cuối năm 1956 (Ảnh ghép : RFI)

 

Từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 11 năm 1956, không những Giai phẩm mùa xuân được in lại mà còn ra tiếp 4 số nữa, tổng cộng là 5 số Giai phẩm và 5 số Nhân Văn. Ngoài ra, còn có 1 số Đất Mới của sinh viên và 10 số Trăm Hoa của Nguyễn Bính (từ tháng 10 đến tháng 12/56), thêm báoNói Thật của Hoàng Công Khanh và Tập san phê bình, xuất hiện tới cuối năm 1957.

Cuối tháng 11/56, trên các báo Nhân Văn và Giai Phẩm, nhà xuất bản Minh Đức còn quảng cáo mời độc giả tìm đọc Tự do diễn đàn vàSáng tạo (chuyên về điện ảnh kịch trường). Nhưng rút cục Tự do diễn đànin xong bị cấm. Nhưng Văn, báo chính thức của Hội Nhà Văn, sang năm 57 vẫn còn in bài của những người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, đến số 36 (10/1/58) Văn mới bị đình bản vì đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

Cuộc cách mạng mùa thu của tư tưởng đã xẩy ra.

(Hết phần thứ IV)

-Trở lại: Nhân Văn Giai Phẩm phần III: Giai phẩm mùa xuân

usertype:1 tt= 0

--------------------------------------------------------------
kẻ thù truyền kiếp phương Bắc Trung Cộng trước mối họa diệt vong gần kề Tuổi Trẻ VN hãy biểu lộ lòng yêu nước va`quyết định tương lai của chính mình..Lẽ nào chúng ta có thể an phận, mặc cho tập đoàn lãnh đạo Đảng Nhà Nước CSVN Buôn Dân Bán Nước làm nô dịch cho Trung Quốc?Tuổi Trẻ và Toàn dân ta hãy cùng nắm chặt tay nhau tiến bước, đạp đổ bạo quyền CSVN và tự đứng lên phế bỏ chế độ độc tài, đòi quyền tự quyết dân tộc,Hãy nối kết nhau, tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do.Kêu gọi đoàn kết toàn dân giải thể chế độ độc tài phi nhân bán nước, hùng hổ với dân, hèn với giặc.
Tuổi Trẻ Hãy đứng lên xuống đường đấu tranh cho Việt Nam

<<Báo cáo vi phạmBáo cáo vi phạm>>
Trang 1 / 1    
New Topic New Poll


Locations of Site Visitors
Đăng Ký | Tạo | Giới thiệu | Sơ đồ trang web | Những đặc tính | Diễn đàn | Hiển thị Tắt | Fa | Hỗ trợ
Copyright © 2000-2014 Aimoo Free Forum All rights reserved.

Get cheapest China Wholesale,  China Wholesale Supplier,  to be a retailer is easy now.
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY