Welcome to ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN


Sign In | Sign up | Today
ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN > Trash bin   views: 7237     join now to start a new topic

Title: Huỳnh Thục Vy Blog 


HUỲNH THỤC VY



LÃNH ĐẠO Ở ĐÂU?


Tính chính danh của Hiến Pháp




Bàn về Đạo đức thay lời chúc mừng Giáng sinh

Sự nguy hiểm của truyền thống

Tâm tư nhân ngày lễ Tạ ơn

Người Mỹ nói đến “đấu tranh giai cấp”?!

Kính gởi các anh chị em tham gia biểu tình

Vài suy nghĩ về việc sửa đổi Hiến pháp?

Dân chủ đồng hành với sự thật

“An toàn” hay tự do ?

Dân Chủ - Giá Trị Nhân Bản

Trò Hề Bầu Cử Quốc Hội

Cù Huy Hà Vũ- lương tâm thời đại

Khi nanh vuốt độc tài bị vô hiệu hóa

Cách mạng -Bạo động hay bất bạo động?

Lý do nào để họ tồn tại?!

Mùa xuân mới, hi vọng mới

Thế giới có thật sự hòa bình?

Thế hệ chúng ta- thế hệ chinh phục

Chính trị là gì?

Xã hội dân sự và hiện tình Việt Nam

Tôi vô tình học luật

Chủ nghĩa tập thể và tự do cá nhân

Sự công bằng và nền pháp trị

Vài suy nghĩ về tôn giáo nhân mùa kiết hạ

Lòng yêu nước








Trở Về Đầu Trang



phanthuc posted on 04/06/2011 1:41 PM

----------------------------------------------

Trò hề bầu cử Quốc Hội

Huỳnh Thục Vy

Như một điều hiển nhiên, con người ta luôn hướng tới những gì thực sự mang lại lợi ích cho mình. Vì thế những gì đi ngược lại hoặc không phục vụ cho lợi ích của con người sẽ bị người ta chối bỏ. Và nếu họ bị buột phải đối diện, sống chung với nó thì những thứ ấy cũng chỉ như một bóng ma lạnh lẽo chỉ thỉnh thoảng làm người ta rùng mình mà không có một ảnh hưởng chi phối đời sống thực tế. Những cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam được tổ chức mỗi năm năm cũng rơi vào trường hợp tượng tự như thế.

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã trao cho Quốc hội cái quyền lực tối thượng để rồi sau đó lại đặt nó vào một cái cơ chế có khả năng vô hiệu hóa các chức năng và quyền hạn của định chế chính trị quan trọng này. Thật khôi hài khi tưởng tượng một anh khổng lồ được sinh ra vốn to lớn, khỏe mạnh và quyền uy hơn người, được trao cho một thanh kiếm báu, áng ngữ tòa lâu đài chế độ, để rồi sau đó bị đặt vào chiếc ghế với xích sắt khóa cả tay chân. Cứ mỗi khi đọc lại giáo trình luật Hiến pháp tôi lại không thể nhịn được cười : “Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”; và có cái cảm tưởng như chính mình vừa buông ra lời dối trá gạt người.

Việt Nam là một trong những xứ sở của điều nghịch lý. Cái nền chính trị thối nát điều khiển cả xã hội để cuối cùng đưa cả xã hội tiến đến trạng thái vô lý, ngược đời. Đây là cái xã hội mà những kẻ tồi tệ nhất lại thăng tiến nhanh nhất và đạt được địa vị cao nhất. Tương tự như thế, ở đây bất cứ cái gì “có tiếng” thì không “có miếng”. Quốc hội là minh chứng sống động nhất. Được trao cho quyền lực tối cao theo Hiến định, Quốc hội được thành lập từ những cuộc bầu cử đại biểu rầm rộ với số lượng cử tri đi bầu gây choáng ngợp: luôn là trên 90%. So với số lượng cử tri đi bầu trong các cuộc bầu cử giữa kỳ ở Hoa Kỳ (bầu toàn bộ Hạ viện và một phần ba Thượng viện), con số 90% là quá sức tưởng tượng. Thế nhưng, cái Quốc hội ấy là chỗ hội họp của những ông nghị chỉ biết gật gù vâng dạ. Thỉnh thoảng có một cá nhân dũng cảm đứng lên cất tiếng nói bênh vực lẽ phải thì cuối cùng sự việc cũng “chìm xuồng”. Điều này cũng là điểm đặc trưng của các chế độ độc tài, đặc biệt là độc tài cộng sản.

Trong bất cứ quốc gia nào, việc chỉ có một phần dân số quan tâm đến chính trị, đến hiện tình quốc gia luôn là một thực tế không cần bàn cãi. Nhưng vấn đề ở đây không phải là những con số- sự hào nhoáng ngoại biểu của những cuộc bầu cử, mà là chất lượng của nó. Chất lượng ở đây chính là mức độ quan tâm đến các chính sách phát triển quốc gia, mức độ hiểu biết về các quyền chính trị của cử tri và cuối cùng là sự hiệu quả của các hoạt động dân cử.

Ở các nước dân chủ tự do, người ta không quan tâm thì họ không đi bầu nhưng khi đã quan tâm thì họ tìm hiểu rất kỹ và tỏ ra rất có trách nhiệm với lá phiếu mình cầm trong tay. Vì người ta hiểu rõ rằng quyết định của mình sẽ góp phần thay đổi diện mạo của quốc gia và cũng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống thường nhật của họ. Ở Việt Nam thì khác, đi bầu cử là một chuyện không thể không làm, dù có muốn hay không. Nó không là việc quan trọng gì, hoàn toàn không thay đổi được bất cứ vấn đề lớn nhỏ nào liên quan đến quốc gia ở tầm vĩ mô hay liên quan đến đời sống của từng cộng đồng dân cư cụ thể nào; thế nhưng khi một cử tri không đi bầu thì một việc chẳng ý nghĩa gì như thế trở thành một vấn đề. Không đi bỏ phiếu bầu cử là đối mặt với sự ngược đãi của chính quyền địa phương: Ai sẽ chứng giấy tờ khai sinh, hộ khẩu, giấy tờ nhà đất, giấy tờ để đi học, đi làm? Mọi công việc thiết thực và quan trọng trong cuộc sống của người dân vì thế sẽ bị gây trở ngại. Không ai dại gì mà để một chuyện bầu cử chẳng đâu vào đâu lại ảnh hưởng đến xấu đến cuộc sống của mình. Vì thế, dù biết chính mình như một con bù nhìn đi bầu cho những con bù nhìn khác trở thành đại biểu cho một cái Quốc hội cực kỳ bù nhìn thì các cử tri vẫn đi bỏ phiếu đầy đủ. Mọi cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam đều kết thúc “thành công tốt đẹp” là vì lẽ đó. Báo chí trong nước còn tuyên truyền rằng báo chí thế giới đánh giá cao các cuộc bầu cử ở Việt Nam, rằng con số cử tri đông đảo chứng minh mức độ quan tâm và hi vọng của người dân vào các cuộc bầu bán của Nhà cầm quyền, như một bài viết trên Việt báo về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2007:

Xin kể ra đây một câu chuyện xảy ra cách đây năm năm để quý vị có thể hiểu phần nào cái tình cảnh của những người dân “thấp cổ bé miệng” ở Việt Nam , đặc biệt là những người đã quyết định mang bản thân và gia đình vào “con đường hẹp” đối lập với Nhà cầm quyền cộng sản, nếu từ chối thực hiện cái quyền Hiến định của mình thì cũng không thể sống yên thân. Năm 2007, mấy cha con tôi đã không đi bỏ phiếu bầu cử. Vậy là chính quyền địa phương, công an và Ban tổ chức bầu cử đã “tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình” bằng cách mang cả thùng phiếu tới nhà tôi, buộc ba tôi phải bỏ phiếu, làm cả xóm nhà tôi hoang mang lo lắng ra đường không dám chào ba tôi. Nhưng cuối cùng họ cũng không thể làm gì được khi ba tôi kiên quyết không bỏ phiếu, không thực hiện cái hành động đơn giản nhưng mang ý nghĩa chính trị phức tạp- công nhận sự chính danh của chế độ, của những “đại biểu” mà Đảng cử ra. Tất nhiện điều này không thay đổi được gì nhiều, nhưng nó mang một ý nghĩa biểu trưng: cổ võ cho tinh thần bất hợp tác và không sợ hãi đối với Nhà cầm quyền độc tài, một sự chối bỏ sự nghịch lý một cách thằng thừng. Thiết nghĩ nó cũng đã có ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý và nhận thức của những người chứng kiến sự việc.

Sự an phận do sợ hãi và thiếu hiểu biết khiến người ta im lặng chấp nhận nghịch lý trong bất cứ lĩnh vực nào cũng là biểu hiện bệnh hoạn, huống chi là trong những vấn đề quốc gia. Còn nhớ, trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, Linh mục Nguyễn Văn Lý đã kêu gọi cử tri Việt Nam tỏ thái độ bất hợp tác với chế độ bằng cách không đi bầu. Nhưng cuối cùng thì điều này càng làm người dân sợ hãi và họ đã đi bầu cử đông đủ hơn, để khỏi bị chụp mũ “phản động”. Không có con đường bằng phẳng và an toàn nào dẫn tới sự tiến bộ cả. Người ta đã thay đổi cuộc đời họ hoặc thay đổi thế giới chính bằng sự lựa chọn mạo hiểm. Tôi không muốn nói đến sự dấn thân liều lĩnh, mà muốn lưu ý đến sự chấp nhận rủi ro một cách tương đối.

Là những thanh niên mang trong mình lý tưởng vượt qua trở ngại để chinh phục, để đạt đến sự canh tân trong cuộc sống cá nhân và cho đất nước, chúng ta phải làm gì đó để tỏ thái độ bất hợp tác với sự cai trị phi lý của Nhà cầm quyền. Im lặng trước nghịch lý là thiếu trách nhiệm với bản thân mình, chủ động hay bị động hợp tác với cái cơ chế phản tiến bộ là một gánh nặng tội lỗi. Chúng ta phải tránh cho chính mình khỏi trở thành một phần của trò hề ấy.

Tam Kỳ ngày 13 tháng 4 năm 2011

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: © Đàn Chim Việt

Trở Về Đầu Trang








Cù Huy Hà Vũ- lương tâm thời đại

Mấy hôm nay định viết một bài về Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ nhưng không biết phải viết gì, vì những bài viết về ông đã quá nhiều. Hôm qua, nhân đọc cái note “Về sự sợ hãi” từ blog “Thích học Toán” của Giáo sư Ngô Bảo Châu về Tiến sỹ Vũ, cảm thấy không thể không viết vài lời để nói lên những suy nghĩ của mình.

Bắt đầu bài viết ngắn của mình, giáo sư Châu nói rằng: “Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt. Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường”. Mượn lời ông, tôi cũng muốn nói rằng tôi không đặc biệt hâm mộ giáo sư Ngô Bảo Châu, và vì thế không bị lòng ngưỡng mộ chi phối đến nỗi không thể viết một bài phản biện bài viết của ông.

Ngay từ lúc bắt đọc cái note này của ông, tôi cứ ngỡ như mình đang đọc một bài báo của một nhà báo ở New York Times, chứ không phải là của một người Việt Nam. Ông đã viết với giọng văn quá khách quan đến nỗi tôi cảm thấy ông là một người “ngoài cuộc”, nghĩa là ông đứng trên lập trường của một người không gắn cuộc sống, sinh mệnh và trách nhiệm của mình với cái đất nước này. Có lẽ lúc viết ông chỉ nhằm viết sao cho nó khách quan, không bị quan điểm chính trị chi phối. Nhưng đối với một người viết, tôi nghĩ điều quan trọng là mình làm sao để diễn đạt cái quan điểm chủ quan của mình với tinh thần tôn trọng sự thật và trách nhiệm, vậy là đủ. Thật sư tôi chưa hiểu lắm khi giáo sư Châu cho rằng : “Những lý lẽ ông (Ts Hà Vũ) đưa ra tôi (Gs Châu) cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt”. Câu này hơi mâu thuẫn với câu tiếp theo: “Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường”. Và nếu không phải là mâu thuẫn thì sự kết hợp của hai câu này cũng tạo cho người đọc cái cảm tưởng có căn cứ rằng ông Châu khẳng định những hành động của Tiến sỹ Hà Vũ mang nhiều tinh thần dũng cảm và lòng nhân hơn là tính hợp lý và trí tuệ.

Tôi không nghĩ như giáo sư Châu, qua những sự kiện nổi bật liên quan đến tiến sỹ Vũ từ trước đến nay, chúng ta có thể thấy những việc ông đã làm không những sáng suốt, hợp pháp, hợp lòng người, mà còn thể hiện hài hòa tinh thần trách nhiệm với lòng yêu nước, lòng nhân ái với dũng lược của một sĩ phu. Thử điểm lại vài hành động nổi bật mà tiến sỹ Vũ đã làm trong sự soi sáng của trí tuệ và lòng can đảm.

Ngày 11 tháng 6 năm 2009, ông gửi đơn kiện TT Nguyễn Tấn Dũng về việc ký quyết định cho phép Trung Quốc khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Trong việc này ông đã hoàn toàn đúng khi cho rằng ông Dũng đã lạm dụng quyền lực và vi phạm pháp luật khi ký quyết định mà không thông qua Quốc hội. Theo luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, những dự án cấp tỉnh, vùng như dự án bauxite Tây Nguyên trước khi được cho phép thực hiện, chủ dự án phải lập báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược cùng với thủ tục lập báo cáo, thẩm định và phê duyệt báo cáo rất kỹ lưỡng. Trong đó, sự tham gia của các tầng lớp dân chúng, đặc biệt là các chuyên gia về môi trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng và không thể thiếu trong Hội đồng thẩm định báo cáo ấy. Mọi phê duyệt của cơ quan chức năng phải dựa vào kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định. Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định mà không có bất cứ báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược nào. Ngoài ra ông ta còn vi phạm một số luật khác. Với tư cách là một công dân, ông Vũ có quyền kiện thủ tướng. Sau thảm họa bùn đỏ ở Hungary, tất cả chúng ta đều có lý do vững chắc để khẳng định việc phản đối dự án bauxite của Nhóm bauxite Việt Nam, mà ông Vũ là cố vấn luật pháp là việc làm hoàn toàn chính đáng, hợp pháp và với tính thần trách nhiệm công dân cao.

Cũng trong năm 2009, ông Cù Huy Hà Vũ đã viết bài tố cáo Tòa án Đà Nẵng đã vi phạm nhân quyền nghiêm trong khi mang tướng Trần Văn Thanh đang bị hôn mê do tai biến ra xét xử, đề nghị cách chức và truy tố ông Chánh án Tòa án Đà Nẵng Nguyễn Văn Quận về “tội làm nhục người khác” và “tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật”.

Ngày 14/9/2010 Tiến sĩ Hà Vũ lại có đơn kiện TT Nguyễn tấn Dũng về việc ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP cấm công dân khiếu nại tập thể, trái Hiến pháp và Pháp luật. Rồi cũng trong năm 2010, văn phòng luật sư của hai vợ chồng ông đã dũng cảm nhận lời bào chữa cho sáu giáo dân Cồn Dầu bị truy tố với tội danh ”chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng”. Ông Vũ cũng nhiều lần trả lời phỏng vấn trên các đài thuộc kênh thông tin tự do, yêu cầu xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, tố cáo nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân mà cụ thể là tố cáo Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh Trung tướng Vũ Hải Triều về tuyên bố của ông Vũ Hải Triều đã đánh sập 300 trang mạng.

Đó là vài sự kiện nổi bật liên quan đến hoạt động đấu tranh bảo vệ môi trường và nhân quyền của tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Những việc ông làm đều dựa trên luật pháp (dù nền luật pháp Việt Nam hiện nay còn vô số điều đáng nói), hợp nhân tâm và đúng với thông lệ quốc tế. Thử hỏi khắp Việt Nam này, có mấy người dám làm những việc trọng đại với tri thức phong phú và tấm lòng rộng rãi như ông. Vậy mà không hiểu giáo sư Ngô Bảo Châu đã có ý gì khi nói: “Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt”?

Trong phiên tòa 4/4 vừa qua, Hồi đồng xét xử vụ án ông Cù Huy Hà Vũ đã vi phạm trắng trợn điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam khi họ từ chối công bố các tài liệu được cho là chứng cứ chống lại ông Vũ. Về điều này giáo sư Châu cho rằng: họ cẩu thả, “làm cho xong việc” và sợ hãi tranh luận.

Thứ nhất, tôi đồng ý với ông giáo sư khi ông cho rằng ở đây có sự sợ hãi tranh luận. Nhưng có lẽ ông chưa nói đầy đủ khi cho rằng Hội đồng xét xử sợ tranh luận. Hội đồng xét xử là người của chế độ, trước phiên tòa, họ là người đại diện cho chế độ, nói lên tiếng nói và bảo vệ quyền lợi chế độ. Vậy thì khi họ sợ hãi tranh luận thì điều đó cũng có nghĩa là cái chế độ này sợ hãi. Về cả mặt lý luận tư tưởng lẫn thực tiễn khách quan, sự tồn tại của chế độ này là cả một điều nghịch lý to lớn. Có ai không sợ hãi khi công lý, lòng người và sự thật không đứng về phía mình, dù kẻ đó có trong tay hàng ngàn đại bác, xe tăng, và hàng triệu Công an, Quân đội? Có ai không sợ hãi khi đối diện với một nhân cách lớn, một con người đại diện cho lòng dân, cho sự tiến bộ, đã tranh đấu hết mình cho công lý và sự thật, đặc biệt là khi gần đây một số chế độ độc tài lần lượt sụp đổ khi sự tồn tại không hợp lòng dân của họ đã đến đoạn đường cuối? Cả chế độ này đã, đang và sẽ sợ hãi những người con đất Việt đầy tài năng trí tuệ và có đủ cả sự can trường như ông Vũ, chứ không chỉ có mấy ông Thẩm phán và Hội thẩm tép riu.

Thứ hai, tôi không thể nào đồng ý khi giáo sư Ngô Bảo Châu cho rằng, Hội đồng xét xử đã cẩu thả trong việc xét xử. Họ không hề cẩu thả, thậm chí còn rất cẩn thận. Hơn nữa, tất cả mọi diễn tiến và kết quả ở bất cứ một phiên tòa nào ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các phiên toà liên quan đến chính trị đều được xem xét ở hậu trường rất cẩn thận, nghĩa là mọi thứ đã được ngầm thỏa thuận và quyết định ở hậu trường trước khi phiên tòa bắt đầu. Các phiên tòa chỉ là một màn kịch, một trò hề công lý diễn ra cho công luận xem chơi. Hãy suy xét bằng tư duy logic để thấy rằng người ta không cẩu thả như giáo sư Châu nói. Trước tiên, Hội đồng xét xử là người phục vụ (và có liên đới quyền lợi với) chế độ, làm sao họ cẩu thả khi xét xử một vụ án liên quan đến uy tín và động chạm nghiêm trọng đến quyền lợi chế độ? Thứ nữa, khi bất cứ việc gì được sắp xếp từ trước thì chắc chắn nó luôn được xem xét cẩn thận bởi nhiều người với sự chỉ đạo thống nhất từ cấp trên; chỉ khi nào một phiên tòa được diễn tiến tự nhiên (như các phiên tòa dưới hệ thống Thông luật Anh- Mỹ chẳng hạn), không có sắp đặt trước thì khi sai sót xảy ra chúng ta mới có thể quy kết cho trình độ chuyên môn và mức độ cẩn thận của Thẩm phán. Theo tôi, phiên tòa xử tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ được chuẫn bị cực kỳ công phu, không những trong phiên tòa mà cả ngoài phiên tòa Công an dày đặc, kiểm soát mọi biểu hiện của người dân đến xem, và đã có rất nhiều người bị bắt, bị đánh…(theo RFA). Nhà cầm quyền Việt Nam đã thẩm định và tiên liệu kỹ lưỡng về phản ứng của người dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế để đối phó.

Tiếp theo giáo sư Châu cho rằng: “Trong trường hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta (quan tòa) chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn”. Cách chức một hai người có lỗi chỉ là sự giải quyết bề nổi, họ chỉ như những “con dê tế thần” của chế độ (lâu nay phương pháp này thường được nhà cầm quyền Việt Nam dùng khi có scandals). Sự ra đi của họ tạo sự chính danh ảo, sự chính danh mỵ dân cho những người còn tiếp tục cầm quyền. Vậy thì sự ra đi này có giải quyết được tận gốc vấn đề hay không? Hỏi cũng là để trả lời!

Giáo sư Ngô Bảo Châu đã viết một câu kết khá ấn tượng: “Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ”. Câu nói này thật hay và có gì đó mang hơi hướng triết lý nhưng thiết nghĩ những người cộng sản từ trước nay chưa bao giờ bất cẩn với sự sống còn của mình. Thay vì nói điều này với Hồi đồng xét xử phiên tòa 4/4, giáo sư Châu nên nói điều này (trừ cụm từ “sự cẩu thả”) với Bộ chính trị và những người cầm quyền chóp bu thì tốt hơn. Tôi thấy thật không công bằng khi cứ đổ lỗi cho mấy ông Thẩm phán và Hội thẩm.

Là một người còn quá trẻ, thật sự tôi không tự tin lắm với việc viết phản biện nhắm vào một cá nhân, hơn nữa lại là một cá nhân nhiều thành tựu và uy tín như giáo sư Châu. Thế nhưng, cũng mượn lời ông, tôi muốn nói rằng chúng ta không nên sợ hãi tranh luận. Bởi sự thật có thể là nhiều mảnh ghép, chứ không nhất thiết phải là đúng hay sai. Tranh luận giúp chúng ta tìm ra nhiều mảnh ghép của chân lý, do đó việc tiếp cận nó sẽ dễ dàng hơn. Và chân lý đạt được thông qua lý luận luôn là thứ cần thiết để tạo nên sự canh tân ngoạn mục trong mọi lĩnh vực : chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học…

Tam Kỳ, ngày 7 tháng 4 năm 2011

© Huỳnh Thục Vy

Ngu?n: http://www.danchimviet.info/archives/31737

Trở Về Đầu Trang






Khi nanh vuốt độc tài bị vô hiệu hóa

Thế kỷ 20 là thế kỷ của sự hoàn thiện sáng kiến “cách mạng bất bạo động”, mở ra một phương pháp đấu tranh mới thể hiện đặc tính của một nền văn minh mới xem con người là trung tâm. Trong đó, mọi tư tưởng triết học chính trị, định chế chính trị, cách thức phát triển kinh tế, giá trị văn hóa…. đều nhằm phục vụ con người, mang lại hạnh phúc cho con người. Cái thời của “cá lớn nuốt cá bé”, của giết chóc, bạo lực, của tất cả những gì tổn hại đến mạng sống con người đã bị coi là quá khứ và không thể chấp nhận được. Một đại diện lãnh đạo về tư tưởng của phương pháp bất bạo động này là Gene Sharp- một giáo sư chính trị học của Đại học Massachusetts Darthmouth, Hoa Kỳ với nhiều tác phẩm gây tiếng vang lớn trong đó có “Từ độc tài đến Dân chủ”. Sau khi Slobodan Milosevich ở Serbia và Viktor Yanokovych ở Ukraina bị lật đổ, uy tín của Gene Sharp và tính khả thi của “đấu tranh bất bạo động” càng được khẳng định.

Sau sự kiện 11-9-2001, nước Mỹ đã thành hình và lãnh đạo Mặt trận chống khủng bố toàn cầu. Với học thuyết chống khủng bố toàn cầu này, nước Mỹ mặc nhiên coi bất cứ cuộc đấu tranh bằng vũ lực nào đều là bất hợp pháp. Trung cộng và Việt cộng đã nhanh chóng “đứng về” “phe chống khủng bố” với mục đích là sẽ được “đường đường chính chính” đàn áp những cá nhân hoặc tổ chức đang đấu tranh để giải thể chế độ Cộng sản và chụp cho họ cái mũ “khủng bố” do người Mỹ may sẵn. Trung cộng và Việt cộng là hai tên trùm khủng bố lại nghiễm nhiên ngồi vào ghế Quan tòa để qui kết người khác là khủng bố !… Vì những lý do như vậy, cẩm nang “Từ Độc tài đến Dân chủ” của Gene Sharp với phương pháp đấu tranh bất bạo động là lựa chọn duy nhất vì từ nay chúng ta không có con đường nào khác là phải đấu tranh bằng những cuộc xuống đường ôn hòa nếu không hậu quả sẽ khôn lường khi đối địch với sức mạnh võ trang hùng hậu của lực lượng quân đội và cảnh sát bảo vệ chế độ độc tài.

Hy vọng cách mạng Hoa Nhài sẽ thành công ôn hòa ở VN

Libya có lẽ là đất nước đầu tiên, dân tộc đầu tiên sau ngày 11-9 hiên ngang dùng vũ lực để lật đổ chế độ độc tài mà không sợ bị quy kết là khủng bố. Dù Gaddafi đã khản giọng vì nhiều lần gọi cuộc cách mạng của người dân Libya là khủng bố-bị sự lãnh đạo từ hậu trường của Al Queda. Người dân Libya đã bắt đầu cuộc đấu tranh của mình bằng phương pháp bất bạo động như ở Tunisia và Egypt nhưng sau đó phải chuyển sang đấu tranh vũ trang vì sự đàn áp man rợ với những cuộc thảm sát thường dân của quân đội Gaddafi và cuộc đấu tranh của người dân Libya đứng trước sự tan rã …

Từ thế kỷ 17, các nước thực dân phương Tây với chiêu bài “khai hóa” họ đã xua quân viễn chinh đi xâm chiếm thuộc địa, dẫm đạp lên nền độc lập và chủ quyền của các dân tộc nhược tiểu (trong đó có Việt Nam). Họ cướp bóc tài nguyên, bóc lột sức lao động của người dân thuộc địa, gây biết bao nhiêu đau thương, tang tóc cho các dân tộc đó. Họ đã vì quyền lợi quốc gia họ mà gây ra rất nhiều tội ác với các dân tộc thuộc địa. Người Pháp đã xử tử biết bao nhà yêu nước, những chí sĩ lỗi lạc của Việt Nam như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính,Trần Quí Cáp,Trần Cao Vân …. Nhưng đã qua rồi cái thời thực dân, các quốc gia ấy ngày nay đã trở thành những quốc gia dân chủ- tự do, tiến bộ vượt bậc trên thế giới. Vậy tại sao ngày nay các quốc gia dân chủ tiến bộ ấy không nhân danh những giá trị cao quí và phổ quát đó, cái mà họ đã thực hiện với người dân xứ họ để can thiệp và giúp đỡ các dân tộc đau khổ đang bị các chế độ độc tài cai trị? Đây là câu hỏi lớn đặt lên lương tâm nhân loại!

Thế giới chúng ta đang sống được gọi là thế giới văn minh nhưng trong cái thế giới ấy, những con người vỗ ngực tự xưng là tiến bộ, văn minh chỉ mới gần đây thôi đã dửng dưng trước nỗi đau khổ và vô cảm trước xác chết của những người đồng loại. Năm 2004, khi người Thượng ở Tây Nguyên – Việt Nam bị chính quyền Việt Nam đàn áp; năm 2007 cuộc nổi dậy ôn hòa của người dân Miến Điện bị tập đoàn quân phiệt dìm trong máu và nước mắt; năm 2009 người Uyghur ở Tân Cương bị quân đội Trung Quốc bắn giết ; cả thế giới đã khoanh tay đứng nhìn (dù có một vài quốc gia lên tiếng chỉ trích một cách rất ngoại giao). Người ta đã luôn miệng khẳng định rằng thế giới hôm nay đang ở thời đại “toàn cầu hóa”, nghĩa là biên giới quốc gia dần mờ nhạt, cả nhân loại cùng cổ võ những giá trị tốt đẹp phổ quát, cùng sống trong một môi trường toàn cầu với tất cả những quyền lợi và trách nhiệm được chia sẻ. Nhưng toàn cầu hóa là gì nếu chúng ta chỉ biết chia chác nhau những quyền lợi kinh tế, mà làm ngơ để cho các chế độ độc tài siết cổ người dân nước họ mà không áp dụng bất cứ biện pháp chế tài thích đáng nào để giải cứu? Tự do- dân chủ là gì khi người dân yếu đuối đã vì nó mà bỏ cả mạng sống của mình để giành lấy trong sự vô vọng khi những người được gọi là bạn cứ nhắm mắt làm ngơ? Chẳng lẽ thế giới ngày hôm nay vẫn man rợ đến thế, vẫn “đèn nhà ai nấy sáng”, “sống chết mặc bay” “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại” hay sao?

Rồi ngày 19 tháng 3 vừa qua, Liên quân dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ đã tấn công chế độ độc tài Gaddafi giải cứu dân quân nổi dậy ở Libya đang đứng trước nguy cơ một cuộc thảm sát. Vậy là sau những hoài nghi và thất vọng, chúng ta đã có thể khẳng định nhân loại trong thế kỷ 21 này thực sự văn minh, thực sự đã sống và hành xử với nhau trong tinh thần trách nhiệm quốc tế, trong giá trị nhân bản đề cao con người. Sự can thiệp của cộng đồng quốc tế vào Libya đánh dấu một kỷ nguyên mới của nhân loại-kỷ nguyên của lương tri và trách nhiệm. Cộng đồng Thế giới, nhất là Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã can đảm vượt qua sự ù lì, vô cảm vì quyền lợi quốc gia. Họ đã đại diện cho Thế giới văn minh đi tiên phong trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ nhân loại khỏi sự đàn áp của các chế độ độc tài. Lịch sử của nhân loại sẽ ghi nhận nghĩa cử cao đẹp này của họ như một đóng góp lớn trong việc bảo vệ Hòa bình,Tự do và Dân chủ cho cả Thế giới.

Thiết nghĩ, nếu người Mỹ và châu Âu cũng thực hiện sự can thiệp quân sự vào cuộc nổi dậy của người dân Miến Điện năm 2007, cuộc bạo loạn ở Tân Cương năm 2009, thì tôi tin chắc rằng các chế độ độc tài này đã tan rã và người dân vô tội đã không bị đàn áp đẫm máu như thế; nước Mỹ đã có thêm những đồng minh và cũng bớt được nỗi lo về những chế độ bất hảo này. Vậy tại sao người Mỹ và phương Tây hôm nay mới quyết định triển khai quân để giúp cuộc cách mạng Libya mà không triển khai để giúp cuộc cách mạng Miến Điện, Tân Cương? Câu hỏi này không dễ trả lời, cần phải có thời gian!

Gene Sharp đã đưa ra những luận cứ hùng hồn cho chủ trương bất bạo động. Và rõ ràng những lý lẽ ấy rất thuyết phục và hợp lý. Nhưng một cuộc nổi dậy tự phát của quần chúng liệu có luôn đi theo những định hướng chủ quan của những người lãnh đạo đấu tranh, dù ai cũng biết rõ là những chủ trương, những định hướng ấy tốt đẹp? Chúng ta không đi theo con đường đấu tranh bạo động vì sẽ bị chụp ngay cho cái mũ khủng bố, hay ít nhất cũng bị buộc tội bạo loạn với khung hình phạt nặng nề trong cái gọi là “luật pháp” . Và một điều khó khăn nữa là cũng chưa có gì minh chứng sự thành công tất yếu của đấu tranh bất bạo động ở mọi chế độ độc tài, nhất là các chế độ độc tài hà khắc kiểu Gaddafi. Làm sao chúng ta có thể quên được cuộc đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của thanh niên, sinh viên Trung Quốc năm 1989 cuối cùng đã bị đàn áp đẫm máu? Trong sự dửng dưng của cộng đồng quốc tế, các chế độ độc tài với bàn tay sắt sẽ dẹp tan mọi cuộc nổi dậy dù là bạo động hay bất bạo động.

Qua những gì xảy ra tại Tunisia, Egypt, Libya và những cuộc cách mạng xảy ra trước đây chúng ta có thể rút ra một nhận định: Chế độ độc tài nào càng tàn bạo và ngoan cố thì càng phải đối mặt với bạo lực từ người dân dữ dội hơn như Rumania trước đây và bây giờ là Libya. Trong một bài viết gần đây, tôi đã đề cập đến những yếu tố chi phối tính chất và khả năng thành công của một cuộc cách mạng. Trong bài này, tôi chỉ tập chú vào một yếu tố vô cùng quan trọng, đó là cục diện và thái độ quốc tế. Với những biến chuyển gần đây của tình hình Libya, chúng ta thấy rõ tầm quan trọng to lớn của sự can thiệp quốc tế khi người dân phải đối mặt với một chế độ sắt máu như chế độ Gaddafi. Khi phải đối mặt với sự chế tài nghiêm khắc của quốc tế, nanh vuốt của nhà cầm quyền độc tài sẽ bị vô hiệu hóa, họ đã bị “tước vũ khí” và bị tê liệt… Vì dẫu nhà cầm quyền độc tài có tàn bạo đến đâu thì họ cũng đủ thông minh để hiểu và không dám nổ súng vào người dân nếu họ biết hành động đó sẽ bị quốc tế trừng trị không nương tay; và dẫu có hóa điên để giữ cho được chiếc ghế quyền lực thì họ cũng không thể bóp chết cuộc cách mạng của người dân được quốc tế ủng hộ . Một khi tình hình quốc tế bất lợi cho các chế độ độc tài, thì người dân chúng ta tuy không có một tấc sắt trong tay, chúng ta vẫn có thể chiến thắng.Từ đó, những người đấu tranh cho dân chủ và người dân đang bị chà đạp bởi các chế độ độc tài sẽ có lý do để tin chắc vào sự toàn thắng của cách mạng bằng đấu tranh bất bạo động. Nếu không có sự can thiệp của cộng đồng quốc tế thì cuộc đấu tranh sẽ vô cùng khó khăn và sự thành công cũng rất mong manh.

Đảng Cộng sản Việt Nam phải hiểu một điều: luật Nhân quả không thể sai trật. Nếu vì tham quyền cố vị, ngoan cố lội ngược dòng thì sẽ bị cuốn trôi, bị đè bẹp…Nếu quí vị làm đổ máu người dân thì chắc chắn máu của quí vị và gia đình quí vị cũng sẽ đổ để đền tội. Những ai có lương tâm và trách nhiệm đối với đất nước thì đều mong muốn cuộc cách mạng Hoa Lài tại Việt Nam sẽ diễn ra một cách ôn hòa và triệt để, sẽ không có máu của bất cứ ai phải đổ xuống trong những giờ phút hấp hối của chế độ, để xã hội Việt Nam không phải bị tàn phá, lòng người dân Việt Nam không phải bị tổn thương, để con cháu chúng ta thanh thản và trong sáng, vui vẻ sống bên nhau như những người bạn, những người đồng bào ruột thịt. Không ai muốn tội ác làm hoen ô thế hệ trẻ Việt Nam. Đất nước Việt Nam đang âm thầm kiên nhẫn tích trụ năng lượng cho một mùa hoa nở rộ…giống như cây mai đang tích tụ những dòng nhựa sống, những dinh dưỡng cần thiết trong cả một năm để chờ đến mùa xuân, dâng cho đời những đóa hoa thơm ngát và rực rỡ.

Giờ đây, chúng ta có thể tiên liệu một điều: Cũng như bất cứ chế độ độc tài nào, Cộng sản Việt Nam lấy vũ lực và sự trấn áp để bảo vệ chế độ. Mất khả năng đàn áp, giết hại dân bằng súng đạn, chế độ CSVN sẽ nhanh chóng bất lực, chia rẽ và sụp đổ. Đảng CSVN và giới cầm quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ nhanh chóng bị cô lập. Quân đội không còn sẵn sàng phục tùng mệnh lệnh của Đảng Cộng Sản vì họ sợ quốc tế trừng trị vì tội ác của họ. Sau sự kiện quốc tế can thiệp ở Libya, người dân dưới các chế độ độc tài và cả những người lãnh đạo chế độ đó đều hiểu rằng: Thời thế đã thay đổi.

Những người Cộng sản Việt Nam vẫn còn có thời gian và cơ hội để thay đổi…nhưng thời gian đó không nhiều và cơ hội cũng không nhiều…Chậm chân là mất tất cả, nên hiểu điều đó. Libya là bài học quí giá đối với nhân dân Việt Nam và cũng là bài học quí giá đối với tập đoàn cộng sản Việt Nam. Hi vọng Cách mạng Hoa Lài sẽ thành công ở Việt Nam một cách ôn hòa và triệt để.

© Huỳnh Thục Vy

Ngu?n: http://www.danchimviet.info/archives/30664

Trở Về Đầu Trang






Cách mạng -Bạo động hay bất bạo động?

Cách mạng hay cách mạng xã hội theo nghĩa rộng, được hiểu như là một sự thay đổi sâu rộng trong xã hội nhằm biến cái cơ cấu cũ đã lỗi thời thành một cơ cấu mới tiến bộ và phù hợp hơn, trong một thời gian tương đối ngắn. Đó chính là những biến đổi mang tính chất cơ bản và trọng yếu trong bản chất của thượng tầng xã hội chứ không phải là những cải cách nhỏ mang tính thứ yếu trong một vài lĩnh vực cụ thể nào đó, càng không phải là những đổi chác chính trị nhắm đến mục tiêu thay người lãnh đạo quốc gia của một nhóm người nhỏ (đảo chính).

Theo nghĩa hẹp, cách mạng chính là một biến cố chính trị lớn, thường được gọi là cách mạng chính trị. Cuộc cách mạng chính trị này sẽ dẫn đến những thay đổi toàn diện từ trật tự xã hội, chế độ chính trị của quốc gia đến tầng lớp những người lãnh đạo. Những cuộc cách mạng chính trị thường bắt đầu bằng những cuộc đấu tranh của đa số quần chúng nhằm lật đổ chế độ chính trị hiện thời để tạo điều kiện xây dựng một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn.

1/ Tính chất bạo lực:

Dường như khi nói đến cách mạng chúng ta luôn liên tưởng ngay đến bạo lực. Những ai từng ngồi trong nhà trường xã hội chủ nghĩa đều thấm nhuần quan điểm rằng : bạo lực cách mạng là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu của việc giành chính quyền. Nhiều người phủ nhận Marx, cho rằng ông này cổ súy bạo lực. Nhưng Marx đã đúng trong nhận thức về lịch sử chính trị đối với những giai đoạn trước khi chúng ta tạo dựng được những Nhà nước Hiến pháp trị. Nhìn lại lịch sử, chúng ta không thể phủ nhận rằng hầu như bất cứ một cuộc thay đổi chế độ chính trị nào cũng đẫm máu. Ngay cả việc tạo dựng một định chế chính trị tiến bộ như sự hình thành Nghị viện Anh cùng với sự ra đời của bản Đại Hiến chương Tự do vào thế kỷ 13 ở Anh quốc cũng chỉ đạt thành qua cuộc đấu tranh mang đầy bạo lực giữa một bên là triều đình phong kiến Anh quốc (đại diện lúc đó là vua John, sau đó là vua Henry III) với một bên là các lãnh chúa phong kiến lãnh đạo quần chúng. Sau này, vào thế kỷ 17, để thành lập được một thế chế quân chủ lập hiến ở Anh với quyền lực nhà vua bị Nghị viện kiểm soát và kiềm chế cũng phải trải qua cuộc Nội chiến và cuộc “Cách mạng Vinh quang” (Glorious Revolution) đẫm máu. Cuộc cách mạng Pháp- một chuyển biến chính trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, với sự ra đời của Hiến pháp 1791, xóa bỏ chế độ phong kiến không còn phù hợp với nguyện vọng người dân và tình hình kinh tế xã hội Pháp lúc bấy giờ, đã diễn biến trong một quá trình thậm chí còn phức tạp và đẫm máu hơn nữa. Còn rất nhiều minh chứng khác, đến nỗi không chỉ có Marx, hầu như tất cả chúng ta khi nghĩa đến cách mạng đều nghĩ ngay đến những phong trào khởi nghĩa, những cuộc chém giết lớn giữa một phe đại diện cho quần chúng và nhà cầm quyền đương thời.

Thật vậy, nhân loại đã phải trả những cái giá rất đắt, những tổn thương nhân mạng to lớn để đi từ những trang sử cổ đại đến thời hiện đại, để vượt qua thời kỳ của chế độ nộ lệ, rồi chế độ phong kiến mới có thể xây dựng được những Nhà nước dân chủ tiến bộ ( tuy sự tiến bộ này phải trải qua một thời gian nhất định để đạt được diện mạo như ngày hôm nay). Nhưng Marx đã mắc một sai lầm to lớn khi ông cho rằng nhân loại cần phải tiếp tục lật đổ, xóa bỏ những nhà nước dân chủ tư sản (theo cách gọi của ông) bằng những cuộc “cách mạng vô sản” với “bạo lực cách mạng”. Thực tế cho thấy vào cuối thế kỷ 19- đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc những quốc gia nghèo đói, trình độ dân trí thấp, nền công nghiệp hầu như không có, chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện để phát triển, để mà “làm cách mạng”. Họ luôn hô hào xóa bỏ chủ nghĩa tư bản nhưng quả thực, nhiều nhất họ cũng chỉ xóa bỏ được chế độ phong kiến, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của tình hình xã hội đương thời đang chất chứa những quả bom bất mãn chỉ chờ thời cơ là phát nổ. Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không “làm cách mạng” được ở những xứ sở có truyền thống pháp trị và tự do. Chúng ta có thể thấy cách mạng chính trị, tức sự thay đổi chế độ chính trị không thể xảy ra ở những nơi người dân có thể dùng lá phiếu để thay đổi chính phủ. Trong các thể chế dân chủ tự do chỉ có khủng hoảng chính phủ chứ hoàn toàn không hề có khủng hoảng chế độ. Vậy nơi nào có sự chuyên quyền nơi đó có cách mạng, mức độ chuyên quyền càng cao thì khả năng xảy ra sự phản kháng bằng bạo lực càng lớn.

2/ Một lý thuyết đấu tranh mới:

Đầu thế kỷ 20, thế giới chứng kiến cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ tay Thực dân Anh với hình thức đấu tranh bất bạo động đầy ngoạn mục dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi. Từ đây, chúng ta có một phương thức đấu tranh giành chính quyền mới, làm thay đổi nhận thức đấu tranh của những nhà cách mạng thời hiện đại. Cách đây hai năm, tôi đã đọc “Từ độc tài đến Dân chủ” của Gene Sharp. Trong tác phẩm này, ông đã phân tích khá toàn diện và cụ thể việc tổ chức và tiến trình của một cuộc cách mạng bất bạo động. Như một bài đã viết cách đây khá lâu, là một Phật tử, tôi cho rằng đây là phương pháp đấu tranh đầy nhân bản và mang lại nhiều niềm hi vọng cho các dân tộc đang sống dưới các ách độc tài, tạo cơ hội cho quần chúng “tay không tất sắt” có thể đoàn kết sức mạnh chống lại những chính quyền độc tài vũ trang hùng mạnh.

Gần đây, đối với những người đang cổ vũ cho phương pháp đấu tranh “bất hại” này, niềm tin và lý luận của họ lại một lẫn nữa được khẳng định khi có thêm những minh chứng hùng hồn cho việc thực hành một cuộc đấu tranh bất bạo động của quần chúng với sự sụp đổ của hai thể chế độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Dù không phải là không có thương vong, nhưng người dân hai nước này đã thành công bằng các cuộc xuống đường không vũ trang để phản đối và cuối cùng là lật đổ được hai nhà độc tài Ben Ali và Mubarak. Nhưng quay sang Libya, tình hình có vẻ ngược lại và phức tạp hơn nhiều. Phong trào chống chính phủ đã trở thành cuộc nổi dậy vũ trang kéo dài cho đến hôm nay vẫn chưa ngả ngũ. Có ai trong chúng ta đã tự hỏi vì sao có sự khác nhau ấy ? Cùng là các quốc gia thuộc thế giới Ả Rập, nền công nghiệp dầu khí là trụ cột kinh tế quốc gia, sống dưới chế độ độc tài, đang rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế, thiếu thốn lương thực, công ăn việc làm của người dân không được bảo đảm…., nhưng cuộc phản kháng của người dân Libya chống chính quyền đã diễn ra theo một kịch bản khác hắn với Tunisia và Ai Cập. Phải chăng chính những người lãnh đạo và những người tham gia đấu tranh không thể tự quyết định được phương pháp và chiều hướng đấu tranh? Đây thực sự là một câu hỏi khó.

3/ Những yếu tố chi phối tính chất cuộc đấu tranh:

Trong trình độ tri thức hạn chế của mình, người viết cho rằng ở đây chắc hẳn phải có những yếu tố khách quan vô cùng quan trọng chi phối con đường đấu tranh của người dân chống lại độc tài, những điều mà những nhà đấu tranh không thể can thiệp bằng ý chí chủ quan (ý chí chủ quan thể hiện qua trình độ tổ chức đấu tranh và ý thức chính trị của những người tham gia đấu tranh).

Trở lại với Libya, chúng ta thấy Gadhafi là nhà độc tài sắt máu và ngoan cố hơn hắn Ben Ali và Mubarak; trong một thời gian dài chế độ của Gadhafi là một chế độ khủng bố, còn bản thân Gadhafi bị Tổng thống Reagan gọi là “con chó dại…”. Đó chính là yếu tố đầu tiên tôi muốn nói đến- bản chất và mức độ độc đoán, tham quyền cố vị của nhà độc tài hay nói chung là chế độ độc tài sẽ chi phối nổ lực, thời gian và chiều hướng đấu tranh của chúng ta. Tiếp đến là sức mạnh nội tại của chế độ : chế độ độc tài càng mạnh, sự đoàn kết nội bộ của họ càng cao thì khả năng ra đi của họ khi có một cuộc phản đối bất bạo động của người dân càng thấp.

Tiếp theo chúng ta xét đến mối liên kết của chế độ độc tài đó với các thế lực bên ngoài, cụ thể hơn là việc chế độ độc tài đó có quan hệ mật thiết về ngoại giao với ai, phụ thuộc chính trị vào cường quốc nào. Nếu “đàn anh” ngoại giao của họ là một nước có thể chế chính trị tiến bộ, có ý thức hệ phóng khoáng thì khả năng nhượng bộ tăng lên và khả năng đàn áp bằng vũ trang giảm xuống, so với việc “đàn anh” của họ là một nước có chế độ chính trị cực đoan và độc tài hà khắc. Chúng ta có thể thấy Mubarak là vị tổng thống độc tài nhưng được người Mỹ ủng hộ, vì thế sự ra đi của ông khỏi chiếc ghế quyền lực có vẻ êm thấm hơn so với trường hợp ông là “đàn em” của một chế độ tàn bạo như Trung cộng chẳng hạn.

Điều tiếp theo cần được xem xét là mức độ phẫn uất của lòng dân; mức độ căm phẫn này lại được quyết định bởi mức độ bất công xã hội, hố ngăn cách giàu nghèo, tình trạng tội tệ của nền luật pháp, mức độ bóp nghẹt các quyền tự do, số lượng những hành động làm tổn hại quốc gia và dân tộc của chính quyền, mức độ tổn thương của lòng dân…. Sự phẫn uất do những yếu tố nói trên gây ra và nung nấu trong lòng dân càng lâu dài và càng lớn thì nguy cơ bạo động càng gia tăng. Bởi sự căm giận của lòng người như một quả bom, nó càng lớn thì mức độ công phá và thiệt hại càng lớn. Và cuối cùng điều phải kể đến là cục diện chính trị quốc tế. Nếu xu hướng tự do dân chủ trên thế giới ngày càng vững mạnh, các chế độ độc tài ngày càng yếu và ít đi, một số các cường quốc bất hảo rơi vào khủng hoảng thì các chế độ độc tài sẽ phải xem xét lại sự thiệt hơn giữa một bên là ra đi trong bình yên và một bên là tiếp tục ngoan cố để trở thành tội đồ của cả dân tộc.

4/Trở lại tình hình Việt Nam:

Xét về tình hình Việt Nam, tôi thiển nghĩ Việt Nam giống Trung cộng nhiều hơn so với các quốc gia Ả Rập kể trên. Vậy nên khi đánh giá tình hình tôi hi vọng những người đấu tranh dân chủ của chúng ta hãy so sánh tình hình nước ta với Trung Quốc để nhận ra những bất lợi và thuận lợi, chứ không phải là so sánh với những nơi cách mạng vừa thắng lợi ở Bắc Phi . Việt Nam và Trung Quốc tuy khác nhau về diện tích lãnh thổ và quy mô chính quyền nhưng lại có nhiều điểm tương đồng như : chế độ chính trị, ý thức hệ của giai tầng lãnh đạo, cách thức và mức độ siết chặt các quyền tự do, bản chất nền kinh tế, tình trạng bất công xã hội …Có thể nói Việt Nam là mô hình thu nhỏ của Trung Quốc. Thêm vào đó, ta nhận thấy ở đây một sự phụ thuộc về chính trị và sự tồn vong mang tính liên đới giữa Việt cộng và Trung cộng.

Tất nhiên cuộc cách mạng hoa lài đã mang lại cho chúng ta niềm cảm hứng và hi vong to lớn về một thế giới không độc tài, về tiền đồ dân chủ tự do của Việt Nam, bởi chúng ta đã cảm nhận sâu sắc rằng sức mạnh của ý chí và sự đoàn kết chống độc tài của người dân Bắc Phi một lần nữa đã minh định khao khát tự do của nhân loại là không gì cản nổi.

Theo một số nhà quan sát thời cuộc, thì chưa thể có một cuộc cách mạng như thế ở Việt Nam vì sự quan tâm chính trị của người dân chưa cao, và sự thiếu vắng một lực lượng đối lập mạnh, cùng với một trình độ tổ chức cần thiết. Điều đó đúng, thế nhưng đó là mới chỉ xét mặt chủ quan mà chưa để tâm đến tình hình khách quan, đó là sự tùy thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau rất nhiều ở mọi quốc gia trong thời đại Toàn cầu hóa này. Khi nào Trung Quốc rúng động vì sự nổi dậy của người dân thì đó cũng là lúc cho chúng ta hy vọng một cuộc “đổi đời” trong tầm tay. Đây không phải là sự bắt chước, rập khuôn mà là sự suy xét mối tương quan tồn tại và tình hình thực tế khách quan giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thiết nghĩ, sự phát hiện đúng thời cơ và hành động đúng thời điểm là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho mỗi thắng lợi. Và việc một cuộc cách mạng tương tự (ở Việt Nam) sẽ xảy ra trong bạo động hay bất bạo tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan nằm ngoài ý chí của tất cả chúng ta.

Trên đây chỉ là những ý kiến gợi mở và chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Bài viết chỉ nhằm trình bày quan điểm và những ưu tư của cá nhân tôi. Chúng tôi – thế hệ 8x, vẫn còn quá trẻ để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa Việt Nam. Thế nên, chúng tôi trông cậy rất nhiều vào những bậc trưởng thượng- những người sẽ vạch ra con đường và dẫn dắt chúng tôi, để từ đó chúng tôi có cơ hôi đóng góp sức mình cho đất nước và biết được mình sẽ phải làm những gì. Bởi nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ gặp thảm họa.

Tam Kỳ ngày 13 tháng 3 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

Ngu?n: http://www.danchimviet.info/archives/29810

Trở Về Đầu Trang






Lý do nào để họ tồn tại?!

Hiến pháp chính là một bản cam kết, một hợp đồng giữa người dân với chính phủ mà họ trao quyền. Theo nghĩa này, những mối quan hệ mà Hiến pháp và luật pháp điểu chỉnh và bảo vệ có tính chất hai chiều tương tác: Nhà nước bảo vệ, chịu trách nhiệm và bị kiểm soát bởi nhân dân; ngược lại, nhân dân nuôi sống và tuân thủ nghĩa vụ của mình đối với toàn xã hội và đối với Nhà nước. Nhưng ở trường học, chúng tôi chỉ được dạy Hiến pháp là Đạo luật cơ bản và cao nhất chứ không được biết gì về đặc tính quan trọng này của Hiến pháp.

Ai đi mọi nơi trên khắp Việt Nam đều có thể nhìn thấy những tấm bảng chữ đỏ chót: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Thế nhưng mối quan hệ này lại là một mối quan hệ một chiều bất công: người dân phải khuất phục vô điều kiện “nền luật pháp” ấy nhưng ngược lại không được luật pháp bảo vệ một cách nghiêm túc và hữu hiệu. Khi nhắc đến luật pháp ở Việt Nam người ta thường nghĩ ngay đến sự chế tài của Chính quyền đối với người dân bằng những văn bản và thủ tục luật pháp chứ không ai nghĩ rằng một cuộc sống an ninh, được bảo vệ khỏi những nguy cơ nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống thường nhật của người dân là trách nhiệm và nguyên nhân tồn tại của Nhà nước.

Hôm qua, khi dọn dẹp cửa hàng bán lẻ của cô tôi, tôi vô tình tìm thấy tờ báo Tuổi Trẻ với hàng tựa gây sốc: “Cốc thủy tinh độc” của nhà báo Lan Anh (Tuổi trẻ thứ 6 ngày 14/1/2011). Bài báo có đoạn: “Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng có mười mẫu cốc ly nhựa, bình nhựa nhập khẩu từ Trung Quốc, mẫu lấy từ An Giang có hàm lượng chì cao hơn 1.2 đến 2.192 lần tiêu chuẩn VN, chưa kể các chất độc hại khác. Điều nguy hiểm là sản phẩm có in hình các nhân vật hoạt hình hấp dẫn trẻ em nhưng lại có khả năng làm giảm chỉ số thông minh của trẻ do lượng chất độc hại tồn dư rất cao trong sản phẩm”.

Những năm gần đây dư luận thế giới xôn xao vì vụ đồ chơi trẻ em nhập vào thị trường Mỹ có hàm lượng chì và các độc tố khác cao nhiều lần quá mức cho phép. Rồi sữa nhiễm độc Melamine, rồi bánh bao nhân carton. Những hàng hóa xuất xứ từ Trung Cộng làm cả thế giới bất an mà Việt Nam là nạn nhân “gần gũi” nhất của anh khổng lồ đang trên đà phát triển “bằng mọi giá” này, để đuổi kịp Mỹ…rồi bỏ qua Mỹ…rồi gì gì nữa thì có trời mới biết. Người Việt Nam vẫn sống, vẫn yêu, vẫn làm việc, vẫn hướng tới tương lai trong nỗi phập phồng lo sợ nhưng không làm gì được….vì không làm gì được nên nhắm mắt phó mặt cho số mệnh theo kiểu “biết là tiêu mà vẫn dùng”. Tôi chưa thấy nhưng cũng “nổi gai ốc” khi chung quanh tôi người ta đồn ầm lên về nạn trứng gà giả, gạo giả, thuốc tây giả, tiền giả….rất nhiều đồ giả từ anh bạn láng giềng này.

Chú N- một người hàng xóm của tôi về quê thăm ông anh thứ hai là giáo viên, đảng viên. Nhà ông khá giả nên Tết đến mua toàn đồ xịn. Ngày Tết có chú em đến thăm cùng với mấy người bạn giáo chức, ông khui chai rượu sâm giá bạc triệu, củ sâm to hơn ngón tay cái, có hình dáng một phụ nữ khỏa thân rất “hot”. Khi rượu đã hết ông anh dùng đũa gắp củ nhân sâm ra dùng dao cắt chia cho năm người “nhai cho mát”…Mọi người vừa nhai vào một lát rồi trố mắt nhả miếng “sâm” ra bàn tay : “Trời ơi sâm làm bằng cao su tổng hợp”. Ông anh của chú N vừa ngượng vừa tức vì mất gần hai triệu đồng.

Khi người ta bất mãn trước hiện tình đất nước, muốn tìm một con đường sáng sủa hơn cho tương lai dân tộc; boăn khoăn, ao ước một chế độ dân chủ tự do cho Tổ quốc thì chính họ lại chạm mặt ngay với một nỗi lo sợ phải đối đầu với cả một guồng máy chính quyền to lớn có khả năng đè bẹp dũng khí của những người chưa từng trải, đày đọa tương lai của cả một gia đình… Ví như hôm nay viết một bài nảy lửa đưa lên mạng là cứ như ngay lập tức ngày hôm sau có người đến “hỏi thăm”. Nhưng khi phải khổ sở xoay xở với hàng loạt nhiều điều rắc rối, đôi khi là tại họa xảy ra trong cuộc sống hằng ngày từ việc như : mua phải một cái nồi cơm điện Trung Quốc giả hàng chính hãng mới mua về đã hỏng, tiền mất tật mang vì uống phải thuốc kháng sinh giả, vào bệnh viện chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế bị cho uống và tiêm thuốc hết hạn sử dụng, đi xuất khẩu lao động bị ngược đãi đến việc chưa có tiền chạy chọt cho bác sĩ nên bệnh tình nguy cấp không kịp thời cứu chữa dẫn đến mất mạng…. thì lại không thấy bóng chính quyền, Nhà nước đâu. Chẳng thể hi vọng gì ở những “đầy tớ tận tụy của nhân dân” này! Người dân Việt Nam hôm nay như những đứa trẻ bị đem ra bỏ giữa chợ đời.

Một trong những nạn nhân thê thảm nhất đã bị nền luật pháp cộng sản này bỏ rơi là những ngư dân Việt Nam. Những người như gia đình tôi còn may mắn hơn những gia đình ngư dân rất nhiều. Ngư dân chúng ta luôn bị người láng giềng “mười sáu chữ vàng” tấn công, khi thì bị bắt để đòi tiền chuộc, khi bị đâm chìm tàu, khi thì bị cảnh sát biển Trung Cộng bắn chết thê thảm. Ngư dân Việt Nam đời đời làm nghề đánh bắt cá để nuôi sống gia đình mình, nuôi sống xã hội và quan trọng hơn là thông qua việc đánh bắt cá ngư dân chúng ta góp phần gìn giữ biển đảo mà cha ông để lại. Qua việc đánh bắt cá , họ khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Nam trên vùng biển Việt Nam. Vậy mà họ đơn độc quá, cô thế quá khi bị kẻ thù tấn công, bị đuổi ra khỏi vùng biển khai thác truyền thống của ông cha. Kẻ thù đang từng bước hợp thức hóa sự ăn cướp của họ. Ngư dân của chúng ta là những người giữ nước, cần được luật pháp bảo vệ. Vậy mà khi ngư dân lâm nạn, Nhà nước CHXHCN Việt Nam chỉ dám nói xa nói gần là bị “tàu lạ tấn công”, “nước lạ tấn công”, không dám vạch mặt gọi tên kẻ xâm lược .

Tôi man mác thấy trong việc “cốc thủy tinh độc” này ẩn chứa một âm mưu thâm hiểm: muốn triệt hạ một dân tộc không gì tốt hơn là tấn công vào thế hệ trẻ. Vậy mà hằng ngày vẫn thấy,vẫn nghe các vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN VN gọi Trung Cộng là đồng chí ngọt xớt. Dễ gì gọi nhau bằng hai tiếng “Đồng chí”! “Đồng chí là những người có cùng giá trị, quyền lợi, lý tưởng, mục tiêu, hoài bão…..Phải chăng những người Cộng sản Việt Nam có cùng lý tưởng, mục tiêu, hoài bão, chia sẻ cùng một quyền lợi, giá trị với Trung Cộng?!

Nguyên nhân duy nhất và khả dĩ nhất để một Nhà nước tồn tại là để quản lý, phát triển xã hội, bảo vệ quyền lợi đất nước và người dân, phát huy các giá trị của dân tộc…. Nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không cùng chia sẻ quyền lợi và giá trị với dân tộc Việt Nam mà chia sẻ quyền lợi với ngoại bang thì có lý do nào để họ tiếp tục tồn tại?!

Tam Kỳ ngày 19 tháng 2 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/28208

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by phanthuc on 05/01/2011 11:10 AM)

phanthuc posted on 04/08/2011 12:50 PM

----------------------------------------------

Mùa xuân mới, hi vọng mới

Năm Canh Dần đã qua đi cùng với những ngày cuối năm thật ảm đạm và lạnh giá. Mồng Một Tết năm Tân Mão, trời sáng trong và nắng ấm, gió nồm hây hẩy thổi. Trước cái ngoại cảnh tươi đẹp và căng tràn sức xuân ấy lòng người cũng phấn chấn và hân hoan. Tôi ngồi đây, trong căn phòng nhỏ và bừa bộn của mình, nhìn ra khung trời xanh trong và lộng gió ngoài kia, cảm nhận sâu sắc sự đổi thay của đất trời và một lần trẻ lại của nhân tâm trong những ngày đầu xuân. Thật vui thay- vui cho một lần thay áo mới của vũ trụ và vui cho những niềm hi vọng đang ấp ủ trong lòng người.

Năm nay, người dân quê tôi ăn Tết vui hơn và to hơn mọi năm. Những ngày này nhìn đâu cũng thấy hoa lá xanh tươi, người người mặt mày rạng rỡ du xuân và thăm hỏi nhau theo cái cung cách truyền thống của dân tộc. Và trong những câu chuyện “trà dư tửu hậu” ấy, tôi được nghe mọi người bàn tán về lá thư chúc tết của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết năm nay có vẻ buồn. Các chú bác (bạn bè của ba tôi) đều đồng ý với nhau rằng: chắc ông Nguyễn Minh Triết không còn ở trong Bộ Chính trị nữa (cơ quan quyền lực tối cao của Đảng Cộng sản Việt nam, và do đó cũng là trung tâm quyền lực của cả Việt Nam), và sẽ không còn là Chủ tịch nước trong vài tháng tới nên ông đọc lá thư chúc Tết với giọng văn buồn buồn như thế.

Nghe mọi người trò chuyện, tôi thầm nghĩ : vậy thì ông Triết này tệ quá. Ông này là chủ tịch nước, tức là Nguyên thủ quốc gia theo Hiến định, ở đỉnh cao quyền lực trong một thời gian khá lâu. Và theo quy định của Đảng cộng sản Việt Nam những ai quá 65 tuổi thì phải ra đi, để phù hợp với chủ trương “trẻ hóa” nội bộ lãnh đạo Đảng. Điều này đối với ông Nguyễn Minh Triết đầu phải ngoại lệ. Hơn nữa, ông là người lãnh đạo quốc gia (dù có đúng nghĩa hay không ), thì ít nhất cũng phải biết vui cho cái vui của người dân, lo cho cái lo chung của dân tộc. Gần chín mười triệu người dân Việt Nam đang đón một mùa xuân mới . Theo truyền thống và luân lý cổ truyền, trong những ngày này dù cho ai đó có hoàn cảnh buồn riêng tư đi nữa thì cũng phải tạm quên đi để cũng chia sẻ niềm vui với mọi người. Đó chính là phong thái đáng có của một nhà lãnh đạo, ít nhất là trong những ngày Tết. Thêm vào đó, dù ông này có rời khỏi chiếc ghế Chủ tịch nước thì con cháu ông, những thân hữu của ông vẫn tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý chứ có mất mát gì đâu?! Vậy thì sao ông phải đọc lá thư chúc Tết ngắn hơn lệ thường với cái giọng buồn buồn ấy? Thiển nghĩ chắc phải có một nguyên nhân tiềm ẩn đằng sau, nghiêm trọng hơn nhiều.

Từ những ngày đầu năm 2011, bạo động đã làm chấn động quốc gia Bắc Phi –Tunisia với những cuộc xuống đường chống chính phủ độc tài Zine El Abidine Ben Ali của hàng ngàn người dân nước này do tình trạng thất nghiệp và giá lương thực tăng cao, mở đầu cho làn sóng chống chính phủ độc tài của nhiều quốc gia thuộc thế giới Ả Rập khác, là biểu hiện cho sự bất bình của người dâng lên lên đến mức cao nhất đối với sự cai trị độc tài về chính trị và quản lý yếu kém về kinh tế của các chính quyền sở tại. Những cuộc phản kháng bắt đầu và thành công ở Tunisia đã buộc nhà độc tài Ben Ali và gia đình phải đi lưu vong . Rồi cuộc cách mạng hoa lài này đã khởi nguồn cho một làn sóng đòi tự do dân chủ lan sang cả Ai Cập, Syria, Jordan, Yemen với “hiêu ứng domino”, đã làm cho cả một chính quyền độc tài cộng sản tàn bạo và lớn mạnh nhất thế giới như Trung cộng cũng phải lo sợ và tìm cách đối phó, huống gì những người cộng sản Việt Nam. Cổ nhân nói “đồng bệnh tương lân”, ông Triết lo buồn cũng đúng thôi. Cái căn bệnh căm ghét tự do dân chủ, sợ phản kháng là căn bệnh chung của mọi nhà độc tài khắp thế giới. Chắc không chỉ riêng ông Triết lo cho tương lai của con cháu mình mà những người cộng sản cũng hoang mang không kém cho cái tương lai không xác định của chế độ.

“Quan nhất thời, dân vạn đại”, những người lãnh đạo có thể thay nhau nắm quyền, rồi lần lượt rời khỏi ghế quyền lực, rồi cả một chế độ cũ có thể bị thay thế bằng một chế độ mới; nhưng dân chúng mới là những người nuôi sống chính quyền, những người sẽ phải chịu tai họa vì những dốt nát của nhà cầm quyền, và vì thế là những người chủ thực sự của quốc gia từ thời đại này đến thời đại khác. Ngàn đời sự thật này không thay đổi. Ông Nguyễn Minh Triết và những người cộng sản ngày hôm nay có lý do chính đáng để buồn vì tình hình quốc tế bất lợi cho họ, thì chúng ta-những “phó thường dân”, nhưng chính là những người sẽ chịu trách nhiệm cho tương lai dân tộc – có lý do để hi vọng. Đối với chúng ta, Tunisia như cánh én trong mùa xuân mới-một mùa xuân của nhiệt huyết đấu tranh cho khát vọng được thọ hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, tự do hơn.

Mùa xuân là mùa của tình yêu thương và tuổi trẻ, của nhiêt huyết và hi vọng. Tôi thương dân tộc tôi-dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm Văn hiến đã và đang phải gò lưng nuôi cả một chế độ độc tài bất công, không những thế lại bị tước hết các quyền tự do được sống như những con người chân chính và có ý chí. Trong tình yêu thương ấy, với nhiệt huyết trào dâng trong lòng một cô gái trẻ, tôi đang mơ một ngày cả nước Việt Nam từ Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, tất cả chúng ta- những người Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, Phật giáo đồ hay con Chúa…cùng xuống đường trong những khẩu hiệu chống độc tài, tham những, đòi quyền tự do dân chủ. Và rồi sẽ cùng nhau kiến tạo một Việt Nam với diện mạo mới.

Tam Kỳ, ngày 9 tháng 2 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/27417

Trở Về Đầu Trang






Thế giới có thật sự hòa bình?

Hòa bình là khao khát muôn đời của nhân loại bởi lẽ con người luôn mong ước được sống trong một không gian đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của họ. Thế nhưng lịch sử nhân loại lại được viết nên bởi vô vàn những cuộc chiến tranh và bạo loạn đẫm máu. Nói về nguyên nhân cụ thể thì thực sự khó nhưng nôm na là bởi sự khác biệt về quyền lợi và giá trị của những cộng đồng người khác nhau.

Từ sau cuộc đại chiến thế giới lần hai, tuy nhân loại chưa phải kinh qua một cuộc cuộc chiến nào có tầm vóc tương đương nhưng cũng chưa bao giờ ngưng những chết chóc vì bạo loạn. Nếu không phải là chiến tranh lạnh Mỹ – Xô thì cũng là cuộc chiến vùng Vịnh; nếu không phải là cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 chấn động thế giới thì cũng là bạo loạn vùng Tân Cương làm tổn thương lương tâm nhân loại. Thật vậy, chúng ta cổ vũ cho nền hòa bình thế giới như là sự nhân danh và bênh vực cho lẽ phải và đạo đức. Thế nhưng nền hòa bình ấy có thể đạt được không chỉ với niềm tin của chúng ta?! Hỏi như thế cũng chính là đã trả lời. Một minh chứng gần đây nhất cho những mối bất ổn, sự sục sôi của lòng người, sự mất cân bằng của xã hội tồn tại tiềm tàng trên khắp các vùng đất khác nhau trên thế giới, đó là hai cuộc bạo động của người dân chống chính quyền độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Thế giới này chưa hề thực sự hòa bình, ổn định.

Hầu như tất cả các chế độ độc tài trên thế giới từ chế độ Cộng sản Trung Quốc, chính quyền quân phiệt Miến Điện, các chế độ độc tài ở thế giới Ả Rập cho đến chính quyền cộng sản Việt Nam… đều thích hô to khẩu hiệu “hòa bình và ổn định”. Bởi lẽ nếu thế giới còn ổn định, người dân sống ở những nơi này còn cam chịu, an phận thì họ – những phe nhóm lãnh đạo độc tài sẽ tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý trên đầu trên cổ người dân, vẫn tiếp tục hết thế hệ này đến thế hệ khác nắm quyền và tác oai tác quái. Họ tuyệt nhiên không muốn có sự xáo trộn chính trị nào. Còn người dân thì lại sợ hãi khi nghĩ đến “sự lật đổ chính quyền”. Thế nhưng như người Trung hoa cổ đã nói: “Vật cùng tất phản, sự cùng tất biến”. Mọi thứ luôn có một cái mốc, cái đỉnh điểm của nó. Và khi mọi đàn áp của chính quyền và sự sục sôi, bất bình của người dân đã lên đến đỉnh điểm thì…

Hòa bình ổn định chẳng thể giữ được nếu chỉ một mặt đàn áp bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước với lực lượng quân đội và công an, một mặt tuyên truyền về sự “bình ổn”. Sự ổn định của một Nhà nước và xã hội không phải được xây dựng dựa trên nền tảng độc quyền chính trị và sự sợ hãi không dám đối kháng của người dân. Kẻ nào nghĩ như thế nhất định sẽ gánh lấy hậu quả của chính sự ngu dốt của mình. Vì sự khao khát mang tính bản năng của con người chính là hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cá nhân mình. Nó là luật tự nhiên, mọi ràng buộc có chủ ý của con người trái với luật tự nhiên sẽ dẫn đến thất bại. Lịch sử nhân loại đẫm máu nhưng cũng chính là những trang sử hào hùng ghi lại những cuộc đấu tranh không ngừng cho tự do. Con người muốn có các quyền tự do, bởi tự do sẽ chu cấp cho họ mọi phương tiện để sống một cuộc đời xứng đáng với phẩm giá của họ. Mọi sự tước đoạt quyền tự do sẽ là lời tuyên chiến với lương tri nhân loại và quy luật của Tạo Hóa.

Các chế độ độc tài luôn sợ hãi một cuộc khủng hoảng chế độ – đó là điều không bao giờ có trong tâm thức những nhà lãnh đạo ở các nước tự do dân chủ. Ở các nước dân chủ tiến bộ chỉ có thể có những cuộc khủng hoảng chính phủ chứ điều này không liên quan gì đến cả một chế độ, nó không làm suy suyển bất cứ giềng mối nào của xã hội. Bản thân chế độ dân chủ vốn có những đặc tính tạo ra sự ổn định và hài hòa một cách tự nhiên nhất. Còn ở các chế độ độc tài, nếu không giữ được ổn định nữa thì mọi thứ sẽ đổ ụp xuống trong phút chốc. Và hậu quả của việc này không chỉ có các chế độ độc tài phải gánh chịu mà nó còn ảnh hưởng nặng nề lên toàn xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là điều chúng ta không bao giờ mong muốn. Tại sao chúng ta không thể làm khác đi? Tại sao chúng ta không tạo dựng một xã hội mà ở đó mọi sự đổi thay diễn ra trong hòa bình?

Chúng ta ngợi ca hòa bình, chúng ta “chống lại việc dân tộc này sử dụng vũ lực chống lại dân tộc khác chứ không chống lại việc chính phủ của một nước sử dụng vũ lực nhằm chống lại các công dân của chính nó”. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói nổi tiếng này của Ayn Rand trong “Nguồn gốc của chiến tranh”. Bà nói điều này trong thời kỳ Chiến tranh lạnh nhưng đến hôm nay tác phẩm của bà vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Thế giới ngày hôm nay vẫn tiếp tục cổ vũ cho hòa bình theo cái cách thiếu suy nghĩ như thế. Thế giới sẽ mãi mãi không bao giờ ngưng tiếng súng nếu ở đó vẫn còn có những phe nhóm muốn đi ngược chiều lịch sử, muốn chống lại luật tự nhiên, muốn ngăn cản sự tiến bộ của nhân loại.

Như một ý rất hay trong một bài viết của ông Hà Sĩ Phu rằng: ngoài kia một chiếc lá ngô đồng lìa cành, khắp nhân gian biết rằng mùa thu đã về (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu). Hôm nay khắp thế giới chứng kiến thêm hai cuộc nổi dậy chống độc tài, lòng người hân hoan và hi vọng.

Những người cộng sản Việt Nam nghĩ gì, hay họ vẫn muốn níu kéo mùa hạ đã qua không gì giữ nổi?!

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/26771

Trở Về Đầu Trang






Thế hệ chúng ta- thế hệ chinh phục

Một giờ đồng hồ ngồi máy bay từ miền Trung ấm áp bay đến Hà Nội lạnh lẽo. Thủ đô những ngày “chào mừng” Đại hội Đảng Cộng sản rợp cờ và biểu ngữ, nhưng đó không phải là điều đặc biệt đối với tôi. Điều làm tôi ấn tượng nhất khi bước ra khỏi phi trường Nội Bài là những con đường đầy bụi với những hàng cây phủ một màu xám tro.Thủ đô của quốc gia bốn ngàn năm văn hiến lại được xếp hạng thứ mười một trong danh sách các thành phố ô nhiễm môi trường trên thế giới. Thoáng buồn! Thật sự không kỳ vọng gì nhiều về chuyến về thăm thủ đô lần đầu tiên này, ngoài việc đây là cơ hội được gặp gỡ các bạn trẻ từ mọi miền đất nước tụ họp về đây dưới một mái nhà chung: Nguyenthaihoc Foundation.

Chỉ hơn một ngày gặp gỡ và tụ họp-một thời gian quá ngắn ngủi để mọi mối quan hệ có thể được xác lập. Nhưng tôi đã thật sự ngạc nhiên trong niềm vui mừng khôn tả khi các bạn chào đón nhau bằng những nụ cười đầy thân ái. Đây là lần đầu tiên tôi có được cơ hội gặp gỡ và sinh hoạt với các bạn. Kinh nghiệm sinh hoạt tập thể của tôi hầu như là con số không tròn trĩnh, và thật lòng tôi không quen việc gặp gỡ và vui chơi với những người tôi chưa hề quen biết. Nhưng không khí vui vẻ và những nụ cười ấm áp các bạn dành cho nhau và dành cho tôi đã xóa tan cái lạnh lẽo và u ám của mùa đông đất Bắc. Những ánh mắt thơ ngây của những em nhỏ mồ côi được nuôi dưỡng tại chùa Bồ Đề cho chúng tôi hiểu sâu sắc rằng chúng tôi quả thật rất may mắn và chúng tôi phải có trách nhiệm sẻ chia sự may mắn và niềm ưu ái mà cuộc đời đã dành cho chúng tôi với những số phận kém may mắn ấy. Chúng tôi phải nhận lãnh vào mình trách nhiệm lương tâm đối với cuộc đời và trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.

Như trong một bài viết trước đây tôi có đề cập, trong sự kiềm kẹp của nhà cầm quyền Việt Nam, những tổ chức xã hội ở Việt Nam hiện nay không phải là xã hội dân sự mà chỉ là những đơn vị trực thuộc hay tệ hơn là cánh tay nối dài của Đảng và Chính phủ. Đa số các bạn trẻ chưa quen với sự tham gia vào mảng hoạt động tập thể này, trong đó có cả tôi. Thế nhưng buổi lễ trao học bổng mang tên người anh hùng Nguyễn Thái Học cùng với một ngày đi làm từ thiện và sinh hoạt chung của chúng tôi đã diễn ra rất suôn sẻ, vui vẻ và có tổ chức. Tuy gần hai mươi bạn trẻ từ rải rác khắp các tỉnh thành ở Việt Nam hội tụ về đây chưa thể là một sự đại diện hoàn chỉnh cho thế hệ trẻ Việt Nam nhưng nó cũng giúp tôi có được cái nhìn cụ thể và sinh động hơn về những bạn trẻ 8x, 9x của Việt Nam chúng ta. Các bạn trẻ thông minh, vui vẻ và nhiệt tình.

Các bạn tham gia học bổng của Nguyenthaihoc Foundation lần này hầu như đều đến từ những ngôi trường được xem là có chất lượng giáo dục tốt ở Việt Nam. Là những sinh viên học sinh ưu tú, thêm vào đó là sự năng động và nhiệt thành của tuổi trẻ, các bạn đã làm cho buổi sinh hoạt ngắn ngủi của chúng tôi diễn ra trong niềm vui, sự hào hứng và tình yêu thương.

Cũng là một người trẻ, lâu nay tôi vẫn giữ trong tim một niềm tin và hi vọng vào nhiệt huyết và tài năng của thế hệ trẻ Việt Nam có khả năng làm thay đổi diện mạo của đất nước này. Gặp các bạn, niềm tin ấy trong tôi càng được khẳng định. Tôi sung sướng nhìn những nụ cười rạng rỡ và những ánh mắt đầy tin yêu của các bạn-niềm tin yêu nhau và tin yêu cuộc đời. Giữa Hà Nội giá rét, lòng tôi ấm áp và tin tưởng. Tôi đã ở bên các bạn, không nói nhiều, không thể hiện nhiều nhưng tôi muốn các bạn biết rằng các bạn đã làm cho ngọn lửa tin yêu và hi vọng trong lòng tôi cháy sáng hơn bao giờ.

Tôi biết rằng các bạn vẫn còn quá trẻ và trong hoàn cảnh xã hội hiện nay các bạn chưa có nhiều cơ hội để có những hiểu biết sâu rộng hơn về thực trạng xã hội Việt Nam cùng với những vấn nạn mà chúng ta-những chủ nhân tương lại của đất nước phải có trách nhiệm gánh vác. Nhưng tôi cũng tin rằng việc sinh hoạt tập thể trong một tổ chức chung như Nguyenthaihoc Foundation sẽ tạo cho chính tôi cũng như các bạn một mội trường tốt để khẳng định mình và góp cái tài sức nhỏ bé nhưng quan trọng của mình tạo nên những lợi ích cho cộng đồng. Xã hội dân sự Việt Nam què quặt nhưng những cơ hội sinh hoạt như thế này sẽ như một dòng nước nhỏ để cùng với vô vàn những dòng nước nhỏ khác đã và đang chảy, len lỏi khắp Việt Nam, một ngày nào đó sẽ hòa thành biển lớn, sẽ cùng tạo thành một xã hội dân sự thực sự và kiên cố cho Việt Nam, đặt nền tảng cho một Việt Nam dân chủ tự do, hài hòa và thăng tiến. Các bạn và tôi -những con người của thế hệ mới, thế hệ của sự xông pha, vượt mọi rào cản để sáng tạo những giá trị mới với tình yêu, nhiệt huyết và tài năng khoa học sẽ là động lực để thúc đẩy những thay đổi tích cực trong xã hội, kiến tạo một nước Việt Nam tương lai-một Việt Nam kiêu hãnh hơn, phồn thịnh hơn, một dân tộc Việt Nam hạnh phúc hơn sau bao nhiêu đổ vỡ của quá khứ.

Xin được kết thúc bài viết này bằng lời chào yêu thương đến các bạn của tôi-những thành viên Nguyenthaihoc Foundation và mượn câu nói nổi tiếng của Tổng thổng Mỹ Obama để nhắn gởi đến các bạn cũng như đến tất cả các bạn trẻ Việt Nam rằng: CHANGE WE CAN BELIEVE IN!

© Huỳnh Thục Vy (Bài và ảnh)

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/26293

Trở Về Đầu Trang






Chính trị là gì?

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi rằng mình có nên tiếp tục viết về đề tài chính trị chăng? Đối với nhiều người , chính trị có vẻ như là một vấn đề quá lớn lao-điều mà thường không dành cho những người còn quá trẻ. Mặc dù có nhiều người chia sẻ với tôi, nhưng cũng không ít người cho rằng tôi không nên đi sâu vào đề tài này vì rằng những gì tôi đã viết có vẻ như không xuất phát từ một cái đầu của con bé hai mươi lăm tuổi. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều và tự hỏi rằng chính trị có phải chăng là một miền tri thức và lĩnh vực hoạt động chỉ dành cho các chính trị gia chuyên nghiệp hoặc ít ra cũng là dành cho các bậc trưởng thượng?!

1/ Những biểu hiện tiêu cực của chính trị

Lúc nhỏ khi vẫn còn là một cô bé con, trong đầu óc mơ hồ của tôi, chính trị là một cái gì đó rất phức tạp và nguy hiểm, nó làm mỏi trí nghĩ của những người không chuyên và rằng chính trị là ấu trĩ, là phiêu lưu, là cực đoan, là “bẻ gậy chống trời”. Vì cuộc sống của gia đình tôi đã bị đẩy vào tình trạng cực kỳ tồi tệ sau cái bản án “chính trị phạm” mà nhà cầm quyền đã tuyên cho ba tôi. Chính trị là cái gì, làm sao nó tốt đẹp được trong khi người ta dùng nó để đày đọa con người đến chỗ khốn cùng và có thể là đến cái chết?!

Lớn lên chút nữa, tôi mang vào tâm trí ngây thơ của mình những cuộc tranh giành quyền lực, những cuộc đổi thay triều đại đẫm máu trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung Hoa và Liên Xô “thành trì xã hội chủ nghĩa” qua những trang sử tan tóc. Tôi thực sự cảm thấy hãi hùng về cái cách mà con người đối xử với nhau nhân danh chính trị .

Chúng ta vẫn nghĩ rằng làm chính trị là mua bán đổi chác (kể cả quê hương đất nước) để thủ lợi cho riêng mình hay cho phe nhóm của mình nhưng lại nhân danh những lý tưởng cao quý….Ví như việc hàng triệu thanh niên thiếu nữ miền Bắc ruột thịt đã được động viên nhân danh ý thức hệ và “lòng yêu nước” của những người cộng sản để rồi tiến vào miền Nam gieo chết chóc tan thương thực tế chỉ để phục vụ cho mưu đồ quyền lực của một nhóm nhỏ người lãnh đạo….Trong cái trí nghĩ non nớt của tôi và có lẽ cũng là của biết bao bạn trẻ khác đầy cảm giác sợ hãi và ghê tớm chính trị.

Trong chương trình đại học, chúng tôi được dạy rằng Nhà nước ra đời từ một xã hội có các giai cấp mâu thuẫn đối kháng nhau, là một tổ chức đặc biệt do giai cấp thống trị sử dụng để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình.Và rằng chính trị là hoạt động liên quan đến quyền lợi giai cấp, dân tộc, quốc gia và xoay quanh một vấn đề trung tâm là giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước. Từ những hiểu biết đó, bao thanh niên Việt Nam thường có cảm giác bất an khi đề cập đến chính trị, đến nỗi nếu có ai đó muốn khẳng định mình “tốt đẹp” thì người đó phải chứng minh rằng mình không quan tâm, không dính dáng gì đến chính trị vì chính trị là hoạt động của những kẻ đầy dã tâm, là “kẻ thù giai cấp”.

Và gần đây những vụ án chính trị xảy ra liên tiếp ở Việt Nam trong giai đoạn từ khi bắt đầu thế kỷ 21 đến nay mà nhà cầm quyền sử dụng hết công suất những phương tiện truyền thông đại chúng để bêu riếu, hạ nhục những con người yêu nước, tô vẽ họ như những nhân vật “bất hảo”, kẻ thù của dân tộc như Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn văn Đài, luật sư Lê thị công Nhân. Nhà cầm quyền Việt Nam với những ưu thế của mình (một thứ ưu thế bất công) đã chụp lên đầu những nhà hoạt động dân chủ này những tên gọi khủng khiếp làm cho những ai thiếu thông tin (nhất là những người trẻ ) hoảng sợ, và không ít người có một cái nhìn ngờ vực, khó hiểu về những con người cao quý này; làm cho họ hoài nghi không dám tin vào bất cứ điều gì cao đẹp.

Từ cuối năm 2010 đến nay, nhà cầm quyền VN siết chặt vong kiềm tỏa đối với trang mạng xã hội Facebook, vậy là nhiều người đã lên tiếng đỗ lỗi cho những ai bàn đến vấn đề chính trị: “Nếu các người không bàn đến chính trị thì sao người ta phải chặn Facebook, làm ảnh hưởng đến cả chúng tôi?” Và rằng mỗi khi có ai bức xúc lên tiếng chỉ trích, phê phán nhà cầm quyền thì liền bị cho là “những kẻ ăn khoai lang mà bàn chuyện quốc gia đại sự”. Chúng ta nhận thấy rõ ràng một sự từ chối thẳng thừng từ đại đa số người dân đối với vấn đề chính trị. Nó trở thành vấn đề nhạy cảm không chỉ bởi khi đề cập đến nó anh sẽ “khó sống” mà còn bởi người ta muốn khẳng định mình là người con người trong sáng, bình dị, đợn giản và không có tham vọng.Tôi từng nghe nhiều người bạn nói không thích chính trị vì chính trị là xảo trá và chính trị gia là những kẻ khốn nạn.

Hôm nay, tôi viết bài này mong đưa ra một vài ý kiến khã dĩ để ủng hộ cho chính trị (kể cả những người hoạt động chính trị của các tổ chức ,đảng phái và những người chỉ có bày tỏ một thái độ chính trị) trước sự chối bỏ của mọi người và cũng nhằm tạo sự chính danh và một căn bản đạo đức cho những ai đã, đang và sẽ bàn luận và hoạt động về chính trị.

2/ Hai quan điểm lý luận khác nhau về chính trị

Từ “chính trị” có lẽ được nhắc đến lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bởi Aristotle-một triết gia Hi Lạp cổ đại, đặc biệt nó còn là tựa đề cho một tác phẩm nổi tiếng và nhiều ảnh hưởng của ông –cuốn “Politics” (Chính trị luận). Tuy nhiên từ “Chính trị” và các vấn đề chính trị cơ bản như quyền lực và tổ chức nhà nước đã được tiếp cận bởi các triết gia khác như Khổng Tử, Plato….Dù Aristotle đã khẳng định con người là động vật chính trị, mọi công dân có đạo đức (không có nô lệ và phụ nữ) đều có quyền tham gia chính trị, nhưng một điểm chung lớn trong lý luận của các triết gia cổ đại này là quyền lực chính trị tốt nhất nên được nắm giữ bởi những ông vua thông thái! Vì thế chính trị ở đây có nghĩa là nghệ thuật cai trị và quản lý thành bang của một nhà lãnh đạo lỗi lạc, xuất chúng hay là Khoa học giành và nắm giữ vương quyền cha truyền con nối trong thiên hạ. Dưới nhãn quan này đại bộ phận dân chúng bị gạt ra bên lề của các cuộc chơi chính trị. Rồi khi có được quyền lực trong tay những kẻ cầm quyền đã tạo nên bao nhiêu sự tha hóa, mục ruỗng trong bộ máy lãnh đạo và bao nhiêu vấn nạn quốc gia mà hậu quả của tất cả vấn đề này đổ cả lên đầu người dân.Từ đó mặc nhiên chính trị được hiểu như một thứ xấu xa, là đặc quyền của kẻ thống trị, đối kháng với lợi ích và cuộc sống bình dị của người dân.

Nhưng nền văn minh nhân loại đã bước qua một trang mới hoàn toàn khác, cùng với sự ra đời của nhiều luận thuyết cổ vũ cho chủ nghĩa tự do. Mà một sự cổ vũ to lớn cho lý tưởng này là sự ra đời của một nhà nước hiến pháp đầu tiên trên thế giới-Nhà nước Mỹ. Từ đây cả thế giới làm quen với một lý thuyết hoàn toàn mới về nguồn gốc và bản chất của Nhà nước, rằng nhà nước không phải là một thế lực thống trị xã hội mà chính là một tổ chức quyền lực công, được người dân trao cho quyền lực để đổi lại họ được sống dưới sự bảo vệ của Nhà nước và một trật tự luật pháp do Nhà nước ban hành (luật pháp không trái với đạo đức và luân lý); và rằng quyền lực chính trị đó không thể là quyền lực tuyệt đối vì “quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối” (Lord Acton ). Dưới nhãn quan triết học này, quyền lực chính trị xuất phát từ dân chúng, nó được tạo lập để phục vụ xã hội. Chính trị là nghệ thuật hay khoa học vận hành và quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước nhưng nó phải bị hạn chế bằng luật pháp và được giám sát bởi người dân thông qua các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo. Như vậy người dân mọi thành phần có đủ tư cách để tham gia gián tiếp vào nền chính trị quốc gia bằng những hoạt động xã hội cụ thể của mình; quyền tự do báo chí cho phép người dân phát biểu quan điểm của mình đối với tất cả các vấn đề của quốc gia; hơn nữa mọi công dân đủ tiểu chuẩn pháp quy đều có khả năng tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước một cách trực tiếp. Từ nay chính trị chẳng còn là vương quyền cha truyền con nối, cũng chẳng còn là đặc quyền của những người thuộc tầng lớp quý tộc. 3/Thái độ và hành động của chúng ta

Chúng ta đã từng gán ghép cho chính trị những đặc tính tiêu cực. Chính trị chỉ là một thiết chế do con người tạo ra. Con người không hoàn hảo và đặc biệt là luôn tư lợi nên quyền lực chính trị luôn dễ bị lạm dụng. Xa lánh và căm ghét chính trị không phải là thái độ tích cực, chúng ta cần thiết nhận ra rằng điều duy nhất chúng ta có thể làm được đó là tạo lập một cơ chế vận hành mà ở đó người lãnh đạo dù chẳng phải là con chiên ngoan đạo của Chúa Jesus, cũng không phải là một tín đồ Phật giáo thuần thành thì anh ta cũng không dám làm những việc đi ngược với lợi ích nhân dân.

Đến nay, lý tưởng tự do dân chủ đã trở thành một giá trị phổ quát toàn cầu. Vì những giá trị lý luận và thực tiễn không thể chối bỏ của nó trong hệ thống chính trị quốc gia nói riêng và trong việc thăng tiến nền văn minh nhân loại nói chung, ngày nay khắp thế giới người ta tung hô nó, nhân danh nó. Ngay cả những tên độc tài cũng cố gắng tổ chức những cuộc bầu cử hoành tráng. Bởi sự thắng thế của quan điểm triết học theo chủ nghĩa tự do như đã nói trên, nên dù có lý luận thế nào chúng ta cũng không thể phủ nhận sự cần thiết và chính danh của việc tham gia vào sinh hoạt chính trị của mọi tầng lớp nhân dân.Tôi trao quyền cho anh thì tôi phải có quyền kiểm soát anh, tôi phải được biết anh làm gì và làm như thế nào với quyền lực đó. Còn nếu như anh nói anh đã cướp được chính quyền từ tay ngoại bang thì anh muốn hành xử thế nào cũng được thì chính anh đã khẳng định mình là một tên cướp. Chúng ta-những người dân thường trao quyền cho họ rồi cứ để họ làm gì thì làm, chà đạp lên quyền làm chủ, phủ nhận quyền tự do và phẩm giá của chúng ta thì chúng ta có khác gì những người nô lệ bán mình vô điều kiện cho chủ nô?!

Từ lúc sinh ra, cuộc sống của chúng ta đã được định hình, chúng ta mặc nhiên nhận lãnh vào mình một phần trách nhiệm đối với quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Chúng ta khép mình vào một trật tự chung của xã hội. Tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chính trị. Bạn nghĩ là bạn tảng lờ đi thì chính trị nó không chạm được vào cuộc sống của ban sao? Dù bạn có ý thức được hay không, có chấp nhận hay không, khi bạn là một thành viên của một cộng đồng người sống dưới sự cai quản của một tổ chức mang quyền lực Nhà nước thì tất tần tật mọi thứ trong cuộc sống của bạn không thể tránh khỏi ảnh hưởng của nền chính trị. Vì thế cứ lặng im, mặc cho kẻ cầm quyền lộng hành chính là chúng ta đã “giao trứng cho ác”, chúng ta đã tự nguyện khoán trắng cuộc sống và tương lai của chúng ta cho những kẻ chẳng ra gì. Vậy chúng ta đã thật sự làm chủ và có trách nhiệm đối với chính cuộc sống chúng ta chưa?! Trong bài này, tôi không muốn nhân danh Tổ quốc, dân tộc nữa, tôi muốn nhân danh cuộc sống của chính tôi để khẳng định rằng tôi và mọi người dân Việt Nam có quyền tham gia chính trị, không phải để trở thành ông nọ bà kia mà để đảm bảo cho xã hội phát triển theo xu hướng tích cực vì lợi ích trước mắt và lâu dài của tất cả chúng ta, để ngăn chặn kẻ cầm quyền không đưa cả dân tộc trong đó có chúng ta đến bờ vực. Chúng ta có tư cách để ít nhất là có thể bàn về chính trị nhằm mưu cầu một cuộc sống tự do, sung túc và an ninh với tất cả phẩm giá con người.

Thay cho lời kết, tôi muốn nhắn nhủ rằng nếu bạn chối bỏ chính trị rồi có ngày bạn sẽ hối hận vì điều đó. Nếu bạn không sợ hãi, không lo lắng cho an ninh của bản thân và gia đình thì mọi lúc mọi nơi bạn luôn có thể bàn về chính trị với một sự tự tin rằng bạn là chủ thể của quyền lực Nhà nước, bạn tham gia bàn bạc và thực hiện các quyền chính trị là để thúc đẩy tiến bộ và phúc lợi xã hội. Đừng sợ hãi trước những cáo buộc của người khác rằng chính trị không dành cho bạn và chính trị là khốn nạn hay nghiêm trọng hơn là ”phản động”.Thực hiện các quyền chính trị tức là bạn đã làm trách nhiệm công dân; phơi bày và phê phán những xấu xa của nhà cầm quyền là biểu hiện của tinh thần trách nhiệm; lên tiếng cổ vũ cho tự do dân chủ là một hành vi cụ thể của lòng yêu nước.

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/25297

Trở Về Đầu Trang






Xã hội dân sự và hiện tình Việt Nam

Huỳnh Thục Vy

Xã hội dân sự là một thuật ngữ xuất hiện từ thế kỷ 16 nhưng đến thế kỷ 18 nó mới trở nên phổ biến trong triết học chính trị, đặc biệt là trong chủ nghĩa tự do. Vì thế nó chẳng phải là một khái niệm mới mẻ gì ở các quốc gia dân chủ pháp trị. Nhưng trong những các nước độc tài, nhất là độc tài cộng sản thì cụm từ nay rất ít khi được nhắc đến. Hiện nay, trong các văn bản chính thức của Nhà nước và các tài liệu dành cho giáo dục thì nó hoàn toàn không được đề cập. Vì thế đối với khái niệm này, nhiều người Việt Nam cảm thấy rất xa lạ.

Đây không phải một thuật ngữ cao siêu gì và tôi cũng không có ý cho rằng kiến thức của người Việt ta hạn hẹp. Điều mà tôi muốn chia sẻ ở đây là tại sao người ta lại xa lạ với một thiết chế mà đáng lẽ ra phải rất gần gũi và rất tự nhiên đối với bất cứ một cộng đồng người nào?! Vì nhân loại từ thời chưa có sự xuất hiện của Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của đời sống cộng đồng, để bảo vệ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhu cầu sinh hoạt của chúng ta trong một tập thể là nhu cầu rất tự nhiên, vì khi con người sinh hoạt trong một tập thể sẽ thấy bản thân mình có ích cho cộng đồng, nhận được sự chia sẻ của mọi người đối với tâm tư nguyện vọng của mình và góp phần tạo nên một khối người có sức mạnh nhất định để có những hành động cụ thể trong đời sống xã hội.

1/Những mô tả chung về xã hội dân sự

Xã hội dân sự là một tổng thể các tổ chức và định chế dân sự tự nguyện, tự vận hành và tự quản, là một mảng hoạt động của xã hội mang tính tập thể, khác biệt và độc lập với Nhà nước và thị trường. Các tổ chức xã hội dân sự được đặc trưng bởi tính “phi chính phủ” và “vô vị lợi” bởi sự tách biệt với các cấu trúc quyền lực Nhà nước và hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các tổ chức kinh tế tài chính. Đó là một vũ đài riêng biệt cho các thành viên cùng chia sẻ các mối quan tâm, mục đích và giá trị chung.

Ngày nay, các tổ chức xã hội dân sự khắp nơi trên thế giới tồn tại dưới hình thức các hiệp hội, hội từ thiện, công đoàn, phong trào xã hội, phong trào tôn giáo, hiệp hội nghề nghiệp và hội luật gia… Chúng chỉ hoạt động dưới sự ràng buộc của pháp luật và các giá trị văn hóa, hoàn toàn không bị chi phối bởi các Nhà nước.

Đặc tính tự quản, tự nguyện và không mang tính cưỡng chế của quyền lực chính trị giúp cho xã hội dân sự thực sự là môi trường để mọi người dân bày tỏ quan điểm, trình bày suy tư nguyện vọng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Chính ở đó, cá nhân nhận được cơ hội thể hiện tư duy dân chủ và bộc lộ nhân cách dân chủ qua việc phát biểu quan điểm cá nhân, chấp nhận khác biệt, thảo luận để đạt được sự đồng thuận, và thể hiện tinh thần trách nhiệm. Chính từ những cá nhân này, các phong trào và tổ chức dân sự trở nên những hoạt động linh hoạt và có đủ sức mạnh nội tại để đóng góp vai trò của mình trong xã hội như: sáng kiến pháp luật, hoạch định chính sách, giám sát hoạt động của chính quyền và thực hiên phản biện xã hội. Vì vậy, không quá lời khi nói rằng xã hội dân sự là lĩnh vực xã hội đại diện cho quyền lợi người dân, thể hiện sức mạnh làm chủ của người dân để đối trọng với quyền lực Nhà nước. Xã hội dân sự tạo nền tảng cho nền dân chủ và ngược lại các thiết chế dân chủ sẽ củng cố và tạo điều kiện phát triển cho xã hội dân sự. Từ tính chất và vai trò đó, xã hội dân sự là một vũ đài không thể thiếu trong một xã hội văn minh, và là biểu hiện cơ bản của nền dân chủ thực sự, góp phần tạo dựng một xã hội năng động, phồn vinh và nhân bản.

2/ Hiện tình xã hội dân sự ở Việt Nam

Những người cộng sản khắp nơi trên thế giới nói chung và những người Cộng sản Việt Nam nói riêng đã bắt gặp chủ nghĩa cộng sản khi sống ở châu Âu- những xứ sở của xã hội dân sự và nền pháp trị. Họ tuyên bố sẽ đào mộ chôn chủ nghĩa tư bản thì chắc chắn họ hiểu rất rõ đối phương. Họ hiểu được nguyên tắc nền tảng của một nền dân chủ với vai trò rất quan trọng của xã hội dân sự. Tuy vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nền dân chủ ở những quốc gia thuộc thế giới thứ nhất chưa đạt đến trạng thái như chính nó ngày nay.

Trước khi giành được chính quyền, những người cộng sản Việt Nam đã lập nên nhiều hội đoàn như: Đoàn Thanh niên phản đế, Công hội, Hội cứu tế bình dân… hoạt động trong lòng chế độ thực dân Pháp để tạo cơ sở cho việc truyền bá tư tưởng cộng sản, kết nạp thành viên mới và tập hợp sức mạnh quần chúng (những người nông dân hiền lành, chất phác chẳng biết cộng sản là cái giống gì). Họ hiểu biết rất rõ sức mạnh mà các tổ chức quần chúng này tạo nên, đồng thời cũng biết rõ tính hợp pháp của các tổ chức này vì dưới chế độ thực dân Pháp ít ra người dân ta còn có được quyền tự do lập hội.

Vì thế khi giành được quyền cai trị đất nước, đưa miền Bắc từ năm 1954 và cả nước từ sau năm 1975 vào quỹ đạo cộng sản, họ đã không để mình phạm “sai lầm” khi biết rõ cái nguồn gốc sức mạnh quần chúng có thể đánh đổ chế độ; nên thay vì phân quyền, họ có cái gọi là tập trung dân chủ, tam quyền thống nhất; thay vì tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển họ biến những tổ chức này thành công cụ (ngay cả giáo hội cũng là giáo hội “quốc doanh”) để kiểm soát đời sống người dân từ những hoạt động nhỏ nhất.

Các nhà lý luận cộng sản khẳng định các tổ chức xã hội là một bộ phận của hệ thống chính trị, mà trong đó Mặt trận Tổ quốc là thiết chế quan trọng nhất. Mặt trận này là một tổ chức liên hiệp của các tổ chức xã hội có uy tín và có sức mạnh nhất, nó bao gồm nhiều tổ chức thành viên như : Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn… Điều 9 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở của chính quyền nhân dân”. Mới thoáng nghe mọi thứ có vẻ như rất dân chủ vì họ khẳng định như vậy có nghĩa là các tổ chức xã hội có quyền lực chính trị, là một bộ phận trong hệ thống chính trị kia mà! Nhưng không, người cộng sản rất giỏi chơi chữ. Thay vì để cho Mặt trận Tổ quốc được hoạt động tách biệt với chính quyền, họ kéo nó vào hề thống chính quyền, hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Việc quản lý, tuyển dụng nhân sự, chính sách lương bổng và ngân sách cuả Mặt trận Tổ quốc do Nhà nước cộng sản quyết định và chu cấp. Các cá nhân lãnh đạo của Mặt trận được gọi là cán bộ, các nhân sự khác thì được gọi là công chức. Vậy thì hầu như toàn bộ các tổ chức xã hội quan trọng nhất của Việt Nam nằm trong hệ thống chính quyền, nó hiển nhiên đại diện cho quyền lực Nhà nước chứ không còn là mảng hoạt động dân sự theo ý nguyện của người dân nữa. Vậy thì lấy gì để mà đối trọng với chính quyền?! Nhưng thê thảm hơn là tuy Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên nằm trong hệ thống chính trị được danh nghĩa trao cho những quyền lực chính trị nhất định nhưng thực chất các tổ chức này là cánh tay nối dài của Đảng cộng sản chứ không có thực. Còn các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác như các đoàn luật sư thì hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền. Thêm vào đó là sự siết chặt gọng kiềm của chính quyền đối với quyền tự do lập hội theo thể thức xin-cho. Theo Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 về tổ chức,hoạt động và quản lý hội thì các hội, hiệp hội hoạt động trong phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh đều do Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho phép thành lập và phê duyệt điều lệ hội. Điều đó có nghĩa là việc thành lập một hội đoàn mới mà mục đích hoạt động có liên quan đến những vấn đề bị cho là có ảnh hưởng xấu đến quyền lãnh đạo của Đảng là điều không thể thực hiện được; hoặc nếu có thành lập được thì cũng sẽ bị đưa ra ngoài vòng pháp luật bất cứ lúc nào khi có những hoạt động phản kháng xảy ra. Vì vậy không ngoa chút nào khi chúng ta nói rằng Việt Nam không có xã hội dân sự.

Từ sau cái gọi là “đổi mới” năm 1986, Việt Nam hội nhập vào sân chơi quốc tế nhất là về thương mại, văn hóa, giáo dục. Nhiều tổ chức phi chính phủ thế giới đến hoạt động tại Việt Nam. Nhưng họ chỉ hoạt động như những tổ chức từ thiện, nói cách khác là họ chỉ đi giúp Việt Nam xử lý nhất thời những hậu quả xã hội do nền chính trị độc tài và nền kinh tế yếu kém tạo ra. Còn các hội đoàn của chúng ta thì im hơi lặng tiếng, không những không giúp gì được nhiều cho đời sống cộng đồng mà còn làm hao tổn ngân sách quốc gia cho những hoạt động thường xuyên của họ chỉ để làm mỗi một việc là tuyên truyền cho Đảng cộng sản và kiểm soát những động thái của người dân. Mặc dù đã có những bước chuyển mình trong xã hội dân sự Việt Nam thời gian gần đây qua những phong trào phản kháng của giáo dân, những cuộc biểu tình của sinh viên nhưng nói chung xã hội dân sự Việt Nam còn quá yếu ớt và nhỏ bé.

3/Xã hội dân sự và đấu tranh bất bạo động

Những nhà đấu tranh cho dân chủ Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay đang cổ vũ cho phương pháp đấu tranh bất bạo động. Phải công nhận rằng đây là một phương pháp đấu tranh nhân bản. Ngày trước, Marx đã cổ vũ cho “bạo lực cách mạng” trong những thể chế mà ta có thể đạt được sự thay đổi và giải quyết mâu thuẫn xã hội một cách ôn hòa bằng đấu tranh bất bạo động thông qua các tổ chức dân sự hoặc các phong trào quần chúng. Đó chính là một sai lầm to lớn của ông. Ngày nay, người dân Việt Nam đang sống dưới một chế độ độc tài, không có xã hội dân sự theo đúng nghĩa, thì chúng ta lại cổ súy cho đấu tranh bất bạo động (tôi không muốn nói chúng ta phải đấu tranh bạo động) thì tôi cảm thấy ở đây rõ ràng có một trục trặc rất lớn.

Mahatma Ganhdi sở dĩ có thể dùng phương thức “bất hại” để đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh vì Ấn Độ thời ấy tuy là một nước thuộc địa, nhưng nó vẫn được chia sẻ những giá trị về nền pháp trị và sự hoạt động tự do của xã hội dân sự do “mẫu quốc” mang lại. Martin Luther King, Jr. đã thành công trong cuộc tranh đấu đòi quyền bình đẳng cho người da đen ở Hoa Kỳ, đưa đến sự ra đời của Đạo luật Dân quyền năm 1964 và Đạo luật về Quyền bầu cử năm 1965, vì chính cái chế độ mà ông đã sống bản thân nó có cơ chế dân chủ, có khả năng thay đổi và hoàn thiện bằng những phong trào dân sự của quần chúng, miễn là nó đi kèm với sự đấu tranh kiên trì.

Bởi vậy, theo thiển ý của tôi, chúng ta phải chắc chắn rằng Việt Nam có xã hội dân sự mạnh mẽ khắp đất nước, chúng có đủ sức mạnh nội tại để đối trọng với quyền lực Nhà nước, mà bất cứ một phản ứng tiêu cực nào từ phía chính quyền đều không thể thực hiện được khi nổ ra một phong trào đấu tranh; hoặc là cục diện thế giới và khu vực có khả năng tác động đến thái độ và hành động của nhà cầm quyền cộng sản khiến họ lo lắng cho tương lai của chính họ mà không thực hiện những biện pháp đàn áp cứng rắn. Nếu không, mọi cuộc tập hợp dân sự phản đối chính quyền sẽ bị đàn áp không thương tiếc!!

Từ nay cho đến lúc chúng ta xây dựng được những phong trào quần chúng và các tổ chức xã hội có đủ sức mạnh, tôi không biết là mất bao nhiêu thời gian; cho đến lúc đó tình hình thế giới và khu vực có những biến chuyển gì tác động to lớn đến tình hình chính trị Việt Nam hay không? Và chúng ta phải làm gì để khởi động hiệu quả các phong trào quần chúng hay các tổ chức xã hội dân sự đó? Đó là câu hỏi tôi luôn thắc mắc. Và hôm nay xin gởi câu hỏi này đến cho những nhà dân chủ tiền bối-những người có đủ khả năng hoạch định những chiến lược đấu tranh dân chủ đúng đắn cho Việt Nam.

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/22786

Trở Về Đầu Trang






Tôi vô tình học luật

Hồi học cấp ba, tôi mong muốn được vào học ở một trường Đại học ngoại ngữ, rồi học tiếp để nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ học để trở thành một nhà ngôn ngữ học hay một dịch giả. Thế rồi ba tôi ở tù về, lúc đó tôi học lớp 12. Nhà chẳng có tiền để tôi vào Đại học, giấc mơ trở thành nhà ngôn ngữ học vỡ tan tành. Sau mấy năm đi làm công nhân cho mấy công ty nước ngoài ở một khu công nghiệp, tôi đi học trở lại , nhưng vì em gái tôi đã đi học nên tôi chỉ có thể học đại học ở hệ đào tạo từ xa (vừa học vừa làm). Ba bảo tôi học luật, vì học luật chỉ cần đọc nhiều sách, có tư duy logic là được. Quả thực lúc đó tôi không thích mấy vì nghĩ mình chỉ có năng khiếu ngôn ngữ và viết văn chứ không có khả năng tranh biện – điều kiện cần thiết của một luật sư. Nhưng cuối cùng, vì tin tưởng vào những lời thuyết phục của ba, tôi nhắm mắt học luật.

Trở thành một luật sư là giấc mơ tuổi trẻ của ba. Trước 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, ba tôi chỉ là một cậu nhóc. Một lần, ba nhìn thấy trong một vụ tranh tụng một ông luật sư mặc bộ complet thật oai, tranh biện trước tòa thật hùng hồn, giấc mơ trở thành luật sư nhen nhóm trong ba. Hình ảnh ông luật sư oai phong ấy và giấc mơ thành luật sư ba ấp ủ từ những ngày ấy. Rồi đùng một cái, quân đội cộng sản Bắc Việt tổng tấn công “giải phóng” miền Nam.Thế là không luật pháp, luật sư gì nữa cả. Luật sư là một “giống người” chỉ có trong xã hội tư bản, chứ trong xã hội XHCN thì cần gì luật sư. Luật pháp chính là Đảng cầm quyền, với “nền chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân”, chủ trương “bạo lực cách mạng”. Luật pháp của họ chính là nòng súng và nhà tù. Ai muốn “thọc gậy bánh xe” không cho Đảng yên vị lãnh đạo cả dân tộc “tiến lên CNXH” thì coi như không chết cũng khó sống.

Tôi có thể hiểu được sao lúc đó ba tôi mơ ước thành luật sư. Tuy tôi chỉ nghe ba kể và đọc một số tài liệu lịch sử trên mạng về Việt Nam Cộng hòa, nhưng tôi nghĩ rằng mình có thể hình dung khá tổng quan về chế độ VNCH. Với hai nền cộng hòa, chúng ta không thể nói đây là một thế chế dân chủ pháp trị hoàn chỉnh nhưng có thể nói đây là một nền dân chủ non trẻ, tuy đối mặt với nhiều khó khăn trong thời chiến nhưng vẫn đạt được những thành tựu không thể phủ nhận so với các quốc gia Đông Nam Á đương thời. Lúc đó chúng ta có tất cả những yếu tố nền tảng để có thể xây dựng một nền dân chủ thực thụ. Dù là một quốc gia đang trải qua những giai đoạn chiến tranh khốc liệt, nhưng trong cuộc sống hằng ngày của người dân vẫn luôn hiện diện một nền luật pháp khá mạnh mẽ. Nếu không nói đến những vấn nạn như cửa quyền, tham nhũng (không đến nổi nghiêm trọng như bây giờ), chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn và sự ngự trị đầy quyền uy của nền luật pháp dân chủ trên xứ sở này. Tôi nhiều lần nghe ba kể rằng: mấy ông cộng sản “nằm vùng” đánh phá cầu cống, trường học bị vây bắt, nếu không bị chết tại hiện trường thì đều được đem ra tòa xét xử có luật sư hẳn hoi. Ngay cả mấy ông tình báo và nhà văn, nhà thơ thân cộng hoạt động chống lại chính quyền VNCH cũng được luật pháp dân chủ bảo vệ, được xét xử trước tòa dưới sự bào chữa của những luật sư, mà không ai có thể tước đi cái quyền đó của họ. Những người hành nghề lụật sư dưới thời VNCH quả có “uy” thật, vì dưới ánh sáng của luật pháp họ có thể dùng cái đầu và “ba tấc lưỡi” để thay đổi bản án của tòa dành cho thân chủ họ. Thế nên những luật sư như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Ngô Bá Thành mới có thể dùng quyền uy mà chế độ dân chủ pháp trị trao cho họ để tấn công chính nền dân chủ non trẻ này.

Trong một quốc gia pháp trị, luật sư có một vai trò hết sức đặc biệt. Nếu công tố viên (district attorney) là những luật sư công, đứng về phía quyền lực nhà nước, bảo vệ nền công lý và lợi ích chung của toàn xã hội, thì chúng ta lại cũng có những luật sư tư nhân (lawyer) làm công việc ngược lại, đó là bảo vệ lợi ích các cá nhân. Đôi khi chúng ta thấy những luật sư rất giỏi lại đi biện hộ cho một kẻ phạm tội. Chúng ta cho rằng điều đó là không nên, là đi ngược lại lợi ích chung sao? Câu trả lời của tôi là : nên để điều đó được thực hiện. Đứng trước một guồng máy quyền lực nhà nước hùng hậu bao gồm lực lượng cảnh sát, viện Công tố, Tòa án thì một cá nhân quả thật cô thế (cho dù đó là một tên tội phạm khét tiếng), thiết nghĩ một hay hai luật sư đứng ra bào chữa, đại diện cho lợi ích của người này quả là điều cần thiết. Kẻ có tội tất nhiên phải chịu sự trừng trị của luật pháp, nhưng họ phải bị trừng trị trong một hoàn cảnh mà ở đó phẩm giá con người của họ được xã hội thật sự tôn trọng.Vì thế để bảo vệ cá nhân, luật pháp dân chủ văn minh có “nguyên tắc suy đoán vô tội” đầy nhân bản. Nếu chúng ta phủ nhận vai trò của luật sư trong những trường hợp thế này thì cũng đồng thời phủ nhận vai trò của họ trong những trường hợp khác –khi mà cá nhân có thể bị hàm oan. Luật sư bảo vệ lợi ích cá nhân chính là một thiết chế để cân bằng, để chúng ta vừa có thể bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, vừa bảo đảm không đánh mất hay phủ nhận quyền tự do của mỗi cá nhân. Cá nhân là chủ thể cơ bản của xã hội, nếu quyền lợi cá nhân không được tôn trọng thì “lợi ích xã hội” chỉ là mỹ từ để chỉ “lợi ích băng nhóm lãnh đạo”. Luật sư trong xã hội dân chủ xuất hiện như một người bảo vệ cho cái “dinh lũy” yếu ớt và nhạy cảm nhất- đó là mỗi cá nhân.

Trong các chế độ độc tài, đặc biệt là chế độ cộng sản thời còn “chuyên chính vô sản”, không có trường luật, vì thế cũng chẳng có luật sư. Vì ở đó họ không cai trị bằng luật pháp, thay vào đó là bạo quyền, và quyền lợi cá nhân hoàn toàn bị triệt tiêu. Sau này, để cho “hợp thời” và không dẫm lên vết xe đổ của Liên Xô, cộng sản Việt Nam thực hiện “đổi mới”, rồi họ mở trường luật, đào tạo luật sư. Nhưng đâu phải có luật sư thì vai trò thê thảm của nền luật pháp của chúng ta sẽ được khởi sắc!…(Một thí dụ cụ thể là vào năm 1992 trong phiên tòa Sơ thẩm của Tòa án “nhân dân” tỉnh QNĐN xử ba tôi với tội danh “Tuyên truyền chống chế độ XHCN”,với bản án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế, hoàn toàn không có Luật sư và vi phạm nghiêm trọng đến chuẩn mực của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế mà nhà cầm quyền CSVN đã ký kết và cho dù lúc đó luật sư đã được phép tham gia tố tụng!). Chính nền pháp trị làm cho vai trò của luật sư được coi trong chứ không phải ngược lại. Dưới chế độ này, công tố viên (mà người ta gọi là Kiểm sát viên cho nó có màu sắc XHCN), là kẻ nắm quyền sinh sát đối với những ai phạm tội hoặc nằm trong tầm ngắm của chính quyền. Còn luật sư chỉ là những chiếc bóng mờ nhạt, yếu ớt, nói không thành tiếng. Nếu ai dũng cảm muốn làm người phát ngôn cho sự thật, bảo vệ công lý và quyền lợi người dân thì phải xem lại những tấm gương trước mắt của các luật sư: Lê Công Định, Lê Trần Luật, Nguyễn Văn Đài!….

Trước đây, tôi không hiểu vì sao trong những người đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước có khá nhiều người là luật sư nhưng bây giờ tôi đã hiểu. Từ khi học luật tôi hiểu ra khá nhiều điều dù không ít lúc phải chết dở với đống sách vở mà người viết sách cũng không tin nổi vào những gì mình viết ! Dù những kiến thức mà tôi có được không do ngôi trường XHCN này mang lại nhưng nó cho tôi manh mối để tìm đến với những tác phẩm mang tính lý luận chính trị sáng giá của những nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới, để rồi tôi biết được những gì mình có thể làm được với những kiến thức này. Khác với những ngành học khác, ngành luật cho chúng ta cách tiếp cận trực diện với những vấn đề liên quan trực tiếp đến chính trị như : nguồn gốc và bản chất của nhà nước, bản chất của nền luật pháp, nhân quyền và dân quyền….Tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, sinh viên luật là những người có nhiều cơ hội để tiếp cận những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật để có cái nhìn cụ thể về những vấn đề này, rồi đem so sánh với hiện tình đất nước của chúng ta. Khi nhận diện được vấn đề từ giác độ lý luận, chúng ta sẽ hiểu sâu sắc sự cần thiết của một nền dân chủ pháp trị; một nhu cầu bức bách, không thể khoan nhượng về nhân quyền và dân quyền trong việc phát triển quốc gia.

Ý thức pháp luật là một hình thức ý thức xã hội mang tính chính trị sâu sắc, ảnh hướng to lớn đến đời sống chính trị -xã hội, nên khi người dân càng có ý thức pháp luật cao thì càng nhận thức được quyền làm chủ đất nước của chính mình, càng nhận rõ được những vấn đề khó khăn của quốc gia là do hình thức và bản chất của nhà nước và nền luật pháp. Thế nhưng không giống như người dân ở các quốc gia dân chủ văn minh, người dân Việt Nam (có thể nói) hoàn toàn mù tịt về luật pháp, vì nó chẳng bảo vệ lợi ích của họ thì họ quan tâm làm gì! Và hệ lụy của sự thiếu vắng này là người dân hoàn toàn không có hiểu biết căn bản về những quyền mà mình phải được hưởng mà không ai có thể tước đoạt. Đối với người dân Việt nam hiện nay, cái được gọi là “luật pháp” chỉ như một bóng ma, chỉ chờ ai sơ sẩy là “ám” ngay. Đó chính là cái nền “luật pháp” đã dùng những “thủ thuật’ để những người trẻ tài giỏi và có hoài bão như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung phải từ chối chân giá trị của mình. Ấy thế mà có một vài người đã khen việc nhà cầm quyền dùng “thủ thuật” để những người này nhận tội hòng làm giảm uy tín của những người đấu tranh cho dân chủ hiện nay là một hành động có “tư duy chiến lược”. Tôi thật sự thất vọng vì cách nhìn nhận luật pháp theo nhãn quan như vậy…Đó không phải là luật pháp mà là thủ đoạn của ma quỷ !..Việc thực hiện những thủ đoạn như vậy là hành vi tấn công vào luật pháp và chà đạp công lý, tạo nên những tiền lệ xấu xa và nguy hiểm!

Tôi viết những dòng này khi vừa kết thúc phiên tòa Sơ thẩm xử 6 giáo dân Cồn Dầu và việc từ chối cho phép các Luật sư của văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ- Nguyễn Thị Dương Hà được tham gia bào chữa cho họ của Chánh án tòa án quận Cẩm Lệ- Đà Nẵng và việc tiếp tục câu lưu blogger Điếu Cày (Nguyễn văn Hải) sau khi đã mãn hạn tù với tội danh “trốn thuế” làm cho các quốc gia và các tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới bất bình lên án.

Những dòng này cũng là để tâm sự với các bạn cái cơ duyên tôi đến với ngành luật, để cùng các bạn bỏ ra vài phút trong cuộc sống đầy bận rộn này cùng suy nghĩ về hiện tình đất nước, với nền luật pháp đang tồn tại nhiều bất cập và bất công. Đặc biệt để tỏ lòng ngưỡng mộ Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, luật sư Lê Trần Luật, những con người kiên dũng và đầy trí tuệ. Cuối cùng là để cảm ơn ba, một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cuộc đời tôi, một người đã biến ước mơ của chính mình thành hoài bão của một đứa con gái được may mắn thừa hưởng văn tài và tư duy logic của ba.

(Tam Kỳ ngày 29 tháng 10 năm 2010)

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/20443

Trở Về Đầu Trang






Chủ nghĩa tập thể và tự do cá nhân

Nước Việt Nam ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành từ nền văn minh sông Hồng-nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước cách đây hơn bốn ngàn năm.Từ nhu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và trị thủy, tổ tiên ta đã hiểu được tầm quan trọng của sự quần cư đoàn kết của các nhóm người Việt. Rồi sau khi giành được độc lập từ tay người Hán, người Việt đã lần lượt xây dựng những triều đại phong kiến tập quyền ở trung ương, cùng với sự cổ súy và thiết chế hóa các giá trị văn hóa và luân lý Khổng Nho với tư tưởng quy tụ và “đại nhất thống”. Từ hoàn cảnh ấy, trên tất cả, chủ nghĩa tập thể đã ăn sâu vào dân tộc tính của người Việt chúng ta.

Văn hóa Khổng Nho là một hệ thống các giá trị triết học và luân lý xem xét các cá nhân con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội, chủ trương xây dựng một xã hội ổn định và “đại nhất thống” mang đặc điểm của chủ nghĩa tập thể. Mỗi cá nhân có nghĩa vụ phục tùng xã hội và tất cả những giá trị vinh danh cái toàn thể. Trong nền luân lý ấy, cá nhân không phải là một chủ thể độc lập được tự do định đoạt, tự do ý chí mà chỉ là một cá thể nhỏ bé phụ thuộc và phục vụ cái tập thể “cao quý” hơn; tập thể đó có thể là gia đình, là đẳng cấp hay lớn hơn là quốc gia. Mọi mưu cầu cho cá nhân, khác biệt với luân lý tập thể đều bị xem là tiêu cực, là ích kỷ. Mọi luân lý khác biệt với luân lý nguồn chính đều không được chấp nhận. Ở đó không có chỗ cho sự đứng lên tranh biện đúng sai mà chỉ có sự chấp nhận. Mọi người từ khi được sinh ra đã tự nhiên bị trói buộc trong ba mối quan hệ (tam cương) với những giá trị luân lý bắt buộc, không thể thay đổi. Để đảm bảo cho những giềng mối xã hội ấy được ổn định, triết lý Nho giáo chủ trương mỗi người phải có bổn phận thực hiện đúng những chuẩn mực sẵn có. Trong nền văn hóa ấy, mỗi cá nhân là những thực thể yếu đuối, không đủ sức để tạo ra những khác biệt đáng kể chứ chưa nói đến đối lập với tư tưởng dòng chính, một phần do sự chế tài của quyền lực chính trị còn phần kia là do sự áp đảo của sức mạnh ý chí tập thể.

Sự đồng thuận và hòa hợp giữa cá nhân và xã hội (như Khổng tử cổ võ) tất nhiên là điều tốt, nhưng nó thực sự là điều không phù hợp với tự nhiên. Mãi mãi không bao giờ tồn tại một xã hội mà ý chí mọi cá nhân đều phù hợp với nhau và phù hợp với toàn thể xã hội. Vì thế dùng sức mạnh chế tài của Nhà nước hay sức mạnh của ý chí tập thể để duy trì sự hòa hợp ấy thì đây là điều đồng nghĩa với sự phủ nhận phẩm giá con người.

Tôi viết những điều này không nhằm tập trung sự đả kích vào Nho giáo; nêu lên mặt hạn chế của một vấn đề không phải là phủ nhận mọi mặt tích cực của nó. Hơn ai hết, tôi luôn đặt một niềm hi vọng rằng thế hệ trẻ chúng ta sẽ là những người nhận chân được cả hai mặt tốt xấu của những giá trị truyền thống, những giá trị đặc trưng Á Đông mà dân tộc ta đã chia sẻ mấy ngàn năm qua, để định hướng và phác thảo cho những giá trị tương lai, phù hợp với hoàn cảnh mới. Nếu không làm được điều này thì chúng ta khó lòng tiếp thu những giá trị mới, những giá trị nâng đỡ cho nền tảng của một Việt Nam tự do dân chủ sau này.

Dân tộc ta đã thăng trầm trong ảnh hưởng lớn của nền văn hóa ấy, chưa từng được trải nghiệm những tư tưởng cởi trói của chủ nghĩa phóng khoáng và sự đề cao tự do cá nhân thì lại bị “hồng hóa” trong hệ tư tưởng cộng sản, cũng là một dạng của chủ nghĩa tập thể. Nhưng ý thức hệ này còn nguy hiểm gấp bội lần khi ở đó cá nhân không những không được coi trọng mà còn trở thành con cờ, là phương tiện hi sinh để đạt được cái mục tiêu mang bộ cánh ”tập thể” hay “xã hội”, trong khi nó thực sự chỉ là mục tiêu của một cá nhân hay nhóm cá nhân thống trị. Và cũng thật dễ hiểu khi chủ nghĩa cộng sản không thể tác oai tác quái ở phương Tây mà lại chạy về phương Đông để hoành hành trên những xứ sở thấm nhuần truyền thống tôn sùng “trật tự” và chủ nghĩa tập thể như ở Việt Nam ta. Sự đoàn kết, ”nhất trí’ phục vụ cho “mục tiêu chung” cao cả được cổ súy và nếu cần thì bị áp đặt bằng võ lực đã tiêu diệt mọi ước muốn tranh biện, và lòng khát khao có được quyền tự do cá nhân. Đoàn kết và thống nhất luôn là chiêu bài để ngăn chặn sự “phân hóa”, hay “phân chia”, vì phân hóa hay phân chia luôn mang ý nghĩa bất ổn, tiêu cực! Bao nhiêu năm sống dưới chế độ phong kiến, thực dân rồi cộng sản,”trật tự” và “chuẩn mực” luôn là một cái gì đó biểu trưng cho sự ổn định và tốt đẹp!?

Người ta-những người Việt Nam chúng ta đã quen với việc tuân phục một sự chỉ đạo từ trên xuống, miễn sao nó mang cái danh hiệu phục vụ cái chung và được đám đông chấp nhận,thì mọi sự kháng cự xuất phát từ cá nhân sẽ là một hành động rồ dại. Đó là cái tâm lý chung của chúng ta. Tôi đang nghĩ đến nguyên nhân vì sao hoài bão và những nỗ lực của nhà cách mạng Phan Chu Trinh gặp vô vàn khó khăn với chủ trương “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, trái ngược với sự mở rộng dễ dàng của tư tưởng cộng sản trong đám đông quần chúng Việt Nam đầu thế kỷ 20. Dân ta có thói quen muốn được người khác sắp đặt chứ không muốn tự nỗ lực!?

Quay trở lại với những hậu quả của chủ nghĩa tập thể, và tư duy giáo điều sâu đậm trong nền văn hóa nước ta. Một minh chứng tiêu biểu và khá rõ ràng cho hậu quả của lối tư duy rập khuôn, thụ động ấy được thể hiện trong nền giáo dục Việt nam đương đại. Ngành giáo dục là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, thế nhưng nền giáo dục nước ta sau bao nhiêu lần “đánh trống khua chiêng” cải cách vẫn “mèo lại hoàn mèo”, vẫn không tạo nên sự khởi sắc đáng kể nào, dù chương trình học cho học sinh phổ thông nặng nề đến ngạt thở và những kỳ thi vào đại học rầm rộ không kém những kỳ thi tuyển vào đại học Harward. Nếu vẫn giữ mãi cái phong cách dạy-học “cho-nhận” thì khó lòng có sự thay đổi nào. Bởi vì giáo dục không phải là sản xuất, giảng dạy không phải là “chế tạo” ra những lớp người với những đặc điểm hình mẫu về đạo đức và trí tuệ tiêu chuẩn nào đó mà là một sự tương tác, một sự gợi mở làm bộc lộ tài năng tiềm ẩn của học sinh. Dạy tốt tức là làm tốt vai trò của người mở khóa giải phóng năng lượng cá nhân, tạo cho học sinh cơ hội khẳng định “cái tôi’. Lãnh hội những giá trị sẵn có là điều cần thiết nhưng tư duy giáo điều, rập khuôn không phải là mảnh đất tốt để biến tài năng trí tuệ thành thành tựu khoa học. Học sinh, sinh viên Việt Nam hiện nay vẫn đang cật lực học hành trong một môi trường giáo dục chuộng “quy chuẩn” như thế, để thụ hưởng những giá trị đã sẵn có, đã được công nhận chứ không phải là để phá cách, ”vựơt rào” đến những giá trị mới mẻ. Vì vậy, ở Việt Nam không thiếu học sinh, sinh viên giỏi nhưng thiếu trầm trọng những nhà khoa học thực thụ cùng với những sáng kiến, sáng chế khoa học mang tầm vóc lớn có thể giúp ích cho sự phát triển quốc gia. Đây là cái hậu quả của nền văn hóa và các thiết chế chính trị xã hội không tôn trọng ý kiến cá nhân, và quyền tự do ý chí của cá nhân.

Nhưng đó chỉ là một trong những biểu hiện của căn bệnh nan y của hiện tình nước nhà. Một nền văn hóa kế thừa sự đề cao chủ nghĩa tập thể, trói buộc ý chí cá nhân; một nền chính trị độc tài toàn trị, phủ nhận mọi quyền tự do cá nhân; một nền kinh tế nửa mùa kém sáng tạo, đó là tất cả những gì chúng ta có thể cảm nhận khi “bắt mạch” cho xã hội Việt Nam đương đại.

Người Á Đông ưa chuộng sự ổn định và an toàn, nhưng chỉ có sự mạo hiểm trải nghiệm mới tạo nên sự phát triển của tư duy khoa học. Không ai biết được một điều nào đó là đúng hay sai cho đến khi nó được thực tế kiểm chứng. Con người có thể mắc sai lầm, nhưng chúng ta có thể sửa sai. Vì thế mỗi người xứng đáng được trao cho cơ hội quyết định những việc mình làm, và kết quả sẽ được kiểm chứng, cho họ mạo hiểm và thất bại để tìm ra một con đường mới là cách tốt nhất chứ không phải chỉ cho họ tiếp tục đi con đường cũ để được an toàn, để khỏi thất bại. Sự phát triển của xã hội không cho phép chúng ta luôn bước đi trên nhứng con đường đã được vạch sẵn. Hơn nữa, mỗi người được quyền sống hạnh phúc theo cách riêng của mình mà không phải chịu sự ngăn cản hay “định hướng” nào đó, miễn sao điều này không ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác, đó mới là điều hợp với tự nhiên nhất, vì tính đa nguyên của xã hội và là phương pháp tốt đẹp nhất để năng lực cá nhân được thể hiện. Con người sẽ sống và làm việc đạt được hiệu quả tốt nhất theo ý chí và nguyện vọng của chính mình hơn là được ai đó nhân danh Nhà nước hay xã hội chỉ bảo phải làm gì!

Tôi không phải là người theo chủ nghĩa cá nhân, nhưng thiết nghĩ việc đề cao quyền tự do cá nhân là thực sự cần thiết cho một xã hội hướng đến sự phát triển. Hiểu được tầm quan trọng của quyền tự do cá nhân, chúng ta sẽ có cái nhìn khoan dung hơn đối với những ý kiến và hành vi khác biệt; từ đó sẽ chấp nhận ý kiến phản biện và sự khác biệt với tư duy cởi mở và thái độ ôn hòa. Đó là điều mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay nên suy nghĩ và học hỏi một cách nghiêm túc.

Thế giới Tây Âu và những xứ sở tự do ở Đông Á đã tiến những bước dài trên con đường dân chủ hóa và đã đạt được những phát triển toàn diện.Trong khi Việt Nam ta mới lập cập tìm cách thoát ra khỏi đói nghèo và hiện còn phải đối mặt với biết bao vấn nạn quốc nội và đối ngoại. Dân chủ tự do là câu trả lời thỏa đáng hơn bao giờ hết, nhưng nó không phải là một món hàng, chúng ta không thể đi mua ở Mỹ một chút, ở Pháp một chút, ở Nhật một chút rồi kết hợp lại mà thành. Dân chủ đòi hỏi nỗ lực của mỗi chúng ta. Muốn có một nền dân chủ thì phải có trước hết những con người dân chủ, một con người dân chủ trước hết là người hiểu rõ tầm quan trọng của tự do cá nhân và sự đa nguyên của xã hội. Con người là chủ thể của xã hội, xã hội không thể tiến bộ với những con người yếu đuối, bị kiềm chế và không được tự do ý chí. Những người trẻ thông minh, năng động, có đủ can đảm để thoát ra khỏi cái tư duy “trật tự” và cái bóng tối của chủ nghĩa tập thể đè nặng lên cả nền văn hóa của chúng ta sẽ là những người xây dựng ngôi nhà tự do dân chủ trong tương lai cho một nước Việt Nam vốn đã chịu quá nhiều đau thương, tủi hổ và những khiếm khuyết trong nền văn hóa suốt thế kỷ 20 vừa qua.

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/17433

Trở Về Đầu Trang






Sự công bằng và nền pháp trị

Cách đây vài ngày, tôi đã nhận được tin vui từ một người bạn học thời phổ thông: anh ta vừa được nhận vào làm trong một tập đoàn truyền thông có tiếng trong nước. Anh này học hành cũng không giỏi giang gì, chỉ vì gia đình anh có công với “cách mạng” nên được ưu đãi thôi. Rồi mới hôm qua đây tôi lại nhận được một tin kém vui từ người bạn gái mà tôi yêu mến nhất: cô ấy tốt nghiệp loại khá nhưng vì lý lịch không được tốt và lại là con gái nên đã không được nhận vào làm ở vị trí công việc vẫn thường dành cho nam giới. Tôi thật không biết phải làm sao để vừa vui cho một người trong khi phải chia buồn với một người khác!

Ở Việt Nam hiện nay tồn tại một vấn đề hết sức đáng lo, đó là sự bất công hiện diện khắp mọi nơi không những trong đời sống xã hội, trong tâm thức của người dân mà cả trong hệ thống luật cũng như trong cách thức thi hành luật. Cùng với các vấn đề khác trong xã hội, tình trạng bất công ngày càng nổi lên như một hiện thực nan giải, mà hệ lụy của nó đối với đạo đức xã hội và nền văn hóa thật đáng ngại. Thiết nghĩ, khi mọi giềng mối xã hội và đạo đức đều bị lung lạc, may ra ta còn cứu vãn nổi bằng lẽ công bằng, thế nhưng tầm quan trọng to lớn của nó ngày hôm nay vẫn chưa được nhận thức đúng cả trong nền văn hóa và cả trong nền chính trị.

Công bằng là một quan niệm đạo đức căn bản của nhân loại. Nó cũng là một trong những tiêu chí của chủ nghĩa tự do, là biểu hiện đặc trưng của những nền dân chủ pháp trị trên thế giới, và cũng là một giá trị tinh thần tốt đẹp cho xã hội mà những người Việt tâm huyết với đất nước đang cố tâm theo đuổi.

Một xã hội không thể được xem là văn minh, tiến bộ nếu ở đó không hiện hữu sự công bằng. Sự công bằng vốn gắn liền với tinh thần đạo đức,giáo lý tôn giáo và pháp luật, vì thế ảnh hưởng của nó là vô cùng to lớn đối với đời sống vật chất và tinh thần của từng cá nhân ,và của toàn xã hội. Công bằng là ngay thẳng, không thiên vị trong cách hành xử và đối đãi giữa các cá nhân nói riêng hay là sự hài hòa, cân đối của nền luật pháp xã hội nói chung. Quan niệm về tính công bằng được đặt trên nền tảng triết học nhân bản. Vì rằng mỗi con người sống trên thế giới đều mong muốn thọ hưởng những diều tốt đep,những gì người này mong muốn thì người khác cũng ước ao,thế nên cái gì mình căm ghét thì cũng tuyệt đối không thể mang đến cho người khác.

Trong mối quan hệ giữa người với người, sự công bằng trở thành một yếu tố mang lại sự hài hòa và đồng thuận. Còn trong nhãn quan vĩ mô toàn xã hội, điều này đóng vai trò xoa dịu xung đột, ổn định xã hội và bồi dưỡng đạo đức.

Sự công bằng có thể được xem xét dưới hai bình diện khác nhau, thứ nhất đó là tính công bằng trong nền văn hóa được thể hiện trong đạo đức xã hội,phong tục,tập quán;và thứ hai là tính công bằng của nền luật pháp. Thế nhưng hai phạm vi ảnh hưởng này lại có mối quan hệ tương hỗ sâu sắc. Một nền văn hóa mang những yếu tố thể hiện sự công bằng sẽ cùng với những thiết chế khác trong xã hội thúc đẩy việc xây dựng một nền luật pháp công bằng,ngược lại hệ thống luật pháp công bằng đó lại có tác dụng tạo điều kiện và nuôi dưỡng tinh thần tôn trọng công bằng trong xã hội.

Tinh yêu thương con người được nhắc đến nhiều trong các giáo lý tôn giáo như: lòng “từ bi” của đạo Phật, tinh thần “bác ái”, của Cơ Đốc giáo,và chữ “nhân” trong Khổng giáo. Người Việt chúng ta từ xa xưa cũng luôn ca ngợi và xây dựng nhân cách con người trên nền tảng những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp như thế. Nhưng nếu khi người ta chỉ biết yêu thương bản thân và gia đình họ, sẵn sang làm phương hại đến lợi ích của người khác thì đạo đức đối với anh ta sẽ chỉ là những điều vô nghĩa,lúc đó sự công bằng đóng vai trò quyết định. Anh có thể không yêu thương người đồng loại, nhưng vì anh vẫn là một cá thể của xã hội, anh phải có nghĩa vụ chấp nhận những quy tắc chung đem lại sự công bằng cho tất cả mọi người; nếu không anh sẽ bị trừng phạt. Đó chính là lối cư xử của con người trong xã hội có sự quản lý của quyền lực nhà nước.

Nước ta là một tiểu quốc nằm bên cạnh Trung Hoa, một quốc gia có nền văn hóa đồ sộ. Sang thế kỷ 10, dù đã thoát khỏi hơn 1000 năm Bắc thuộc đen tối, nhưng ảnh hưởng của nền văn hóa Không giáo của họ vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Đại Việt cho mãi tận đến nửa đầu thế kỷ 20.Theo Nho giáo, trong năm điều thường hằng cần phải có (ngũ thường) của những bậc mày râu được gọi là “quân tử” có: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; thì chẳng có một từ nào dành để ca ngợi tinh thần công bằng cả. Trong tất cả các giá trị đạo đức của nền văn hóa Đại Việt ta, tính công bằng thể hiện khá mờ nhạt. Nho giáo là triết học chú trọng “đức trị”.”Đức” hay đạo đức tất nhiên là những “khuôn vàng thước ngọc” trong cư xử của con người, nhưng thế giới đâu phải toàn người tốt. Nên trong việc quản lý một xã hội bằng quyền lực nhà nước, ”đức trị” không phải là phương pháp đủ tốt để trở thành phương tiên chủ yếu nhằm đạt đến một xã hội hài hòa. Hơn nữa, văn hóa Nho giáo vốn chứa nhiều yếu tố và triết lý tiềm ẩn sự bất công và ràng buộc con người, điều này có thể được minh chứng trong nhiều phương diện. Một số nhà cai trị ở nước ta còn ảnh hưởng tư tưởng của phái Pháp Gia, mà tiêu biểu là Hàn Phi Tử. Thế nhưng trong cái nền chính trị “dụng pháp trị”, tức là chỉ “dùng luật để cai trị” ấy cũng có một câu nói nổi tiếng: “lễ bất hạ thứ dân,hình bất thướng đại phu”. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho nền chính trị chỉ dùng luật để cai trị người dân (rule by law),chứ những hình phạt của pháp luật kia chẳng thể động đến những người thuộc tầng lớp trên của xã hội. Từ đó, nó tạo ra những loại ý thức xã hội mâu thuẫn, hẹp hòi và đầy bất công.

Cùng với nền chuyền chế tập quyền phong kiến nước ta cũng như nhiều nước phương Đông khác, qua nhiều thế kỷ, vẫn không xậy dựng được một hệ thống luật pháp công bằng. Vì dù luật pháp khoát cái danh hiệu biểu trưng cho sự công bằng, nhưng nếu bản thân nó được tạo ra từ thể chế độc tài chuyên chế thì nó chẳng thể công bằng được, có nghĩa là nó chỉ được dùng để cai trị người dân và bảo vệ địa vị của giới cầm quyền chứ không phải để bảo vệ người dân. Theo tôi, công bằng nếu không phải là đức tính tốt đẹp được coi trọng hàng đầu thì cũng xứng đáng với vị trí thứ hai. Vì khi những đạo đức đáng ca ngợi kia đã bị tha hóa và không còn được tôn trọng nữa, thì tinh thần công bằng sẽ vẫn có thể phát huy sức mạnh của nó. Cái chúng ta cần chính là một nền pháp trị thực thụ,vì nó là phương tiện để đạt được sự công bằng rộng rãi toàn xã hội.

Với tất cả những hệ lụy của nền văn hóa bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa từ thời trung cổ phong kiến cho đến những khuyết tật của kiểu văn hóa Marx-Lenin thời kỳ cai trị của đảng Cộng Sản,người dân ta cho đến nay vẫn chưa thể hình thành rõ ràng những ý niệm về sự công bằng giữa người với người trong xã hội hiện đai và văn minh.Còn xét về mặt thể chế, chúng ta cũng chưa thọ hưởng được một nền luật pháp công bằng, với đầy đủ tất cả các cơ cấu xã hội đảm bảo cho tính công bằng của nó.Làm sao người ta có thói quen tôn trong lẽ công bằng và thực hiên sự công bằng trong xã hội khi chưa bao giờ được sống và nhận được sự bảo vệ từ một hệ thống luật công bằng?!

Đối với nền văn hóa Tây phương, tôi có một sự thích thú đặc biệt cũng chính bởi tính tôn trọng công bằng của họ.Dù cho đến thế kỷ 18,19 , những lý thuyết về chủ nghĩa phóng khoáng mới thực sự hoàn thiện; và họ cũng phải mất chừng đó thời gian để xây dựng những nền dân chủ thực sự đầu tiên trên thế giới; nhưng người phương Tây với nền văn hóa khai phóng hơn nhiều so với nền văn hóa phương Đông cùng với những điều kiện lịch sử đặc thù đã tạo lập được những hệ thống luật pháp khá hoàn chỉnh từ lâu. Nói cách khác,trước khi có được nền dân chủ tự do có thể nói là hoàn chỉnh như ngày nay, họ đã có được một nền pháp trị đáng ngạc nhiên. Điều mà cho đến nay, đối với người dân Việt Nam vẫn còn là niềm mong ước.

“Thực ra,việc xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng,minh bạch,làm nhiệm vụ thực thi công bằng xã hội và bảo vệ công lý phải tốn một khoảng thời gian nhất định và những điều kiện chính trị xã hội cụ thể,chứ không phải đơn giản chỉ là một vài sửa chữa mang tính tiểu xảo trong Hiến pháp,cùng với việc tách Tòa án ra khỏi Hành pháp và Lập pháp như những việc mà nhà cầm quyền Việt Nam đang dự định làm.Muốn có được nền pháp trị _rule of law (chứ không phải pháp quyền_rule by law) để từ đó xây dựng được một xã hội tôn trọng lẽ công bằng,chúng ta có rất nhiều việc phải làm: từ việc xây dựng một bản Hiến Pháp dân chủ,thực hiện tam quyền phân lập (chứ không phải “tam quyền thống nhất”),một chính phủ hành pháp hiệu quả,đến xã hội dân sự mạnh mẽ,linh hoạt. Đây cũng là những điều kiện chủ yếu của một chế độ chính trị dân chủ.Thiếu một trong những tiêu chí này thì nền dân chủ tự do không thể hiện hữu theo đúng nghĩa của nó.”

Có lẽ công bằng không đẹp đẽ như lòng nhân ái, cũng không sáng giá như trí tuệ, hưng nó lại có thể giúp chúng ta yên tâm sống một cách tự do trong xã hội mà không sợ bị ngược đãi. Hiểu được ý nghĩa to lớn của nó đối với đời sống, và sự tiến bộ của con người, chúng ta mới có động lực để có những hành động thích hợp. Thế nhưng theo cách nhìn chủ quan của tôi, các bạn trẻ Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến sự công bằng trên cả bình diện đạo đức và luật pháp. Trong giới hạn bài viết và trình độ của người viết, tôi chỉ hi vọng có thể nêu ra một vài ý kiến nhằm gởi mở một cách nhìn khác với những gì các bạn đã và đang có.Và cũng mong một phần nào có được sự đồng thuận của các bạn.

© HTV

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/13806

Trở Về Đầu Trang






Vài suy nghĩ về tôn giáo nhân mùa kiết hạ

Science without religion is lame. Religion without science is blind (Albert Einstein)

Tôn giáo là một trong những định chế xã hội lâu đời nhất của thế giới. Đó là phần giá trị tinh thần to lớn, là cội nguồn văn hóa đã thấm nhuần trong đời sống nhân loại từ thời cổ đại. Trong thế giới hiện đại ngày nay, các tổ chức tôn giáo chính là các hội đoàn dân sự, một thành tố tạo nên nền tảng cho một thể chế dân chủ. Riêng đối với Việt Nam, hiện nay có nhiều cộng đồng các tôn giáo khác nhau, nhưng Phật giáo có số tín đồ đông nhất, có lẽ do đạo Phật là một đạo truyền thống của người Việt. Phật giáo đã đi cùng dân tộc trải qua bao thăng trầm của lịch sử, và cũng đã đóng góp nhiều thành tựu trong việc xây dựng xã hội. Và dấu son đậm nét nhất của Phật giáo chính là việc tạo nên nền văn hóa Phật giáo và các thành tựu xã hội đáng ghi nhớ trong hai triều đại cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam: Triều Lý -Trần.

Ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, hầu hết các quốc gia đều bước vào chế độ phong kiến với những đặc điểm rất khác biệt với các nước phương Tây. Đó là việc xây dựng kiểu nhà nước phong kiến tập quyền. Nhà vua có quyền lực chính trị tối cao, nắm cả vận mệnh của cả một dân tộc. Vì vậy con đường phát triển quốc gia như thế nào là tùy thuộc vào cái “trí” của nhà vua và tầng lớp quan lại;cuộc sống của người dân được ấm no, được an cư lạc nghiệp hay không đều tùy thuộc vào cái “tâm” của người cai trị.

Triều đại nhà Lý ở nước ta bắt đầu với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn, một vị hoàng đế xuất thân thiền môn. Vì thế sau khi lên ngôi ông đã trọng đãi tăng ni, khuyến khích và tạo điều kiện để Phật giáo phát triển trong cả nước. Sau khi triều Lý sụp đổ 1225, triều đại nhà Trần bắt đầu và cũng tiếp tục các chính sách cổ súy tinh thần Phật giáo như triều Lý. Ở hai triều đại này, các hoàng đế, hoàng thân quốc thích và quan lại thường sùng kính đạo Phật. Lúc bấy giờ, tinh thần Phật giáo được phổ biến và tôn trọng, có thể nói nó là “khuôn vàng thước ngọc” để đánh giá phẩm hạnh và uy tín của một người, đặc biệt là những người ở tầng lớp trên của xã hội. “Vô ngã” là giáo lý nền tảng của đạo Phật, nghĩa là không có cái “tôi” vĩnh hằng, bất biến, tồn tại độc lập với các bản thể khác; nói ở giác độ hẹp hơn đó là: không có cá nhân con người hay sự vật nào trong vũ trụ tồn tại mà không phụ thuộc vào các cá nhân khác; như vậy trong nhãn quan đạo Phật con người không phân chia thành hoàng đế hay nô lệ vì hoàng đế cũng không thể tồn tại được nếu không có thần dân; và đó cũng chính là tinh thần phóng khoáng (liberal) của đạo Phật. Vì thế, lần lượt nhiều đời vua nối tiếp nhau trong thời kỳ vàng son của cả hai triều đại trên, với sự sùng bái đạo Phật, đã ban hành nhiều chính sách phóng khoáng: khuyến khích nông nghiệp (phân chia ruộng đất cho dân cày, cấm giết mổ trâu để không ảnh hướng đên việc cày bừa) giúp người dân được an cư lạc nghiệp; ban hành những đạo luật có tính chất không quá khắc khe (Bộ luật Hình thư, triều Lý) nhưng vẫn nghiêm minh và giữ được sự ổn định của nền luật pháp và chính trị. Tôi từng nghe kể rằng, sau lễ Hạ điền tháng 2 năm 1038, vua Lý Thái Tông đã đích thân xuống ruộng cày, năm đó mùa màng bội thu, dân chúng vô cùng phấn khởi. Chúng ta không thể nói đây là hành động mang tính “chính trị” của nhà vua vì thực ra ông không cần tranh thủ sự ủng hộ nào cả từ phía người dân như trong thể chế dân chủ ngày nay, khi trong tay ông nắm cả quyền chính trị và quân sự.

Chúng ta đã từng nghe nói trong lịch sử các triều đại phong kiến, anh em, cha con trong hoàng gia giết nhau để đoạt ngôi, mới biết sự cám dỗ của quyền lực thật khủng khiếp: “ngôi báu” là không thể chia sẻ. Thế nhưng vào thời nhà Trần, nhiều vị hoàng đế nhường ngôi cho con khi còn rất trẻ, chia sẻ quyền lực tối cao của mình để cùng con trị vị đất nước; có vị còn từ bỏ ngôi báu ấy để xuất gia học Phật như Phật hoàng Trần Nhân Tông. Đó là những tấm gương sống động về “trí” “dũng” trong đạo Phật. Còn người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người đã được dân Việt ta phong thánh vì đã quên đi mối thù nhà sâu nặng để giúp vua thống nhất hàng ngũ quan lại và tướng lĩnh trong triều, đoàn kết toàn dân, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên thắng lợi, đó chẳng phải là một minh chứng hùng hồn cho tinh thần từ bi, vị tha của Đạo Phật sao? Thời Lý Trần, cả xã hội Việt Nam thấm nhuần trong giáo lý của đạo Phật, con người chất phác thuần hậu, ít tội ác, việc học hành, khoa cử được chú trọng, các loại hình văn học- nghệ thuật mang đậm phong cách Phật giáo được tôn vinh, phát triển. Đó chính là một dấu son không bao giờ phai trong lịch sử nước Đại Việt.

Nếu luật pháp là những quy tắc xử sự, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và mang tính cưỡng chế thì các giáo lý tôn giáo khác nhau là những chuẩn mực đạo đức, tinh thần, mang tính tự nguyện, nhưng nó sẽ có một sức mạnh to lớn nếu nó thực sự đi vào lòng người. Nói một cách đơn giản, một người bình thường không dám phạm tội vì sợ chịu trách nhiệm pháp lý, còn một người ngoan đạo không phạm tội vì anh ta cảm thấy nó vi phạm các quy tắc tôn giáo và chuẩn mực niềm tin của mình, chứ chưa cần xét đến trách nhiệm pháp lý. Giáo lý tôn giáo đã tạo ra một rào cản vô hình từ trong tâm thức của con người khỏi những hành vi tội ác. Luật pháp trừng phạt những kẻ phạm tội, còn giáo lý tôn giáo khuyến khích người ta làm điều thiện. Và nếu đem ra so sánh, sự “không phạm tội” và “hành thiện” vẫn cách nhau một khoảng khá xa. Ngày nay, việc xây dựng một nhà nước pháp trị được cổ vũ trên khắp thế giới tiến bộ, điều đó thực sự cần thiết trong việc xây dựng một xã hội dân chủ tự do; nhưng bên cạnh đó, tôi nghĩ rằng việc phát huy, cổ súy cho những niềm tin tôn giáo tốt đẹp vẫn không kém phần quan trọng. Tôn giáo làm cho cuộc sống tinh thần của con người thêm cao đẹp;ở trong đó, con người tìm được những giá trị chân- thiện- mỹ đích thực trong cuộc sống, và sự thanh thản trong tâm hồn;giáo lý và đời sống sinh hoạt tôn giáo là một nơi trú ngụ bình an cho tâm hồn con người trong cuộc sống hiện đại bận rộn và nhiều sức ép này. Nói rộng hơn, tôn giáo sẽ góp phần tạo dựng một thế giới thiện lành và đầy tình người. Trong thế giới hiện đại nhiều thành tựu và cũng có nhiều mặt trái, tôn giáo sẽ là sự bồi đắp to lớn cho những thiếu hụt của nền văn minh hậu công nghiệp. Xã hội càng hiện đại, tôn giáo càng cần thiết, và cần được phát huy hơn. Là một người trẻ, tôi luôn ủng hộ tinh thần khoa học duy lý, nhưng khoa học duy lý không đồng nghĩa với sự vô thần. Như Albert Einstein đã từng nói: “Khoa học mà không có tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học là mù quáng”. Không chỉ có A.Einstein, tôi được biết nhiều nhà khoa học lớn trên thế giới, những con người một đời đi tìm chân lý khoa học vẫn là những người ngoan đạo.

Tôi rất ấn tượng mỗi lần nhìn thấy dòng chữ: “In God we trust” trên đồng Mỹ kim và xúc động được biết rằng tôn chỉ hành động được đề ra khi thành lập tập đoàn Google của những người lãnh đạo tập đoàn này là “Don’t be evil”. Tất cả những điều đó không phải là những biểu hiện tường minh nhất của tinh thần Cơ đốc giáo sao?! Dù người ta chỉ “giao phó”, hay “tin cẩn vào Chúa” bằng miệng thì vẫn còn tốt hơn là khi người ta công khai khẳng định mình không tin vào bất cứ sự tồn tại nào của “ông Trời”, “Thượng Đế” hay bậc Thánh thần nào cả. Vì như thế, ít ra cũng cho thấy họ hiểu được vai trò quan trọng của tôn giáo đối với xã hội con người. Sự vô thần là nguy hiểm vô cùng, vì khi người ta không tin vào một bậc thiêng liêng nào cả, thì khả năng làm ác là không giới hạn.

Đạo đức tôn giáo là một trong những giá trị định hình bản sắc và khí chất một dân tộc; nên tôn giáo mất thì đạo đức suy đồi, mà đạo đức suy đồi dân tộc ấy cũng lụn bại. Là một người sinh ra và lớn lên ở quốc nội, chứng kiến tất cả những đổi thay tiêu cực đáng ngại của đất nước, tôi thật sự lo lắng. Tư do tôn giáo và tinh thần khoan dung tôn giáo là một trong những biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa phóng khoáng và là một yêu cầu cơ bản của một xã hội dân chủ tiên bộ. Nên có thể nói rằng một xã hội khống có tự do tôn giáo, hay tồn tại sự cản trở tự do tôn giáo là chưa tiến bộ, là đang đi ngược lại với bản chất và sự phát triển tự nhiên của xã hội loài người.

Vì thế hôm nay, tôi viết những dòng này để chia sẻ những suy nghĩ tự lòng mình, vì rằng tôi là một Phật tử, một người luôn mong cầu sự tự do tôn giáo cho mọi người dân Việt Nam, cho sự hoằng dương kịp thời của Phật Pháp, cho sự phát huy rộng khắp tinh thần bình đẳng, bác ái của Cơ Đốc giáo, để cứu lấy cái xã hội Việt Nam đang ngày càng băng hoại những giá trị đạo đức nền tảng vì bao nhiêu năm các giá trị truyền thống bị đè bẹp bởi chủ thuyết Marx-Lenin vô thần, phi nhân.

Tam Kỳ tháng 3 năm 2010

Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/12036

Trở Về Đầu Trang






Lòng yêu nước

Mới đây, tôi vừa mới đọc bài “Thế nào là yêu nước?” của tác giả Nguyễn Hưng Quốc viết trên blog của mình. Ông đã nói: “Yêu nước ,thật ra là yêu những điều tưởng tượng”. Bởi vì theo ông,câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ chỉ là chuyện thần thoại,nghĩa là nó không có thật(ông đã đưa ra nhiều dẫn chứng để chứng minh rằng câu chuyện là không có thực),mà câu chuyện này theo ông đóng vai trò rất lớn để hình thành ý niệm về quốc gia và “đồng bào”; vì thế mà ông kết luận “tất cả chỉ là tưởng tượng”.

Là một con dân Việt, và còn là một người trẻ nữa, tôi nghĩ mình có trách nhiệm lên tiếng để tác giả bài viết “Thế nào là yêu nước?” và những người có cách nghĩ giống như ông hiểu được những điều mà chúng tôi đang suy nghĩ… Có thể như ông nói hai chữ “đồng bào”, đã từng bị lợi dụng để thực hiện những âm mưu chính trị nào đó; và huyền thoại là không có thật, thì lòng yêu nước vẫn rất thật, nó thật như bất cứ mọi chân lý nào trên đời này.

Lòng yêu nước xuất phát từ những thứ tình cảm rất tự nhiên như tình yêu gia đình, làng xóm, quê hương. Đất nước trong mỗi người có thể chỉ là mái nhà đơn sơ, là bữa cơm canh rau đạm bạc, là con đường đến trường, là cánh đồng lúa chín thơm ngát. Từ lúc mới lọt lòng mẹ, mỗi người đã để lại một phần máu thịt mình trên mảnh đất quê hương, vì thế ta mới gọi quê hương là nơi “chôn nhau cắt rốn”. Lớn lên một chút, được cắp sách đến trường, quê hương trong chúng ta là cả một chuỗi ngày thơ bé đầy ắp kỷ niệm, là thầy cô, là bạn bè, là cậu bạn cùng lớp mới quen. Lớn lên, khi rời xa làng xóm, gia đình đi khắp mọi miền đất nước. Quê hương đất nước trong chúng ta là những nẻo đường mà mình đã đi qua, là những con người mà mình đã gặp gỡ. Rồi đến lúc lìa đời, quê hương là nơi mình được chôn cất, để cơ thể dù đã chết đi ấy cũng được nằm cạnh phần mộ ông ba, cha mẹ, anh em mình. Đối với nhiều người, họ yêu tổ quốc chỉ bởi vì tổ quốc là nơi dòng họ đã hình thành và phát triển,là nơi bao đời tổ tiên đã sống và xây dựng, là nơi mà con cháu họ ngày mai đây sẽ tiếp tục sinh sống. Vì thế mỗi tất đất họ đi qua đều mang dấu vết và công lao khai phá của tổ tiên; quê hương đất nước, hồn thiêng của tổ tiên, của sông núi đang chảy trong huyết quản họ. Tất cả những gì họ thừa hưởng ngày nay đều thấm đẫm mô hôi và cả máu của tổ tiên.

Lòng yêu nước không phải là yêu những người xa lạ, không cùng trình độ tri thức, không cùng sở thích,hay quan điểm chính trị… mà chính là yêu cái dòng máu Việt đang cùng chảy trong huyết quản, yêu cái tiếng nói chúng ta cùng nói, yêu cái tập tục nấu bánh chưng bánh tét ngày Tết. Vì thế dẫu lạ huơ lạ hoắc thì mỗi người Việt chúng ta khi gặp nhau, đặc biệt là khi gặp nhau trên xứ người đều cảm thấy mình trở nên gần gũi. Dù không cùng trình độ, không cùng quan điểm, dù giàu nghèo khác nhau, nhưng những người cùng một dân tộc có những điểm chung rất lớn đó là bộ gen đặc trưng của dân tộc được thừa kế từ tổ tiên ngàn đời, là bản sắc văn hóa, là tiếng nói chung….

Tác giả Nguyễn Hưng Quốc hỏi: vì sao mà một người Việt ở tận California phải yêu Trường sa, Hoàng sa ở tận ngoài biển Đông? Chúng ta yêu quý và phải có nghĩa vụ gìn giữ những vùng đất xa xôi ấy không phải vì ông bà cha mẹ chúng ta đã từng ở đó, cũng không phải là chúng ta phải yêu những người xa lạ chưa bao giờ gặp gỡ; mà vì những vùng đất ấy là di sản mà tổ tiên người Việt đã bỏ công sức khai phá, và hi sinh cả sinh mạng để bảo vệ. Cái tình yêu ấy không khác gì cái tình cảm trân trọng và nâng niu của đứa con đối với một món quà sinh nhật mà bố nó đã tặng, dù món quà có thể đã cũ kỹ, hư nát.

Yêu nước không phải là yêu những điều tưởng tượng,mà là yêu những thứ rất cụ thể, rất thực tế như thế. Truyền thuyết thì mãi mãi vẫn là truyền thuyết, và từ trước đến giờ câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ vẫn luôn được gọi là thần thoại, chứ không phải là sự thật lịch sử. Câu chuyện được kể, được dạy cho bọn trẻ con như là một chuyện cổ tích. Nhưng càng lớn lên, câu chuyện này càng ít được người ta chú ý. Chỉ là trong những bài diễn văn kêu gọi, những bài luận văn lịch sử…người ta hay sử dụng huyền thoại này và hai chữ ”đồng bào”, để tăng khả năng thuyết phục khi kêu gọi lòng yêu nước cho một mục đích chính trị, văn hóa xã hội cụ thể nào đó, hay đơn giản chỉ vì người ta quen miệng khi dùng hai chữ này thôi. Những người trẻ như tôi chỉ nghĩ rằng tổ tiên mình là một giống dân Việt cổ trong Bách Việt, đã xây dựng nên nền văn minh lúa nước ở vùng đồng bằng Bắc bộ, chứ chưa bao giờ tôi nghĩ tổ tiên mình có từ một bọc “trăm trứng nở trăm con” cả. Bởi vì trăm người con ấy đều là con trai, chỉ có đàn ông thì làm sao tồn tại và phát triền thành một cồng đồng người lớn mạnh được?!

Dù lòng yêu nước là một khái niệm trừu tượng, không thể nắm bắt được nhưng nó được thể hiện bằng những thái độ và hành động cụ thể. Đó là thứ tình cảm đối với những người cùng sống trên cùng một lãnh thổ, có cùng chung nền văn hóa, phong tục tập quán, và đặc biệt là có cùng chung quyền lợi, đó chính là quyền lợi quốc gia. Tôi chợt nhớ đến một câu nói rất nổi tiếng của Winston Churchill: “Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”. Người ta yêu nước vì một điều rất đỗi giản đơn, vì họ cùng một dân tộc, mà cùng một dân tộc thì có cùng chung những quyền lợi thiết thân không thể từ bỏ. Ấy vì thế mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khi kêu gọi tướng sĩ ra trận đánh đuổi quân Nguyên-Mông đã nói:

“…. Vua tôi bị trói gô một đàn.

Tước ấp ta bị tan nát cả

Bổng lộc ngươi cũng chẳng còn gì.

Gia đình ta bị đuổi đi

Vợ ngươi cũng phải đến khi nhục nhằn

Tông xã ta quân địch xéo đi

Phần mộ ngươi cũng bị quật lên

Đời ta khổ nhục liên miên

Cái tên nhơ nhuốc lưu truyền mãi sau

Nhà các ngươi cũng đều mang tiếng

Không khỏi làm những tướng bị thua

Các ngươi đang lúc bấy giờ

Muốn vui thích như xưa có được không?…”


Bài hịch bất hủ ấy đã cổ vũ tinh thần cho biết bao tướng sĩ nhà Trần thêm hăng hái giết giặc. Không phải vì Hưng Đạo Vương viết văn hay cảm động lòng người mà vì Ngài đã nói đúng vào trọng tâm vấn đề. Những người cùng sống trên một lãnh thổ quốc gia, cùng một dân tộc,nếu không đồng lòng chống kẻ ngoại xâm khi có chiến sự, và nỗ lực xây dựng quốc gia khi hòa bình thì khi bị đô hộ hay trở thành một quốc gia chậm tiến, người chịu nhục, chịu khổ có phải là chính tất cả chúng ta không, có cá nhân nào thoát khỏi cái khổ chung đó không? Vì thế chúng ta yêu nước vì chúng ta yêu chính mình, yêu những người thân yêu và muốn bảo vệ những tài sản quý giá và thành quả mà ông cha ta đã đạt được. Là một người con của một dân tộc thông minh và lớn mạnh bao giờ cũng sẽ có được nhiều ưu thế và niềm hãnh diện trên trường quốc tế hơn là của một dân tộc kém cỏi, lạc hậu,dù chúng ta có đi đâu trên thế giới này đi nữa. Bởi vậy làm sao mỗi người Việt chúng ta không mong muốn xây dựng được một xã hội Việt Nam dân chủ, phú cường?!

Huyền thoại này theo thiễn nghĩ của tôi chẳng phải là cái gì quá to lớn, đóng vai trò nền móng tư tưởng cho lòng yêu nước cả;có chăng nó chỉ là cái biểu tượng mang quá nhiều màu sắc cổ tích về nguồn gốc dân tộc mà thôi. Các dân tộc khác trên thế giới, họ đâu có truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, đâu có gọi nhau là “đồng bào”, nhưng họ vẫn có tinh thần tự hào dân tộc và lòng yêu nước thiết tha. Huyền thoại chỉ là huyền thoại, chúng ta yêu nước thì vẫn yêu và mãi mãi yêu. Đó là vài lời tôi muốn chia sẻ với những bậc trưởng bối. Mong dù ở cách xa nhau,dù không cùng một thế hệ và trình độ tri thức, nhưng những trái tim cùng hướng về Tổ Quốc sẽ có thể thông cảm được nhau.

Tam Kỳ ngày 29 tháng 6 năm 2010

© Huỳnh Thục Vy

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by phanthuc on 04/08/2011 12:52 PM)

phanthuc posted on 04/08/2011 12:50 PM

----------------------------------------------

Dân chủ- Giá trị nhân bản

Huỳnh Thục Vy

Thế kỷ 20 vừa qua là thế kỷ chứng kiến nhiều lần chuyển mình mạnh mẽ của thế giới: hai cuộc đại chiến thế giới, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự nổi dậy và lụi tàn của chủ nghĩa cộng sản, rồi chiến tranh lạnh…Tất cả những diễn tiến này tạo ra những tác động tổng hợp để kiến tạo một thế giới với diện mạo như hôm nay. Thế nhưng sẽ là thiếu sót nếu không kể đến những ảnh hưởng vô cùng quan trọng của phong trào dân chủ cùng với những chuyển biến của nó từ bình diện tư tưởng đến thể chế.

Phong trào dân chủ, như chính tên gọi của nó: “những làn sóng dân chủ”, là những diễn tiến dân chủ hóa xảy ra trên khắp thế giới theo cách lan truyền từ nơi này đến nơi khác. Lúc bắt đầu mạnh mẽ và khi gặp những chướng ngại thì bước vào giai đoạn thoái trào. Bùng lên và lụi tắt là quy luật tất yếu của tự nhiên. Dân chủ-tự do, như một hệ thống tư tưởng chính trị do con người sáng tạo nên cũng không ngoại lệ. Nhưng chính sự liên tiếp nổi dậy và kết thúc như thế cho chúng ta thấy một quy luật tự nhiên khác quan trọng hơn nhiều: Dân chủ, tự do là thuộc tính của nhân loại.

Chúng ta đã nhiều lần chứng kiến sự quật khởi rồi thoái trào của phong trào dân chủ thế giới. Nhiều người nghi ngại rằng liệu dân chủ tự do có phải là tối ưu và có thể thực hiện được với mọi dân tộc, mọi nền văn hóa. Trong lịch sử nhân loại, đã không biết bao lần xuất hiện những cá nhân hoặc tập đoàn người dùng ý chí chủ quan của mình để kìm hãm, ngăn chặn hay thậm chí là phá hoại tự do, nhưng những làn sóng dân chủ vẫn liên tiếp nhau dâng lên không dứt. Trước đây không ít người trong giới học giả đặt câu hỏi về sự dung hợp giữa dân chủ tự do và văn minh Hồi giáo; hay như chính trị gia nổi tiếng Lý Quang Diệu đã từng viện dẫn các “giá trị Á Đông” (theo ý ông là văn hóa Á Đông không thể hoàn toàn dung hợp tư tưởng dân chủ của Tây phương) để bao biện cho sự duy trì tình trạng độc tài trên đất nước Singapore. Nhưng vượt lên tất cả những ngụy biện, dân chủ luôn hiện diện trong tiềm thức con người, chỉ chờ đủ thời cơ để bùng phát, con sóng dân chủ này lụi tàn để con sóng khác dâng lên. Bởi vì con người phải được sống như chính nó, phải được tự do. Chúng ta là những con người, phải được sống như những con người đích thực. Khẳng định này dường như quá hiển nhiên đến nỗi trở nên ngớ ngẩn, nhưng có một thực tế là có nhiều người không hiểu hoặc giả vờ không hiểu quy luật tự nhiên này. Nếu hiểu rõ điều này thì nhiều người đã không dùng mấy mươi năm cuộc đời ngắn ngủi của mình để chống lại sức mạnh của quy luật tự nhiên, chống lại bản chất con người.

Con người, như một sinh thể thượng đẳng trên địa cầu, hoàn hảo, thống nhất về kết cấu tổng thể và phức tạp về mặt ý thức. Không giống với bất cứ sự tồn tại vật chất nào khác, con người là sinh vật có tư duy và ý chí. Một triết gia đã từng nói :”Con người là một cây sậy, nhưng là cây sậy biết tư duy”. Đó là sự khác biệt, là ưu điểm đáng tôn vinh khi chúng ta bàn về chính chúng ta. Nhưng tư duy và ý chí – đó lại chính là vấn đề. Vì có tư duy và ý chí, chúng ta muốn mọi thành tựu, hay đơn giản là kết quả hoạt động của mình đi theo một khuynh hướng có thể kiểm soát và phải phù hợp với ý chí của mình mà không cân nhắc đến những yếu tố khách quan mang tính quy luật. Người ta gọi cách thức hành động này là duy ý chí. Như chúng ta thấy, mọi sự vật luôn tồn tại như nó vốn có, mọi hoạt động của chúng đều phù hợp với cái cách mà chúng được tạo ra. Một cái cây phải quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ nuôi sống chính nó- đó là điều tự nhiên. Con người thì khác, vì có tư duy và ý chí, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục hành động trái với tự nhiên, trái với những gì chúng ta vốn có, ví dụ đơn giản như chúng ta vẫn thức khuya cho dù biết việc này trái tự nhiên và tổn hại sức khỏe.

Thế nhưng, xét trên một bình diện rộng hơn và với mức độ sâu sắc hơn, với tất cả những bản năng cố hữu của mình, con người sinh ra vẫn luôn có khuynh hướng bảo toàn sinh mạng và các giá trị tư tưởng , tinh thần của mình trước mọi ngoại lực đe dọa. Theo một cách tự nhiên nhất, con người phải sống và có nhu cầu được sống mà không phải chịu bất cứ sự xâm hại thể xác hay tinh thần nào. Đó là quy luật, vì nó xuất phát từ bản năng của con người, đó cũng chính là nền tảng của lý luận về tự do. Xin được tái khẳng định, điều đã được khẳng định đó là : không có gì có thể tồn tại ngược với tự nhiên và đối kháng với những gì hình thành nên bản chất của chúng. Điều này đã được chứng minh nhiều lần trong khoa học tự nhiên. Dưới giác độ triết học và luật học, ngay cả luật pháp do con người tạo ra cũng không được trái với luật tự nhiên (tập hợp những quy phạm điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người, ràng buộc cách cư xử và luân lý dựa trên chính bản chất tự nhiên của con người) bởi không có cái gì hợp lý hơn tự nhiên.

Kể từ khi một hình thức nhà nước dân chủ đầu tiên xuất hiện ở Hi Lạp, con đường đưa thế giới tiến vào thể chế dân chủ thật không dễ dàng. Phong trào dân chủ vừa mới nổi lên ở Ý, Đức đã bị thế chiến lần thứ nhất làm cho gián đoạn rồi sau đó thoái trào vì sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít với sự đứng lên nắm quyền của Mussolini và Hitler. Rồi thế chiến thứ hai kết thúc với khả năng đưa các quốc gia thuộc địa mới giành được độc lập tiến vào con đường dân chủ thì những nền cộng hòa mới được thành lập này không bao lâu sau cũng bị chủ nghĩa cộng sản nhuộm đỏ, như hoàn cảnh Việt Nam ta, hay nước Trung Hoa dân quốc với nền cộng hòa non yếu cũng bị cộng sản thôn tính năm 1949. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, làn sóng dân chủ lan rộng khắp Đông Âu và nước Nga mang lại cho nhân loại niềm hi vọng to lớn về một thế giới mới tốt đẹp hơn; nhưng rồi sau một giai đoạn dân chủ ngắn ngủi, nước Nga gần như từ một quốc gia cộng sản bước hẳn vào một chế độ độc tài kiểu mafia. Cho đến những năm đầu thế kỷ 21 này, hồ sơ dân chủ nhân quyền vấn còn bế tắc chưa có lối thoát tại các quốc gia độc tài như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Miến Điện, Việt Nam… vì vốn dĩ các chế độ độc tài là ngoan cố, tham tàn và có hệ thống, trong khi thế giới Tự do lại không thể đạt tới một ý chí chung, một sự liên kết cụ thể nào để đối phó với tình trạng trên, ngoài những thống kê, những buổi điều trần về tình hình đàn áp nhân quyền, những lời chỉ trích mang tính ngoại giao nhiều hơn là một chính sách thực tiễn. Ấy là chưa kể đến việc vấn đề nhân quyền đôi khi lại được mang ra để đổi chác, để trả giá giữa một bên là các chế độ độc tài, một bên nhân danh lực lượng tự do tiến bộ.

Mùa xuân 2011, Bắc Phi diễn ra cuộc cách mạng Hoa Lài với sự đột biến của tình hình Lybia và tình hình đầy bạo động tại Syria và Yemen. Nhân loại như bừng tỉnh trước ánh sáng và vận hội mới!

Mới đây, hội nghị Thượng đỉnh G8 đã nhóm họp tại Pháp với khẩu hiệu: “Thế giới mới, ý tưởng mới” nhằm khẳng định sự quyết tâm của tám quốc gia lớn mạnh nhất thế giới trong nỗ lực xây dựng một thế giới không độc tài- nơi mà các giá trị dân chủ tự do phải được thực hiện triệt để trên quy mô toàn cầu và xác quyết nghĩa vụ can thiệp chủ động và trợ giúp tích cực cho người dân ở các quốc gia độc tài đang đấu tranh để tháo gỡ xiềng xích. Có lẽ sau hơn một thế kỷ chứng kiến sự nổi dậy rồi thoái trào đáng lo ngại của làn sóng dân chủ, nhân loại hôm nay đã có đủ những kinh nghiệm xương máu để không thể tiếp tục làm ngơ trước khả năng những nỗ lực dân chủ hóa bị đè bẹp.

Thế giới chúng ta đang sống là một không gian đa nguyên, nơi mà an sinh và phúc lợi của một cá nhân hay của một quốc gia riêng biệt có mối quan hệ tương hỗ không thể tách rời với phần còn lại của cộng đồng hay của thế giới. Một thế giới với những cộng đồng người ngày càng phụ thuộc và xích lại gần nhau hơn về kinh tế, giáo dục, văn hóa với những giá trị và lợi ích chung thì không có lý do gì để không cùng nỗ lực và có những hành động thực tế để thúc đẩy dân chủ. Dân chủ là một giá trị vừa mang ý nghĩa lý luận vừa có tính thể chế nên nó sẽ là nền tảng cho sự xây dựng các giá trị khác; vì thế con người không thể hướng đến một xã hội văn minh, nhân bản mà không quan tâm tới vấn đề dân chủ tự do. Chúng ta đang tiến vào một thế giới không nhân nhượng với các chế độ độc tài, một thế giới không chỉ chống độc tài bằng miệng mà khi cần thiết, biện pháp quân sự cứng rắn sẽ được áp dụng. Không có cách nào khác, muốn thăng tiến những giá trị tự do, dân chủ và bảo đảm an ninh toàn cầu thì phải tiêu diệt độc tài.

Thật vậy, ý chí của con người là hữu hạn chúng ta phải tuân theo những quy luật tự nhiên vì đối kháng với tự nhiên là tự hủy diệt. Cũng như thế, xã hội loài người phải được phát triển trong tự do, dân chủ vì dân chủ tự do là nhân bản, mà nhân bản chính là con người tự nhiên đích thực. Tất cả chúng ta phải được sống với đúng những thuộc tính căn bản nhất của mình: sinh tồn tự do- quần cư tương hỗ. Jean Jacques Rousseau đã nói: “Con người sinh ra được tự do nhưng ở bất cứ đâu anh ta cũng bị xiềng xích”. Nhưng đã đến lúc mọi xiềng xích nô dịch con người phải bị tháo bỏ không chỉ bởi những cố gắng của chính những con người yếu đuối đang sống dưới sự nô dịch mà còn bằng cả trách nhiêm can thiệp và trợ giúp của những con người đã được hoàn toàn tự do, đã có đầy đủ sức mạnh thực sự mà sự tự do mang lại. Đó mới chính là ý nghĩa đích thực và xứng đáng nhất của sự quần cư- sự chung sống trong an toàn, tự do và hài hòa của nhân loại.

Tam Kỳ ngày 5 tháng 6 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

© Đàn Chim Việt

Trở Về Đầu Trang




“An toàn” hay tự do ?

Huỳnh Thục Vy

Dù là trong một xã hội lớn hay một cộng động nhỏ, sự phản kháng luôn đóng vai trò một giềng mối giữ thăng bằng. Điều đó hợp quy luật tự nhiên, cũng giống như khi ta tác dụng một lực thì tất nhiên chính tại đó xuất hiện một phản lực tương ứng. Trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, sự phản kháng là yếu tố quan trọng và cần thiết khiến cho sự tác động không đi theo một chiều thiên lệch, mà bảo đảm cho mối quan hệ tác động song phương đi theo hai chiều ngược nhau. Ví như có chế tài thì phải có phản kháng. Mất đi sự phản kháng là mất đi động lực cải tạo xã hội.

Vì thế thiển nghĩ, việc tìm ra những nguyên nhân làm thui chột sự phản kháng trong xã hội là bước đầu tiên trong việc vận động cho một sự đổi thay xã hội. Dưới nền cai trị độc đoán của những người cộng sản, nỗi sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Việt, đặc biệt là những người được sinh ra trước năm 1975. Sự sợ hãi ấy gặm nhấm dần sự phản kháng và sẽ có thể đi đến chỗ tiêu diệt nó. Nhưng đó chỉ là một nguyên nhân lớn có thể được nhận thấy ngay, chắc chắn phía sau nó còn nhiều nhân tố khác. Ngoài tác động của sự sợ hãi và cái di sản văn hóa thụ động được thừa kế từ quá khứ (như đã được phân tích ở bài “Chủ nghĩa tập thể và tự do cá nhân” ), tinh thần chủ động và năng lực phản kháng của người Việt chúng ta còn bị bào mòn đến mức có khả năng biến mất bởi những điều kiện chính trị, kinh tế-xã hội đương thời. Hôm nay trong bài này tôi chỉ tập trung nói về nhân tố thứ hai. Sau gần bốn thập kỷ áp đặt sự cai trị lên cả nước, đảng Cộng sản Việt Nam đã triệt tiêu dần sự phản kháng của người dân bằng những điều kiện chính trị kinh tế mà họ chủ động tạo ra.

Sự xuất hiện của Nhà nước trong nền văn minh nhân loại đã đương nhiên trao cho phần còn lại của cộng động quốc gia hai lựa chọn định mệnh: Một, là mỗi một chúng ta phải là những công dân mạnh mẽ để kiểm soát cái quyền lực mà chúng ta đã trao cho họ (Nhà nước); hai, là chúng ta im tiếng thần phục kẻ cai trị như những thần dân yếu đuối hoặc những tên nô lệ ngoan ngoãn. Tôi vẫn luôn tin rằng chúng ta được sinh ra là có quyền lựa chọn cho mình một cuộc sống theo cái cách mà chúng ta muốn. Tương tự như thế, nhận thức, thái độ và hành động của người dân quyết định vận mệnh của đất nước đó. Thái độ nghiêm khắc và sự phản kháng của người dân là tối cần thiết cho sự vận hành guồng máy quốc gia và cả những sự thay đổi chính trị cần thiết. Thay đổi chính trị là tiến trình phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội. Bất cứ sự lệch lạc nào (như cải cách kinh tế không đi đôi với sự tự do chính trị) sẽ là sự kìm hãm nếu không muốn nói là phá hoại xã hội.

Một nền cai trị với đặc quyền chính trị được ban phát, trao đổi, chuyển giao trong một vòng khép kín; cùng với nền kinh tế mà những cơ hội béo bở nhất chỉ được chia chác trong nội bộ cầm quyền, một cách rất tự nhiên, đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với lớp người muốn tìm kiếm cơ hội tiến thân. Những người có bằng cấp, học vị nhưng không có khả năng tài chính thường cảm thấy may mắn với một vị trí công chức trong các cơ quan công quyền hoặc những công ty quốc doanh. Còn những ai có tiềm lực tài chính đủ để thành lập một cơ sở làm ăn của riêng mình thì cũng không khỏi đến nương nhờ giới cầm quyền với hi vọng kiếm được những cơ hội làm ăn thuận lợi. Đây chính là đặc trưng lớn của cấu trúc giai tầng xã hội Việt Nam (cũng như Trung hoa ) hiện tại.

Thử nhìn lại một ví dụ điển hình về sự hình thành giai cấp tư sản hay còn gọi là quý tộc mới( gentlemen) trong lịch sử nước Anh để so sánh với điều đang xảy ra tại Việt Nam.Tầng lớp quý tộc mới này ban đầu là những địa chủ nông thôn hay những người thủ đắc tài sản bậc trung ở thành thị. Họ đã tích lũy được tài sản và lớn mạnh bằng chính năng lực sáng tạo và công sức lao động của mình, hoàn toàn không phụ thuộc vào giới cầm quyền phong kiến và quý tộc bảo hoàng. Đây là lớp người mới trỗi dậy trong lòng chế độ phong kiến Anh thời bấy giờ, năng động và có khả năng phát triển không ngừng vượt ra ngoài cái giới hạn bé nhỏ mà một xã hội phong kiến đủ khả năng tạo nên. Khả năng phát triển độc lập của họ bị sự cản trở đã trở thành động lực của cuộc cách mạng đòi tự do. Vì thế, ngày nay, khi nói đến những cuộc cách mạng dân chủ, người ta thường chú ý đặc biệt đến giới trung lưu trong xã hội. Tầng lớp này nếu có ý thức dân chủ càng mạnh thì triển vọng thay đổi xã hội càng sáng sủa.

Nhìn lại xã hội Việt Nam, chúng ta nhận thấy một bối cảnh ngược lại. Giới trung lưu và cả lớp người có triển vọng bước vào giới trung lưu là những người có học thức và tài sản đã hình thành, lớn mạnh chính nhờ xuất thân gia đình có liên quan đến chế độ hoặc nhờ sự nương tựa vào giới cầm quyền cộng sản. Lớp người này theo sự phát triển của nền kinh tế, giáo dục- xã hội trong hai thập niên qua đang ngày càng gia tăng. Cuộc sống hiện tại và triển vọng tương lai của họ nương theo sự phát triển và “ổn định” của cái thể chế độc tài hiện tại. Vì thế khó tìm được lý do thích đáng và đủ mạnh để họ từ bỏ quyền lợi kinh tế mà dấn thân đòi hỏi tự do chính trị. Đây là kiểu hình thành tầng lớp trung lưu chỉ có ở Việt Nam và Trung cộng- nơi mà một nền kinh tế dần được cởi mở kết hợp nền chính trị độc tài, trái ngược hẳn với ví dụ trên về nước Anh. Nền kinh tế còn tiếp tục phát triển, người ta còn tiếp tục im lặng và do đó chế độ độc tài còn có thể trông cậy vào sự hợp tác của họ để tiếp tục nắm quyền. Nhiều chuyên gia trên thế giới vào cuối thế kỷ trước đã hi vọng rằng những cải cách kinh tế sẽ dẫn dắt thay đổi chính trị ở Trung cộng và Việt Nam. Nhưng chúng ta đang nhận được một kết quả ngược lại. Bởi vì, bản chất của giới trung lưu tư bản xuất hiện trong lòng chế độ phong kiến phương Tây khác hẳn giới trung lưu được sinh ra từ “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Tôi có một người bạn đang là giảng viên Đại học. Khi nghe tôi nói về dân chủ tự do, anh ta buột miệng thốt lên: “Thay đổi chế độ cho tôi mất việc à?” Những người này đang có cuộc sống tốt đẹp hơn nhiều so với phần đông dân chúng nên không ngạc nhiên khi họ có tâm lý e sợ bất cứ sự thay đổi nào. Đối với họ, thay đổi như là một điều gì đó quá phiêu lưu, có khả năng cướp đi những may mắn và sự sung túc hiện tại. Thật vậy, hiện nay thông tin không thiếu, hiện trạng đất nước phơi bày ra trước mắt. Thế nhưng nhiều người, nhất là những người trẻ vẫn im tiếng. Không thể đổ hết mọi truy nguyên vào sự sợ hãi. Thế hệ những người sinh ra sau 1975, chưa đối mặt và kinh qua nhiều nỗi sợ hãi như cha anh họ. Nhưng chính sự gắn bó quyền lợi hiện tại hay ít ra là khát vọng vươn đến những lợi ích kinh tế và chính trị mà đảng cộng sản ban phát khiến tinh thần phản kháng nguội lạnh. Có thể người ta đã nhận thấy những khiếm khuyết của nền chính trị và xã hội nhưng hoặc vì quyền lợi, hoặc vì sự bất an về một tương lai, họ chấp nhận im lặng, bàng quan trước thời cuộc. Khi nói về dân chủ, những người trung lưu đang hưởng lợi từ giới cầm quyền thường đặt ra một câu hỏi rằng liệu dân chủ có tốt đẹp hơn đối với họ như thể chế hiện thời không ?, nghĩa là họ đang băn khoăn nếu thiếu sự “đỡ đầu” của nhà cầm quyền cộng sản và những nhà đại tư bản đỏ, liệu họ có đủ điều kiện để thọ hưởng thành quả như hôm nay không? Những ai thành công chỉ dựa vào sự luồn lách, bợ đỡ tầng lớp trên luôn có cái tâm lý đó. Còn những trí thức trẻ sau khi có một công việc tốt, ổn định và có khả năng bước vào giới trung lưu thường nuôi dưỡng một nỗi sợ sự thay đổi một cách vu vơ, không có căn cứ như anh bạn tôi. Nếu nỗi sợ bị đàn áp, ngược đãi hiện diện ở hầu khắp quần chúng lớp dưới của cấu trúc xã hội, thì sự e ngại đổi thay lại tồn tại trong lớp người ở tầng giữa này. Nhưng ngặt nỗi, lớp người thờ ơ với thời cuộc do sự gắn bó lợi ích với giới cầm quyền này lại là những người có học thức và tiềm lực tài chính hơn hẳn đại đa số dân chúng còn lại. Điều này đã tạo nên một lực hãm đối với mọi sự đổi thay.

Còn quá nhiều người trẻ Việt Nam có cái cung cách tư duy già cỗi và ích kỷ này. Điều quan trọng là làm sao cho những người này hiểu được rằng nền dân chủ mang lại lợi ích chung cho cả dân tộc, kể cả việc nó sẽ mang lại những gì nhà cầm quyền hiện tại không thể bảo đảm như khả năng được sống như những công dân mạnh mẽ, tự do và sáng tạo. Tất cả chúng ta trừ những kẻ cầm quyền đã gây tội ác sẽ được hưởng lợi từ nền dân chủ. Vì thế không có lý do gì để chúng ta e ngại sự thay đổi.

Có một điều may mắn là tầng lớp trung lưu và lớp người có khả năng gia nhập tầng lớp này ở Việt Nam chưa nhiều so với tỉ lệ dân số phần đông sống ở nông thôn và nghèo khổ. Tầng lớp trung lưu trước nay luôn có cuộc sống dễ dàng và cơ hội cuộc sống trôi chảy hơn phần còn lại của dân số. Nhưng nền kinh tế đặt trọng tâm vào khu vực quốc doanh, được quản lý quá yếu kém, phụ thuộc vào Trung cộng và không có động lực phát triển do thiếu vắng sự trợ giúp đắc lực của nền chính trị tự do đã lâm vào suy thoái. Chỉ số lạm phát ở Việt Nam trong tháng sáu đã lên tới 20%. Kinh tế Việt Nam có thể đang bước xuống những bậc thang cuối cùng dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện. An ninh và triển vọng tài chính của lớp người này trở nên bấp bênh và họ có nguy cơ trắng tay. Thêm vào đó, đất nước đang đối mặt với nguy cơ ngoại xâm, mà khả năng Đảng cộng sản đang bất lực “vô kế khả thi” dẫn đến nhiều rủi ro khó lường đoán. Lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích của lớp người này đang bị đặt vào tình thế nguy hiểm, vì nếu lợi ích quốc gia còn thì lợi ích mỗi cá nhân người Việt còn; nếu lợi ích và chủ quyền quốc gia bị tước đoạt thì chẳng có ai có thể tính đến quyền lợi hay tương lai nữa. Họ đang bị đặt trước một sự lựa chọn không thể né tránh: trở về với quần chúng cùng khổ, dấn thân, phản kháng để đòi lại quyền tự do, quyền quyết định vận mệnh đất nước mà trong đó lợi ích của họ tất nhiên bị gắn kết; hoặc là quyền lợi và tương lai của họ vĩnh viễn mất đi cùng với sự mất đi của quyền lợi dân tộc. Khi nền kinh tế phá sản và đất nước bị ngoại bang xâm phạm, có thể họ sẽ bị bỏ lại bên lề một thế cuộc đang sôi động hứa hẹn mang đến một cuộc đổi thay toàn diện cho đất nước.

Benjamin Franklin đã nói: “Người nào từ bỏ tự do thực sự để đổi lấy một ít an toàn tạm thời thì không xứng đáng được tự do, cũng chẳng xứng đáng được an toàn”. Dân tộc ta đang ở trong một thế cuộc khó khăn. Sự lựa chọn vì thế rất khó khăn. Nhưng lựa chọn một con đường hợp thời, hợp lòng người và hợp lý là cách duy nhất để tiến về phía trước. Lịch sử vẫn diễn ra dù ta có nhận thức và đồng hành cùng nó hay không. Chủ động tạo ra lịch sử hay để cho thời cuộc cuốn chúng ta đi. Điều đó tùy thuộc vào chúng ta. Sự “ổn định” (cả nội tại quốc gia lẫn ngoại giao) mà những người cộng sản trước nay luôn rêu rao đã phá sản rõ rằng trước thanh thiên bạch nhật. Vậy thì chúng ta có lý do gì để níu kéo một chút “an toàn” nhất thời đó mà từ bỏ tự do thực thụ?!

Tam Kỳ, ngày 12 tháng 7 năm 2011

Huỳnh Thục Vy

Nguồn:Đàn Chim Việt

Trở Về Đầu Trang






Liêm sỉ ở đâu khi so sánh nhân quyền Anh-Việt?

Huỳnh Thục Vy

Cuối tháng 9 vừa qua, bên lề chuyến đi New York tham dự Hội nghị thường niên của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, khi bị chất vấn về việc Nhà cầm quyền Việt Nam trấn áp các cuộc biểu tình, trước Hội đồng quan hệ đối ngoại (một tổ chức chức nghiên cứu độc lập của Hoa Kỳ) ông Phạm Bình Minh đã phát biểu: "Hãy nhìn vào nước Anh. Nếu quý vị có lo ngại về an ninh, quý vị phải có biện pháp thôi. Đó là chuyện bình thường”.

Theo lời ông, chúng ta cũng nên nhìn vào nước Anh, phải nhìn thật kỹ để xem hành động trấn áp biểu tình của công an Việt Nam có “bình thường” như lời ông Ngoại trưởng nói hay không, và về bản chất có giống với cuộc trấn áp bạo loạn của cảnh sát Anh hay không!

1/ Đừng nhập nhằng giữa đạo đức cá nhân với tính chất thể chế

Các cuộc bạo loạn cùng với sự trấn áp bạo loạn hồi tháng 8 ở Anh là một ví dụ để những ai ủng hộ Nhà cầm quyền Việt Nam cho rằng: không chỉ có công an Việt Nam đánh chết người; việc cảnh sát bắn chết người cũng xảy ra ngay tại một quốc gia dân chủ tự do nhất; và việc đàn áp nhân quyền diễn ra ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Trước tiên, ở đây có sự khác biệt giữa việc “đánh chết” và “bắn chết”. Việc đánh chết một người diễn ra trong một khoảng thời gian đủ để người gây tội ác nhận thức được hậu quả hành động của mình mà dừng lại đúng lúc. Còn việc dùng súng bắn chết ai đó là việc chỉ diễn ra trong tích tắc, mà sự nhầm lẫn, bất cẩn hay ức chế tâm lý có thể gây nên hậu quả nghiêm trọng mà chủ thể không có đủ thời gian để đảo ngược hành động. Việc bắn chết người trong những trường hợp khẩn cấp khác hẳn với việc đánh chết người bí mật ở trụ sở công an vì những lý do rất ngớ ngẩn như không đội mũ bảo hiểm, như trường hợp ở Bắc Giang, Hà Nội cùng nhiều vụ đánh chết người khác xảy ra khắp Việt Nam. Nhưng cứ cho là cảnh sát Anh cũng vì thói hung hăng như công an Việt Nam mà làm chết người, thì cũng không có lý do gì để dựa vào đó mà một Bộ trưởng, hay bất cứ người nào dùng sự việc này để so sánh tình trạng nhân quyền Anh-Việt.

Chúng ta nên có cái nhìn bao quát; không thể ngụy biện nhập nhằng giữa đạo đức cá nhân và phẩm chất của hệ thống chính trị. Một thể chế dân chủ không thể luôn đảm bảo sự lương hảo trong nhân cách và sự nghiêm minh trong hành vi của nhân viên công lực. Sự trục trặc trong nhân cách của một vài cá nhân nhân viên công lực không liên quan trực tiếp đến tính chất của nền chính trị và luật pháp. Nó chỉ có thể là manh mối để chúng ta xem xét những vấn đề lớn hơn. Ở đâu trên thế giới này cũng có những kẻ bất hảo. Tôi luôn nghĩ rất ít người có thể tự thúc ước mình nếu không có một cơ chế ngoại lai hữu hiệu (luật pháp) thúc ước họ. Nên tôi luôn đặt sự trông cậy lớn vào luật pháp chứ không phải đạo đức, trong sự thúc ước hành động tội ác của con người. Ổn định xã hội nên dựa vào luật pháp chứ không dựa vào lòng tốt, dù thiện tâm là điều rất cao quý.

Dù có những vụ bê bối xảy ra, người dân Anh có thể yên tâm và tin tưởng rằng những sự việc đáng tiếc như thế sẽ ít khi xảy ra, nếu có xảy ra thì họ cũng có thể giám sát được thái độ và hành động của chính quyền, rồi người có tội và những người liên quan sẽ bị trừng phạt bởi nước Anh có nền pháp trị nghiêm minh và xã hôi dân sự mạnh mẽ. Dù cảnh sát Anh trong thời gian gần đây mang nhiều tai tiếng, nhưng đại đa số người Anh không dựa vào đó mà khẳng định bộ máy cảnh sát của họ bất hảo và hệ thống chính trị của nước Anh cần phải bị thay đổi như cái cách mà chúng ta nhìn nhận bộ máy công an và chính quyền Việt Nam.

Còn người Việt Nam, khi nào còn sống dưới chế độ độc tài thì sẽ còn tiếp tục lo sợ những mối “tai bay vạ gió” như thế sẽ thình lình đổ ập lên đầu mình, mà ngoài việc bùng nổ bức xúc (trong những trường hợp đánh lại công an, đập phá xe công an đã xảy ra) người dân không thể có những hành đồng phản đối hữu hiệu nào khác và cũng không được bảo vệ bởi một cơ chế hữu hiệu nào. Và không có gì bảo đảm những sự việc như thế sẽ không tiếp diễn khi bộ máy công an và chính quyền Việt Nam bao che cho nhau từ trên xuống dưới. Ở đây, có một sự khác biệt lớn giữa hành động mang tính hiện tượng và hành động thuộc về bản chất. Bởi vậy đừng chỉ dừng lại ở hành động làm chết người mà phải tìm hiểu thêm những gì diễn ra sau đó.

2/ Trấn áp tuần hành ôn hòa cũng “cần thiết” và “bình thường” như trấn áp bạo động?

Vụ cảnh sát bắn chết người lái taxi Mark Duggan được coi như là duyên cớ cho các cuộc bạo động ở Anh. Nhưng phải xác định rõ ràng rằng: cuộc biểu tình đòi công lý cho Mark Duggan được tổ chức bởi thân nhân của anh ta và những người lãnh đạo cộng đồng Tottenham chỉ là một cuộc biểu tình phản đối ôn hòa được dự kiến diễn ra trong thời gian ngắn; và người ta đã rút lui nhanh chóng khi cuộc biểu tình biến thành cuộc bạo động của những thanh niên không liên quan. Về bản chất các cuộc bạo động đốt phá và hôi của của thanh niên kéo dài nhiều ngày đã không còn dính dáng gì đến cuộc biểu tình đòi công lý cho Mark nữa. Vì thế, việc cảnh sát Anh dẹp loạn chẳng phải là việc trấn áp một cuộc biểu tình đòi công lý và nhân quyền. Theo BBC Việt ngữ, người dân của thành phố đã vỗ tay hoan nghênh khi xe cảnh sát đến để vãn hồi trật tự sau những cuộc đốt phá.

Chúng ta hãy so sánh để thấy rõ sự khác biệt giữa một bên là những cuộc bạo loạn hôi của, phá hoại của thanh niên và trẻ em vị thành niên quá khích ở Anh với một bên là cuộc tuần hành ôn hòa của những con người yêu nước lương hảo, có tri thức với quan điểm rõ ràng và cao cả là chống ngoại xâm, đấu tranh đòi tự do tôn giáo hoặc đòi đất đai bị cưỡng chiếm như ở Cồn Dầu - Đà Nẵng. Khi đưa ra sự so sánh như thế, ông Phạm Bình Minh đã đánh đồng những người biểu tình yêu nước, những giáo dân, dân oan với những thanh niên gây rối và bất hảo. Đây là một sự sỉ nhục những người trí thức yêu nước và nhân dân Việt Nam đến từ một quan chức cao nhất trong bộ Ngoại giao.

Trật tự công cộng, luật pháp và an ninh quốc gia cần phải được tôn trọng và lập lại ở Anh, nên cảnh sát đã được điều động. Nhưng theo BBC: “Trong những ngày bạo loạn tại London và một số tỉnh hồi đầu tháng Tám, người ta đã thấy cảnh sát Anh kiềm chế và trong rất nhiều trường hợp không chống lại những người biểu tình ném gạch đá hay bom xăng vào họ để tránh căng thẳng leo thang. Ngay cả khi lửa cháy tại nhiều nơi, cảnh cướp phá diễn ra hàng loạt, cảnh sát cũng không được trang bị vòi rồng và đạn thật hay đạn cao su nhằm tránh gây thương vong và đổ thêm dầu vào lửa”.

Còn ở Việt Nam, không những trật tự chung và an ninh quốc gia chẳng hề bị xâm phạm khi người dân biểu tình mà chính việc biểu tình này là một hành động cụ thể nhất biểu tỏ tinh thần trách nhiệm của họ đối với cộng đồng xã hội, nền an ninh quốc gia, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Vậy mà lực lượng công an Việt Nam không tỏ ra kiềm chế như cảnh sát Anh, họ đã hung hăng thẳng tay lôi những người biểu tình lên xe buýt, thẳng chân đạp liên tiếp vào mặt một người biểu tình, hăm dọa và liên tục theo dõi người biểu tình. Nói một cách chính xác, trong những cuộc biểu tình vừa qua, bạo động không xuất phát từ phía người dân mà là từ phía lực lực công an.

Tôi không thấy một một sự tương đồng khã dĩ nào ở đây. Chỉ có những người khả năng trí tuệ dưới mức trung bình mới có thể so sánh các cuộc bạo động ở Anh với các cuộc biểu tình ôn hòa của những người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc xâm lược mùa hè vừa qua; cộng với sự đánh đồng cách hành xử của cảnh sát Anh với công an Việt Nam. Ấy vậy mà một người đang ở cương vị ngoại trưởng một quốc gia có thể mạnh miệng so sánh hai sự việc ấy với nhau thì nếu đầu óc ông ta không có vấn đề thì liêm sỉ cũng thiếu vắng nghiêm trọng trong nhân cách con người này.

3/ “An ninh quốc gia” là một cụm từ dễ bị lợi dụng

Trong bất nền chính trị nào, đối với bất cứ chính phủ một quốc gia nào, an ninh quốc gia luôn là một vấn đề quan trọng. Nhưng an ninh quốc gia đặt trong mối tương quan giữa tự do của người dân và quyền lực của chính quyền luôn là một vấn đề phức tạp, dễ gây nhầm lẫn và dễ bị lợi dụng, đặc biệt là ở các xứ độc tài. Nhưng dù có những khó khăn như thế, chúng ta luôn có thể suy xét mọi vấn đề chính trị - xã hội một cách đúng đắn và minh bạch nhất trong lương thức của loài người.

Trong một nước dân chủ, người ta, một mặt luôn tìm mọi phương pháp hữu hiệu nhất để duy trì an ninh, bảo đảm sự an toàn của người dân và tạo một môi trường ổn định cho sự phát triển quốc gia; mặt khác, họ luôn thận trọng và cân nhắc để mục tiêu an ninh chung không phải là một vật cản trở sự thăng tiến nhân quyền và tự do dân sự. Nếu không làm được như thế, một chính quyền dân chủ biết được hậu quả mà họ phải lãnh nhận là gì!

Còn ở Việt Nam, vấn đề an ninh quốc gia luôn là cái lý cớ cho chính quyền trấn áp biểu tình, ngăn cấm sự thành lập của các hội đoàn dân sự và đàn áp những nhà bất đồng chính kiến. Trong luật pháp, “an ninh quốc gia” được định nghĩa rất mù mờ, tạo kẽ hỡ lớn cho sự tùy tiện hành động của chính quyền. Mục tiêu “an ninh quốc gia” luôn là phương cách hoàn hảo để họ tước đoạt quyền tự do công dân. Cái gọi là “an ninh quốc gia” trong đất nước này, không phải là sự ổn định chung cho chủ quyền đất nước và trật tự xã hội mà chính là sự vững vàng của chế độ trên sự cam chịu của dân chúng.

Quả vậy, khi xem xét mọi vấn đề, chúng ta nên tập chú vào bản chất hơn là hiện tượng. Mọi cái nhìn phiến diện đều là sự cản trở con đường nhận thức đúng đắn. Đừng ngụy biện và cũng đừng để kẻ ngụy biện dễ dàng lừa dối.

Để kết thúc bài viết này, tôi có một lời nhắn nhủ đến cá nhân ông Ngoại trưởng - ông Phạm Bình Minh và những nhà lãnh đạo giỏi chém gió của chúng ta rằng: Quý vị hãy để người dân Việt Nam được tự do, điều này cũng là để cho quý vị một cơ hội, đừng tự đào một cái hố ở đằng sau mỗi bước tiến của mình để đến một ngày nào đó quý vị sẽ kinh hoàng khi nhân dân Việt Nam nói với quý vị một câu tương tự: “Các ông hãy nhìn vào nước Lybia. Nếu chúng tôi có lo ngại về chủ quyền quốc gia, về tự do, an sinh và tiền đồ của chúng tôi, chúng tôi phải có biện pháp thôi. Đó là chuyện bình thường”.

Huỳnh Thục Vy
Tam Kỳ ngày 8 tháng 10 năm 2011

Nguồn:http://danluan.org/node/10204

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by QueAnh on 10/09/2011 11:31 PM)

phanthuc posted on 05/29/2011 11:21 PM

----------------------------------------------

Dân chủ đồng hành với sự thật

Huỳnh Thục Vy - blog Jane Hoang

Tất cả những nhà đấu tranh dân chủ ở Việt Nam cũng như trên khắp thế giới đều nhận thức và xác định rõ một mục tiêu rằng: họ đang đấu tranh vì một nền chính trị dân chủ và một xã hội tự do. Theo cách đó, dân chủ tự do có thể là mục tiêu của cả một đời người, cả một thế hệ người nhưng suy cho cùng đó không phải là mục đích cuối cùng của một dân tộc, của nhân loại. Nó chỉ là phương tiện để đạt đến một cái đích to lớn và vĩnh cửu: sự phồn vinh của quốc gia và sự thăng tiến mọi mặt của dân tộc hay nói rộng ra là của nhân loại.

Với mọi điều kiện và tiềm năng hiện có của con người trong thời đại này, dân chủ là phương tiện khả dĩ, hữu hiệu và tốt đẹp nhất. Trong bất cứ một thời đại nào cũng có những giá trị được mặc định đúng và giá trị dân chủ trong thời đại chúng ta cũng vậy. Quý vị thấy đấy, nhiều khi cuộc đời này không cho chúng ta nhiều hơn một con đường để đi. Khả năng hữu hạn của chúng ta đã giới hạn lựa chọn của chính mình. Với điều kiện, trình độ và tầm nhìn nhất định, nhân loại chỉ có thể chọn một con đường để tiến về phía trước. Và bất cứ sự lựa chọn phương tiện sai lầm nào cũng sẽ dẫn đến một kết quả khó khắc phục. Ngày hôm nay để có được an sinh, phồn thịnh liệu thế giới có một phương tiện hữu hiệu nào khác ngoài thế chế dân chủ không? Có thể nói là không! Lấy một ví dụ trên đây về dân chủ là để chứng minh cho cái thiển ý của tôi rằng: thật hời hợt khi ai đó phát biểu: “có nhiều phương tiện khác nhau để đạt được cùng một mục đích”. Không phải vậy. Hãy để tôi tiếp tục lấy dân chủ làm ví dụ như dưới đây.

Nhân loại đã lựa chọn dân chủ. Đó có thể là nền cộng hòa đại nghị hay nền cộng hòa tổng thống; cũng có thể là nền dân chủ đặt nặng sự bình đẳng xã hội như các quốc gia Bắc Âu hay là nền dân chủ coi trọng sự công bằng và cạnh tranh kinh tế như Hoa Kỳ, Anh, Pháp…Dù hình thái khác nhau nhưng chúng vẫn là những nền dân chủ thực thụ. Có thể quý vị cho rằng thật ngớ ngấn khi nói ra một điều hiển nhiên như thế. Xin trả lời, điều tôi muốn nói ở đây là để đạt được một mục đích chúng ta có thể tận dụng nhiều phương tiện. Nhưng các phương tiện đó dù đa dạng đến thế nào, vẫn giống nhau về bản chất và vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản của mục đích ban đầu. Chúng ta chỉ nên nói: những phương tiện khác nhau về hình thái nhưng giống nhau về bản chất sẽ đưa đến cùng một mục đích. Bởi vậy, sự lệch lạc của phương tiện sẽ dẫn đến sự sai khác của mục đích. Trong cuộc đấu tranh đòi nhân quyền, dân chủ hiện nay tại Việt Nam, với tâm tư bối rối của một người trẻ, tôi thiết nghĩ vấn đề phương tiện và mục đích phải được đặt ra một cách nghiêm túc.

Đồng ý rằng có nhiều cách vận động dân chủ khác nhau. Tùy theo điều kiện và tiềm lực cụ thể của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người, những nhà đấu tranh có thể vận động theo các cách khác nhau và linh hoạt trong từng tình huống. Những blogger viết bài phê phán hiện thực xã hội; các luật sư bênh vực nhân quyền trong từng vụ án liên quan đến dân oan, đến các nhà dân chủ và nêu lên các vấn đề pháp lý hiện đang tồn tại trong chế độ; các chức sắc tôn giáo bảo vệ quyền tự do hành đạo và bảo vệ tín đồ khỏi sự chèn ép của chế độ…Tất cả những hoạt động này đều vì mục tiêu đòi lại nhân quyền bị tước đoạt, đấu tranh xây dựng thể chế pháp trị, hướng tới một Việt Nam dân chủ, tự do, thịnh vượng.

Nhưng xin lưu ý cho cũng như bất cứ sự việc, hiện tượng nào khác trong thế giới, dân chủ cũng có những nguyên tắc tự thân của nó. Nguyên tắc là những quy tắc gốc rễ chỉ đạo hành động, là cơ sở để nhận diện một sự việc, hiện tượng; từ đó phân biệt nó với vô vàn những sự việc, hiện tượng khác mà không có bất cứ sự nhầm lẫn nào. Khi một sự việc, hiện tượng đánh mất đi nguyên tắc của nó thì nghiễm nhiên tự phủ nhận và loại bỏ chính mình. Vì vậy trong quá trình vận động dân chủ, dù phải đối phó với nhiều tình huống khác nhau, những nhà dân chủ phải giữ vững các nguyên tắc dân chủ. Chính những nguyên tắc này giúp họ được nhân dân nhận diện như những nhà dân chủ chứ không phải là những tên phát xít, không phải cộng sản, cũng không phải những kẻ cơ hội nào khác. Giữ vững giá trị và lý tưởng giúp một nhà dân chủ trở nên đáng tin cậy, có uy tín và tạo được ảnh hưởng to lớn hơn; từ đó cuộc đấu tranh của họ sẽ hiệu quả hơn.

Nhiều người bạn đã nói với tôi rằng: tôi cực đoan và cứng nhắc trong cách nhìn nhận tình hình thực tế và lịch sử; dân chủ là tôn trọng sự khác biệt nên chúng ta không thể áp đặt cái phương cách mình cho là đúng lên người khác; và rằng dân chủ là nhân văn nếu không sẽ không khác gì cộng sản. Đúng! Dân chủ là nhân văn, là tôn trọng sự khác biệt. Nhưng một thứ chỉ còn là chính nó nếu nó giữ được nguyên tắc vốn có. Và hơn nữa, một giá trị chỉ thực sự tốt đẹp khi nó tôn trọng sự thật, không vì bất cứ lý do gì mà dễ dãi, thỏa hiệp, lấp liếm sự thật. Trước khi xét đến những nguyên tắc khác của dân chủ, chúng ta phải bảo đảm DÂN CHỦ ĐỒNG HÀNH VỚI SỰ THẬT. Dân chủ sẽ chẳng có gì đáng nói nếu nó không đảm bảo sự thật.

Vì từ chính nguồn gốc và bản chất của mình, dân chủ tự do không chỉ là đa đảng, bầu cử tự do, tự do cá nhân và pháp trị; nó còn có nghĩa là “khai sáng”. Khai sáng là một nỗ lực đưa cá nhân, tha nhân hay là cả xã hội thoát ra khỏi tình trạng “vị thành niên” do chính chúng ta tạo nên để tiến đến một trạng thái tư duy mạnh mẽ, được tự do, có khả năng nhận thức thế giới một cách độc lập và chân xác để cuối cùng là đạt đến sự tiến bộ. Theo cách hiểu đó, cuộc đấu tranh cho dân chủ là một nỗ lực vận động để TIẾN BỘ. Vậy làm sao để có tiến bộ? Trạng thái này chỉ có thể đạt được thông qua một quá trình nhận thức và hành động đúng với sự thật. Tiến bộ sẽ chỉ đến với những ai dũng cảm đối mặt sự thật, nhìn nhận thế giới như nó vốn có và làm cho người khác cũng nhận thức được sự thật đó. Socrates đã chấp nhận hình phạt uống thuốc độc khi bị kết tội “làm hư hỏng thanh niên” chỉ để chứng minh niềm tin của ông vào những điều ông cho là đúng. Đó là một trong những minh chứng sống động trong lòng tôi về một lý tưởng: sự thật là sự thật, sự thật phải được trình bày như chính nó và không có phương tiện “linh hoạt, uyển chuyển” nào có thể được chấp nhận nếu nó gạt bỏ sự thật. Vì tiến bộ không thể đạt được nếu phủ nhận, lấp liếm hay đánh lạc hướng nhìn nhận sự thật. Một cá nhân, một dân tộc không thể thay đổi số phận, không thể thay đổi lịch sử nếu chưa đủ dũng cảm nhìn nhận sự thật. Xin lưu ý rằng “sự thật” mà tôi đang đề cập là những sự kiện đã xảy ra trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và đã để lại hệ lụy nhất định. Nói tóm lại, sự thật là khai sáng, khai sáng là dân chủ; không có sự thật thì không có dân chủ thực thụ, cũng không thể có được sự tiến bộ.

Dù sự đề cao và vạch rõ sự thật có thể làm cho cuộc vận động hiện nay gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm hơn. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta né tránh nó. Một số nhà dân chủ đã viện dẫn tư tưởng Hồ Chí Minh như là cách tìm được sự “chính danh”, tránh bị quy chụp và tranh thủ được sự ủng hộ từ những người dân tôn sùng Hồ Chí Minh như thần tượng. Nhưng có bao giờ họ tự hỏi: họ phải biện minh với người dân ra sao khi một ngày nào đó hồ sơ Hồ Chí Minh được bạch hóa? Chúng ta không thể vì những cái lợi trước mắt mà bỏ qua nguyên tắc và sự thật. Ấy là chưa nói trách nhiệm của một nhà dân chủ là phải khai sáng cho nhân dân, không vì bất cứ hoàn cảnh nào mà chối bỏ sự thật hay khiến cho người dân ngộ nhận sự thật, tiếp tục bám víu vào sự dối trá. Có những khó khăn mà chúng ta nhất thiết phải vượt qua nếu muốn đến đích mà không thể dùng cách đi vòng nào khác. Nói như thế không phải là tôi coi thường những tổn thương và nguy hiểm mà những nhà dân chủ phải đối mặt khi trung thành với những nguyên tắc và lý tưởng trong cuộc đấu tranh với chế độ độc tài. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng thế giới hôm nay không phải là thế giới cổ đại năm 399 trước Công nguyên, nghĩa là khi đấu tranh, dù phải gặp phải những tổn thất không thể tránh khỏi, nhưng những nhà đấu tranh của chúng ta sẽ được bảo vệ một cách tương đối bởi một thế giới ngày càng minh bạch và công lý đang từng bước được thực hiện.

Cuộc đấu tranh cho tự do là một hành trình cam go và phức tạp. Nhưng nó cũng là cuộc vận động đáng làm nhất, chính nghĩa nhất. Đây có thể xem là một sự nghiệp vĩ đại, mở ra trang sử mới cho dân tộc. Không vì những nghi ngờ, bất an nào khiến cá nhân tôi mất niềm tin vào giá trị dân chủ và cuộc vận động dân chủ này. Nhưng không có con đường dễ dàng nào để đạt đến một thành tựu lớn. Chọn những cách dễ dàng cho một công việc quan trọng sẽ đưa đến những sai lầm khủng khiếp. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của chúng ta là một Việt Nam kiêu hãnh phồn thịnh và tự do. Thử hỏi một dân tộc làm sao có đủ sức mạnh tinh thần để trở nên kiêu hãnh trên vũ đài thế giới với những con người ngay cả sự thật cũng không dám đối mặt? Hào khí và trí tuệ của dân tộc trước hết thể hiện ở sự tôn trọng sự thật, để ngay từ những sự thật dù đắng cay và tồi tệ đó, chúng ta đứng lên trong tinh thần mới, tư duy mới.

Dân tộc Việt Nam trước bước ngoặt lịch sử khó khăn này đang cần những con người như Phó Đức Chính hiên ngang trước máy chém khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Tinh thần thượng tôn nguyên tắc và sự thật, không khoan nhượng, không thỏa hiệp vì lý tưởng đã tạo nên bản lĩnh anh hùng vượt thời gian của những nhân cách lớn như Socrates ở Hi Lạp cổ đại hay Phó Đức Chính ở Việt Nam thời thuộc Pháp. Vì thế, muốn đấu tranh để xây dựng một chế độ Dân chủ - Pháp trị, kiến tạo một Việt Nam mới, những nhà dân chủ của chúng ta không thể bỏ qua NGUYÊN TẮC và SỰ THẬT. Và đó cũng là những gì mà một người trẻ như tôi luôn trăn trở.

Tam Kỳ ngày 15 tháng 8 năm 2011

Huỳnh Thục Vy

Nguo62n: http://danluan.org/node/9622

Trở Về Đầu Trang






Vài suy nghĩ về việc sửa đổi Hiến pháp?

Huỳnh Thục Vy

Những ngày này, báo chí trong nước, giới thạo tin và những người có quan tâm đến tình hình đất nước đang bàn tán về việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Các đại biểu Quốc hội, nhà báo, luật gia, kinh tế gia… đã hăng hái đưa ra rất nhiều ý kiến đóng góp xung quanh vấn đề thủ tục, nhân sự tham gia cố vấn dự thảo Hiến pháp sửa đổi, những định hướng và nội dung cụ thể cho việc sửa đổi. Mặc dù còn nhiều người hoài nghi về hiệu quả của việc làm này nhưng không ít người đặt những hi vọng nhất định vào nó.

Về luật học, Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đóng vai trò chỉ đạo các luật. Về chính trị, Hiến pháp là một cái khung định hình những nguyên tắc chính trị cơ bản, thiết lập hình thức chính thể, cấu trúc Nhà nước của một quốc gia. Cũng như bất cứ một định chế chính trị xã hội nào, Hiến pháp phải được linh động thay đổi theo thời gian cho thích hợp với các điều kiện cụ thể của quốc gia. Không thể phủ nhận rằng, sau một khoảng thời gian nhất định, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của một quốc gia sẽ có những thay đổi và việc tu chính một bản Hiến pháp là rất cần thiết để làm cho văn bản mang tính cốt lõi pháp lý và chính trị này phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Nếu không, Hiến pháp lỗi thời sẽ ngăn cản những tiến bộ xã hội.

1/ Thay đổi nhiều nhưng không căn bản

Từ năm 1945 tới nay, Nhà cầm quyền cộng sản đã ban hành bốn bản Hiến Pháp (1946, 1959, 1980 và 1992) và ngay chính bản Hiến pháp 1992 hiện hành cũng đã được bổ sung, sửa đổi một lần mới đây vào năm 2001. Thay đổi là cần thiết, nhưng khi người ta thay đổi quá nhiều lần và khoảng cách giữa hai lần thay đổi quá ngắn khiến chúng ta không thể không suy nghĩ.

Tác giả Huỳnh Thục Vy sinh năm 1985, hiện đang sống tại Quảng Nam

Việc bỏ đi một Hiến pháp cũ để thay bằng một Hiến pháp mới, hay việc tu chính một bản Hiếp pháp hiện hành là một việc hệ trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Việc làm này phải song hành với thiện chí tiến bộ của Nhà cầm quyền, nhận thức và sự đóng góp của người dân trong việc xây dựng Hiến pháp, trình độ lập pháp của Quốc hội, hiện trạng quốc gia… Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.

Chúng ta hãy nhìn vào Hoa Kỳ, từ một quốc gia mới giành độc lập (13 bang với dân số khoảng 2,5 triệu người) đã trở thành một siêu cường kính tế, chính trị, quân sự (50 bang với dân số hơn 308 triệu người) trong khoảng hơn 200 năm chỉ có duy nhất một bản Hiến pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ được soạn thảo năm 1787, cách đây 224 năm (dù đã trải qua 27 lần tu chính) đến nay vẫn có hiệu lực pháp luật. Hay ngay cả một quốc gia rộng lớn, dân số đông, thành phần tôn giáo và sắc tộc phức tạp như Ấn Độ từ năm 1950 (3 năm sau ngày độc lập) đến nay duy chỉ có một bản Hiếp pháp (với nhiều lần tu chính Hiếp pháp). Còn Trung Quốc, một quốc gia cộng sản sát vách Việt Nam từ khi Mao Trạch Đông nắm quyền lãnh đạo toàn bộ Đại lục đã có bốn bản Hiến pháp thay nhau ra đời (năm 1954, 1975, 1978 và 1982), riêng Hiến pháp hiện hành (năm 1982) cũng đã nhiều lần được tu chính. Ở Việt Nam, bao lần Hiến pháp thay đổi, nhưng những bất cập và khiếm khuyết gốc rễ về chế độ chính trị, hình thức chính thể, sự phân chia quyền lực Nhà nước, quyền tư hữu đất đai… vẫn tồn tại.

Ở một quốc gia dân chủ, Hiếp pháp đạt trình độ lập pháp cao với thủ tục nghiêm ngặt, có nội dung hoàn chỉnh và thống nhất, nêu lên cơ sở pháp lý và chính trị mang tính nguyên tắc và cốt lõi. Dù trải qua thời gian dài nó vẫn giữ nguyên giá trị bất hủ; và chỉ cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề mới cho phù hợp với sự phát triển của lịch sử đất nước thì nó có thể có hiệu lực pháp luật vượt thời gian. Còn dưới các chế độ độc tài, Hiến pháp chỉ như một thứ đồ chơi, biến dạng tùy theo sở thích của tầng lớp lãnh đạo. Thực tế cho thấy, Hiến pháp thường hay bị thay đổi bởi các chế độ độc tài. Có hai trường hợp, một là những nhà độc tài lên nắm quyền nhờ một bản Hiến pháp dân chủ như Hitler chẳng hạn sẽ quay ngược lại thay đổi Hiến pháp đó bằng một bản Hiến pháp mới có lợi cho ông ta trong việc thâu tóm quyền lực. Hai là, những chính thể độc tài đang cai trị với bản Hiến pháp phi dân chủ do chính họ làm ra, cũng thường thay đổi nó theo từng thời kỳ để né tránh việc giải quyết những bức xúc trong nước.

Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!

2/ Ý chí của ai?

Nhiều người đã đóng góp ý kiến rằng nên xây dựng một bản Hiến pháp mang tính chất của một khế ước (khế ước trao quyền của người dân cho những người sẽ đại diện họ lãnh đạo quốc gia, đồng thời những người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm trước nhân dân khi không thực hiện được những điều mình cam kết). Mong ước có một Hiến pháp như một khế ước là mong ước chính đáng của người Việt Nam từ bao năm qua. Thế nhưng, điều kiện tiên quyết để Hiến pháp được coi là khế ước khi nó được lập nên và phê chuẩn bởi một Quốc hội đại diện cho nhân dân (do nhân dân bầu lên một cách minh bạch và công bằng). Mỗi một đại biểu Quốc hội phải gánh vác trách nhiệm được dân giao phó, ý chí chính trị của họ chính là ý chí của nhóm người mà họ đại diện. Hiến pháp hay bất cứ đạo luật nào đều được tạo nên bởi Quốc hội thì trước tiên ta khẳng định nó thể hiện ý chí của Quốc hội. Nếu Quốc hội thực sự đại diện cho nhân dân thì bản Hiến pháp ấy cũng thể hiện ý chí người dân. Và như cái cách mà tôi luôn đề cao, mọi thứ đều mang cái bản chất và ý chí của những nhân tố tạo ra nó. Một bản Hiến pháp do những người đại diện cho Đảng tạo ra thì nội dung của nó chỉ thể hiện ý chí của Đảng. Vậy làm sao ta có được một khế ước (hợp đồng) công bằng khi những người lãnh đạo cứ tự biên tự diễn, người dân chỉ việc ký và thực hiện? Đó là vấn đề về thủ tục.

Tiếp đến là vấn đề nội dung. Người dân và các chuyên gia được tham gia vào những nội dung sửa đổi này ở mức độ nào?! Hay đó chỉ là sự “tiếp nhận cởi mở” các ý kiến đóng góp, để rồi cuối cùng đâu lại vào đó, nội dung sửa đổi chỉ là những văn bản đặt trên bàn làm việc Trung ương Đảng; Quốc hội chỉ việc nhắm mắt thông qua, còn người dân chẳng mảy may biết gì. Đó là chưa kể đến một cuộc trung cầu dân ý là không thể thiếu cho một tu chính án Hiến pháp. Cứ giả định rằng, những đại biểu Quốc hội “Đảng cử dân bầu” này dù không có trưng cầu dân ý, dù không tham khảo ý kiến chuyên gia vẫn đưa ra được những nội dung sửa đổi cực kỳ tiến bộ, hợp lòng dân, thể hiện ý chí người dân. Thì có gì đảm bảo được rằng Hiến pháp sửa đổi này sẽ được tôn trọng? Chúng ta đều biết rằng một bản hiến pháp cực kỳ tiến bộ cũng chỉ là một cái “hàng rào giấy”. Có ai ngăn cản được nhà cầm quyền vi phạm nó? Riêng cái đuôi “theo quy định của pháp luật” cũng đã mở ra một con đường thênh thang cho sự ra đời của các đạo luật vi hiến. Người ta cố tình làm cho Hiến pháp phụ thuộc vào luật chứ không phải ngược lại. Khi làm luật, hoặc ra các nghị định, sắc lệnh, người ta sẽ quăng Đạo luật cao nhất này vào một xó. Để bảo vệ Hiến pháp, nhiều người nghĩ đến một Tòa bảo hiến. Nhưng khi chưa có tam quyền phân lập thì Tòa bảo hiến cũng bằng thừa. Và khi chưa có xã hội dân sự và đa đảng thì tam quyền phân lập cũng chỉ là trên danh nghĩa. Có đa đảng và xã hội dân sự mạnh mẽ, thẩm phán sẽ không dính dáng gì đến Đảng phái, chỉ làm việc theo lương thức và dưới sự giám sát của người dân. Còn khi chỉ có một Đảng cầm quyền và xã hội dân sự hầu như không có thì dù có tam quyền phân lập chăng nữa, tất cả thẩm phán kể cả thẩm phán Tòa bảo hiến (cũng như các quan chức hành pháp và tư pháp) sẽ thống nhất làm việc theo lệnh Đảng và không cần để ý đến phán xét của dân. Một ví dụ gần đây nhất là : bất chấp sự tồn tại của điều 69 Hiến pháp, chính quyền Hà Nội đã ra một thông báo cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc. Đến nỗi dù nó không có chữ ký thì vẫn có hiệu lực pháp luật, bằng chứng rõ ràng là nhiều người đã bị bắt vì biểu tình, và cuối cùng chính quyền Hà Nội đã tạm dẹp yên các cuộc biểu tình yêu nước. Ở cái xứ sở này, một bản thông báo không chữ ký có giá trị hơn Hiến pháp!

Người ta tốn nhiều tâm sức và giấy mực để đóng góp nội dung này nội dung kia vào dự thảo Hiến pháp. Chưa nói đến việc Đảng có thực lòng ghi nhận ý kiến đóng góp hay không, thiết nghĩ chữa bệnh phải chữa từ gốc rễ. Cũng như vậy, những tiến bộ phải phát triển từ căn cơ thì mới thực chất và bền vững, chứ không phải cứ úp cái Hiến pháp tiến bộ lên nền chính trị thì dân sẽ bớt khổ, nước sẽ bớt loạn. Mặc dù một Hiến pháp tiến bộ sẽ là cơ sở pháp lý cho những vận động dân chủ tiệm tiến, nhưng đó là cả một quá trình lâu dài nếu chưa kể việc này phụ thuộc rất nhiều vào mối tương quan về thế và lực giữa nhà cầm quyền và người dân. Khi viết những dòng cuối bài này tôi đang nghĩ đến một câu ông bà mình thường nói: “cậy người chi bằng cậy mình”!

Huỳnh Thục Vy
Tam Kỳ ngày 7 tháng 9 năm 2011

Nguồn : Facebook Huỳnh Thục Vy

Trở Về Đầu Trang






Kính gởi các anh chị em tham gia biểu tình

Huỳnh Thục Vy

Một mùa thu nữa lại đến. Sau bao oi bức của thời tiết và rộn rã của nhịp sống mùa hè, mọi thứ dường như dịu hẳn lại để bước vào những ngày thu mát mẻ. Sau những ngày nhiệt tình, sôi nổi biểu tỏ tinh thần trách nhiệm của chúng ta khi tổ quốc lâm nguy, lại bị đối xử thô bạo, các anh chị em có thể bình tĩnh và dịu lòng lại để suy nghĩ về nhiều điều. Mùa thu, lòng người cũng lắng xuống dành chỗ cho những suy tư sâu kín: những nuối tiếc về quá khứ, bức xúc hiện tại và bất an cho tương lai; có thể sẽ là dịp để chúng ta loại bỏ những ngộ nhận của chính mình.

Việt Nam những ngày mùa hè vừa qua chắc sẽ là kỷ niệm khó phai trong lòng anh chị em. Nhưng những ngày đầu thu này lại càng sâu đậm hơn vì những tổn thương thường khó quên hơn những hồ hởi. Dõi theo hành trình của các anh chị em trong suốt 11 cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc vừa qua, nhiều suy nghĩ vui buồn, lo lắng và hi vọng đan xen trong lòng tôi kể từ ngày chủ nhật không biểu tình ấy.

Có lẽ đã có những đổ vỡ diễn ra trong lòng nhiều thanh niên Việt Nam- những người mà đối với họ những “dấu son” về ‘chiến tích” và “công lao” đã sừng sững giữa lòng họ như một tượng đài bất khả xâm phạm. Và cũng có những quyết tâm càng lớn dần lên trong tâm tư những người không còn “ngây thơ” nữa. Một pháo đài quyền lực đang ngự trị trên đất nước này, nhưng đối với những con người thực sự có tâm huyết và tri thức thì hôm nay pháo đài niềm tin ấy chắc chắn đã phải sụp đỗ (dù lẽ ra nó đã sụp đổ cách đây lâu rồi).

Hãy nhớ lại những ngày mua thu 66 năm về trước, khi chính cái pháo đài quyền lực và niềm tin ấy được dựng lên giữa lòng một Việt Nam đau thương và hỗn loạn. Đó là những ngày được người ta gọi là “Cách mạng tháng 8”. Giữa những tổn thương tinh thần vì gần một thế kỷ bị kiềm kẹp, đày đọa dưới gót giày kẻ xâm lược, giữa những tự ái dân tộc vì phải làm một dân tộc vong quốc, giữa cả những cơn đói ăn hành hạ ngày đêm, người Việt Nam ngơ ngác trước thời cuộc rối ren, lúc đó người cộng sản đã giương lên ngọn cờ của họ. Cả thế kỷ 20, họ đã đi hết chiến thắng này đến chiến thắng khác với những âm mưu dù đen tối nhưng lại được đặt trên niềm tin của nhân dân, dù huyễn hoặc nhưng vững chắc và chói lọi hào quang.

Thực tế người ta thật chóng quên và ít chịu suy nghĩ. Khi buông thả trong sự xa hoa giàu có, người ta thường rất mau quên những ngày khó khăn không một xu dính túi. Khi được “tiền hô hậu ủng” họ thường ít khi nhớ đến cái thời chui rúc trong những xó xỉnh của thành phố hay nơi rừng hoang nước độc. Khi vẫn được chờ đợi, vẫn được khoan thứ thì họ vẫn tiếp tục hoành hành không giới hạn. Lẽ nào người ta vô tri đến nỗi không biết được rằng sự giàu có, địa vị cao ngất ấy từ đâu và do ai mà có?! Chắc họ nghĩ họ cướp được ở đâu đó?! Không phải vậy, họ vẫn ở đó được vì người dân vẫn ngây thơ tin tưởng, tha thứ và chờ đợi. Nhưng chúng ta đều biết ngay cả những người ngây thơ và yếu đuối nhất, khi bị đẩy đến tột cùng tổn thương cũng sẽ tự nhiên sáng suốt và mạnh mẽ. Vì lẽ đời, con người luôn muốn được sinh tồn, muốn tìm đường sống trong cái chết. Và sự chờ đời, tha thứ nào rồi có lúc cũng đi đến điểm cuối cùng.

Những hành động gần đây của Nhà cầm quyền khiến tôi nghĩ rất nhiều đến những cái “giới hạn” như thế. Đầu tiên là những lần trấn áp người biểu tình phản đối Trung Quốc. Riêng cái việc ngăn cản người dân thể hiện lòng yêu nước cũng đã là một hành động vô lý, vi hiến và đáng lên án rồi. Họ còn hạ nhục những tấm lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm chân chính của anh chị em bằng những vu cáo trên các phương tiện truyền thông và bằng những hành vi thô bạo ở hiện trường biểu tình. Tiếp đến, là việc người ta ra một bản Thông báo vi hiến, cấm người dân biểu tình. Những hành động này có lẽ đã gợi lên điều gì đó khá rõ trong lòng nhiều người dân Việt Nam.

Rồi một sự kiện mà tôi cho là rất quan trọng gần đây, thể hiện rõ ràng nhất thái độ của Nhà cầm quyền độc tài là việc Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã hết lời ca ngợi quan hệ Việt-Trung theo lời dẫn của Thông tấn xã Việt Nam ngày 28 tháng 8 sau Đối thoại chiến lược an ninh quốc phòng Việt- Trung ở Bắc Kinh. Đây là lần đầu tiên sau sự kiện hai lần Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò Việt Nam và những cuộc biểu tình của anh chị em, chính quyền cộng sản biểu tỏ thái độ minh bạch và mạnh mẽ đến vậy. Sau những gây hấn trên biển và thái độ hống hách trên báo chí Trung Quốc, một lãnh đạo cao cấp của Chính phủ vẫn có thể tuyên bố: “Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng,... một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?” ; vẫn biết rõ việc đưa tranh chấp biển Đông thành một vấn đề quốc tế, cần được giải quyết bằng luật pháp quốc tế là có lợi cho việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam, chính quyền cộng sản, qua lời ông Vịnh vẫn cho rằng: “Việt Nam không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc” thì tất cả những điều đó chứng tỏ lợi ích quốc gia chẳng là gì đối với những người lãnh đạo cộng sản này và những cuộc “thương lượng song phương” sẽ chẳng có chỗ để bàn cãi và bảo vệ lãnh hải Việt Nam. Vậy là hôm nay, chúng ta có thể nói rằng những nhà lãnh đạo Việt Nam đã vạch rõ chiến tuyến của họ với nhân dân Việt Nam rồi.

Cách đây hơn sáu thập kỷ, họ đã lôi kéo, nhân danh nhân dân để nắm quyền cai trị miền Bắc. Rồi tiếp đến họ cũng một lần nữa nhân danh chính nghĩa yêu nước để lật đổ Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã làm được tất cả những mưu đồ đó cũng chỉ bởi chúng dựa trên niềm tin, sự khao khát hòa bình và lòng ái quốc của nhân dân. Họ đã kéo nhân dân về phía mình để trở nên chính nghĩa. Thì đến hôm nay, bằng chính những hành động dối trá và trở mặt của mình, họ đã xúc phạm niềm tự hào dân tộc và lòng ái quốc nồng nàn đó, họ thực sự đã đẩy nhân dân ra xa. Dù họ xấu xa, nhưng tôi nghĩ trong quá khứ họ đã thông minh theo một cách nào đó. Và rồi bây giờ sự độc đoán và tham lam của họ đã chiếm hết chỗ của những xảo thuật thông minh kia. Những hành động trái ngược này rồi sẽ đưa đến những hiệu ứng trái ngược.

Tôi biết rằng có rất nhiều anh chị em tham gia tuần hành phản đối Trung cộng là con cháu những gia đình “có công với cách mạng”. Các anh chị em ấy là những người vẫn luôn tin tưởng vào chế độ, vẫn cho rằng những sai lầm của chế độ là “không thể tránh khỏi” và Đảng có thể thay đổi để tiếp tục tồn tại và lãnh đạo đất nước. Thế nhưng cho đến hôm nay, các anh chị em và nhiều bạn trẻ khác nữa phần nào đã nhận diện được bộ mặt thật của Nhà cầm quyền. Đây là một bàn thua trông thấy của chế độ độc tài! Các chế độ độc tài luôn bám víu quyền lực đến phút cuối cùng, nhưng những kẻ đã lỗi thời cùng đường này có làm gì đi nữa thì cũng sai lại càng sai.

Thực sự xót xa và phẫn nộ khi nhìn thấy cảnh anh chị em biểu tình bị đối xử thô bạo: bị giằng kéo bắt lên xe bus, bị bắt giữ, bị đạp cả vào mặt…Không đau lòng sao được khi lòng yêu nước được thể hiện tự nhiên và chân thành nhất của mọi người không những bị bôi nhọ, bị phủ nhận mà còn bị chà đạp trắng trợn như thế. Nhưng tôi cho rằng: không có điều gì là hoàn toàn xấu, không có cục diện nào là hoàn toàn bất lợi cả. Những hành động của các anh chị dù có thể bị bạo quyền chặn đứng cũng không bao giờ là uổng phí. Qua những việc như thế, niềm hi vọng vào sự đổi thay trong tôi càng được xác quyết. Bởi vì tôi nghĩ rằng, khi chúng ta muốn làm một việc tốt đẹp thì một trong những việc quan trọng đầu tiên là nhận diện kẻ xấu muốn cản đường. Cũng như muốn cứu nước thì việc trước tiên là đa số người dân Việt phải biết đích xác ai là kẻ thù ngoại xâm và ai là kẻ đồng lõa. Nay Nhà cầm quyền đã lộ rõ bản chất độc tài, tham quyền cố vị, lệ thuộc ngoại bang thì mọi thứ càng trở nên rõ ràng hơn, con đường mà người Việt Nam phải đi, việc mà người Việt nam phải làm đã sáng tỏ hơn, không còn bị sự “lập lờ đánh lận con đen” làm cho bối rối và ngộ nhận nữa. Việc gì đến sẽ phải đến.

Những ngày cuối hè đầu thu năm nay là khoảng thời gian buồn, thậm chí có cả nước mắt của anh chị em. Nhưng thái độ và cách cư xử của Nhà cầm quyền sẽ vạch rõ bản chất của họ ra trước con mắt phán xét của toàn dân và những cuộc tuần hành của quý anh chị em sẽ đi vào lịch sử như một dấu ấn về tinh thần ái quốc của người dân Việt Nam chúng ta. Và hơn thế nữa, chúng sẽ thúc đẩy những hành động có ý nghĩa khác trong tương lai. Nếu nước nhà có một cuộc thay đổi lớn lao và ý nghĩa thì hành động của anh chị em là bước đầu tiên cho cuộc chuyển mình quan trọng đó. Xin cho tôi gởi đến quý anh chị em lời chào thân ái và quý trọng.

Huỳnh Thục Vy
Tam Kỳ ngày 2 tháng 9 năm 2011

Nguồn:http://danluan.org/node/9894

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by QueAnh on 09/10/2011 10:19 AM)

QueAnh posted on 08/15/2011 12:27 PM

----------------------------------------------

Người Mỹ nói đến “đấu tranh giai cấp”?!

Huỳnh Thục Vy

Occupy Wall Street. Ảnh On the net

Phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” bắt đầu từ 17/9 ở New York, Hoa Kỳ nay đã lan rộng khắp bốn châu lục. Phong trào này được cho là lấy cảm hứng từ “Mùa Xuân Ả Rập” ở Bắc Phi. Những người biểu tình mô tả đây là một “cuộc cách mạng thực sự”, thậm chí những người có quan điểm cánh tả coi đây là một cuộc “đấu tranh giai cấp”. Trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung đứng trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng thứ hai chỉ trong vòng ba năm và nền chính trị dân chủ dần bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, thiển nghĩ vấn đề “chủ nghĩa tư bản” và sự canh tân nền chính trị dân chủ đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và toàn diện không phải đối với các nhà chính trị học và xã hội học thế giới mà còn là những người Việt Nam quan tâm thời cuộc.

Ban đầu, tôi không chú ý đến phong trào này cho lắm. Bởi lẽ, ở những xứ sở dân chủ người ta có thể biểu tình vì bất cứ lý do gì. Đó là cách thể hiện những nguyện vọng, đòi hỏi cần được đáp ứng, những bức xúc cần được giải tỏa của người dân hay thậm chí chỉ là những dịp bày tỏ thái độ của họ trước những vấn đề không mấy quan trọng. Biểu tình ở Tây phương gần như một thứ văn hóa- văn hóa phản kháng và văn hóa hành động tập thể. Dù là gì đi nữa, tôi cho rằng những cuộc biểu tình là cần thiết và chúng là biểu hiện của tự do. Sự phản kháng và thách thức quyền lực sẽ tạo ra sức ép cần thiết lên chính quyền và giới lãnh đạo kinh tế nhằm đẩy họ đến chỗ phải có những điều chỉnh thích hợp. Chính nền dân chủ bảo vệ quyền phản kháng của người dân; và sự phản kháng đến lượt nó, lại tạo ra năng lượng tự thay đổi, tự làm mới để bảo vệ nền dân chủ.

Nhưng khi phong trào này trở nên rầm rộ và chung quanh nó xuất hiện những ngụy biện lớn kể cả những trò “giậu đổ bìm leo” từ bên ngoài phong trào ấy, thì tôi nghĩ mình không thể không quan tâm. Đặc biệt, khi những người có tiếng tăm và có ảnh hưởng đối với quần chúng như các diễn viên, đạo diễn ở Mỹ lại mạnh mẽ lên tiếng đòi làm “cách mạng”, đòi “đấu tranh giai cấp”, đòi những người ở tầng lớp dưới phải là người lãnh đạo đất nước…thì những ai muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do phải lên tiếng. Cũng phải kể đến nhiều người cầm bút bất lương ở Việt Nam “thừa nước đục thả câu” đã gân cổ lên rằng “chủ nghĩa tư bản thối nát” và “người Mỹ cũng ủng hộ chủ nghĩa xã hội”, để ngụy biện cho cái chế độ độc tài đã nuôi dưỡng họ.

Khắp nơi trên thế giới, mỗi khi có cơ hội thì nhiều người ngay lập tức cho rằng chủ nghĩa tư bản là không thể chấp nhận được, phải thay đổi…, mặc dù họ hiểu biết rất ít về chính trị, kinh tế và xã hội. Nói đến đây tôi nhớ đến việc nữ diễn viên Jane Fonda cùng với giới điện ảnh Hoa Kỳ phát động phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, ủng hộ cộng sản; hay những phong trào thanh niên trên khắp thế giới cuối thế kỷ 19 góp phần quan trọng cho sự bành trướng của chủ nghĩa xã hội. Có những người rất thích nói đến xã hội, bình đẳng, giai cấp … trong khi họ chẳng biết gì về bản chất của sự bình đẳng và mối tương quan giữa tự do và bình đẳng. Họ vô tình hay cố ý không nhận ra rằng: để cho tất cả được tự do và có cơ hội ngang nhau nhằm quyết định vận mệnh của mình, đó mới là công bằng, chứ không phải là “cào bằng” tất cả.

Các nhà lãnh đạo và giới tư bản Hoa Kỳ không hề câu kết nhau tước đoạt quyền tư hữu, không sung công tài sản của người dân Mỹ, không lấy hết đất đai, trâu bò của họ để thành lập hợp tác xã trá hình, không lấy hết ruộng vườn của họ rồi đền bù với giá rẻ mạt, không gom tất cả tài sản quốc gia lại để ăn chia nhau. Vì hệ thống chính trị dân chủ, pháp trị không cho họ cái quyền làm như thế. Cái lỗi của họ là cái lỗi chung của nhân loại- đó là sự tham lam. Họ tham lam, họ dùng tiền để tác động tới chính quyền nhằm trục lợi làm cho kinh tế khủng hoảng và làm cho đời sống người dân trở nên khó khăn. Phản đối sự tham lam của giới tài phiệt và sự hoạt động kém hiểu quả, cũng như thái độ không chú trọng quyền lợi người dân thường của chính phú là một động thái cần thiết. Nhưng người ta nên phản kháng với nhận thức rằng bất cứ định chế chính trị hay kinh tế nào của nhân loại cũng tồn tại khiếm khuyết và có xu hướng tha hóa. Chúng ta không thể có được cái hoàn hảo nhưng chúng ta có thể có được một cơ chế khắc phục sai lầm hiệu quả.

Đừng thấy sự tự do cạnh tranh có khiếm khuyết mà vội vàng ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Bởi vì trong cái gọi là xã hội XHCN ấy, bạn không được tư hữu ngay cả mảnh đất truyền thừa của tổ tiên, không có cả quyền phản đối chính quyền dù nó sắp bán nước đi nữa, không có tất cả những quyền mà bạn vốn có trong thể chế dân chủ, mà đôi khi sự hiện hữu nghiễm nhiên của nó làm bạn dễ quên lãng và phớt lờ nó. Người ta nên chọn loại thể chế nào: thể chế dân chủ- nơi mà người ta có thể phản kháng và phản kháng hiệu quả, hay thể chế mà họ gọi là “chủ nghĩa xã hội”- nơi mà người ta luôn rêu rao sự bình đẳng, rằng nơi đó những người dân thường tầng dưới của xã hội sẽ lãnh đạo xã hội, để khi bạn thực sự sống ở đó, bạn mới biết rằng công nhân, nông dân ở đây có cuộc sống chỉ hơn nông nô thời trung cổ mà thôi?!

Chủ nghĩa tự do với nguyên tắc tự do cá nhân và nền chính trị dân chủ pháp trị, có hai khuynh hướng chính: một là, chủ nghĩa tự do cổ điển (chủ nghĩa tự do kinh tế) ủng hộ chủ nghĩa tư bản laissez-faire, phản đối sự can thiệp của Nhà nước; hai là, chủ nghĩa tự do mới (chủ nghĩa tự do xã hội) ưu tiên một Nhà nước phúc lợi với sự can thiệp cần thiết của Nhà nước vào nền kinh tế, và trao cho Nhà nước vai trò đảm bảo sự bình đảng xã hội. Mỗi khuynh hướng đều có ưu và nhược điểm. Nhưng nhược điểm của chúng cũng chính là nhược điểm của thế giới loài người. Vì thế việc chấp nhận nhược điểm là cần thiết và là thái độ sáng suốt. Việc cân bằng giữa tự do cạnh tranh và bình đẳng xã hội luôn là một vấn đề khó khăn mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt. Và điều quan trọng là chúng ta có được một mô hình, một thể chế có những nguyên tắc cốt lõi có thể hạn chế những nhược điểm này- đó chỉ có thể là nền dân chủ mà chủ nghĩa tự do đã xây dựng.

Có một hạng người không bao giờ biết được ý nghĩa thực sự của tự do, đó là những người cả đời sống trong chế độ dân chủ tự do, hưởng mọi lợi ích từ nền chính trị dân chủ và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, và chưa bao giờ ném mùi chính trị độc tài, kinh tế tập trung. Thừa kế cái di sản hiển nhiên của tổ tiên khiến người ta quên mất giá trị của nó. Tôi đồng tình khi họ phản đối các nhà tài phiệt tham lam và giới chính trị hoạt động kém hiệu quả. Tôi ủng hộ khi họ đòi hỏi chính quyền ưu tiên xây dựng một Nhà nước phúc lợi, đảm bảo tương đối bình đẳng xã hội bằng trợ cấp và tăng thuế thu nhập. Nhưng họ sẽ biến thành kẻ đần độn nếu cổ vũ cho xu hướng cực tả, cho chủ nghĩa xã hội. Họ chẳng tưởng tượng nổi trong xã hội XHCN chẳng thể nào có cái cảnh mỗi người cầm trên tay một chiếc Iphone để liên lạc với nhau trong cuộc biểu tình; mà họ cũng chẳng có cơ hội để mở rộng cuộc biểu tình, vì người ta sẽ bắt hết bọn họ đưa lên xe bus từ khi cuộc biểu tình chỉ có vài chục, vài trăm người.

Tại sao khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, bất bình đẳng gia tăng, người ta không hướng tới một mô hình kiểu Bắc Âu, nơi mà ưu tiên về một Nhà nước phúc lợi được đặt lên trên mọi nhu cầu cạnh tranh tự do của kinh tế thị trường? Tại sao người ta cứ phải đặt vấn đề chủ nghĩa xã hội khi chúng ta muốn làm mới hệ thống chính trị và kinh tế? Nhiều người khi mưu cầu sự bình đẳng xã hội thường hướng đến chủ nghĩa xã hội trong khi cái chúng ta thực sự muốn là chủ nghĩa tự do xã hội. Vì chính chủ nghĩa tự do xã hội mới là hệ lý thuyết cung cấp cho chúng ta mô hình để xây dựng một nền dân chủ với nền kinh tế bị hạn chế bởi nhà nước, để đảm bảo phúc lợi cho tầng lớp dân nghèo. Còn khi chúng ta nói về chủ nghĩa xã hội, chúng ta không biết là mình đang ca ngợi nền độc tài chính trị và kinh tế tập trung- nơi mà cái dạ dày của bạn sẽ bị khống chế bởi cơ quan lãnh đạo cao nhất, và vì thế bạn sẽ chẳng thiết đòi quyền tự do chính trị nữa. Người ta có lẽ còn nhập nhằng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do xã hội! Nhiều người Mỹ còn nhập nhằng như thế. Nhưng tôi tin rằng đa số người Mỹ biết được giá trị của hệ thống chính trị dân chủ của họ. Họ phản kháng để “refresh” nó chứ chẳng phải để lật đổ nó. Vì nếu muốn từ bỏ hệ thống ấy thì cách tốt nhất là họ nên qua sống ở Việt Nam, Trung Quốc hay Bắc Triều Tiến càng hay.

Tôi muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do vì thiết nghĩ rằng nếu chúng ta không nhìn thấy vai trò của nó, bỏ quên nó vì những thứ lý thuyết độc hại khác, con người sẽ phải trả giá. Nhân loại đã từng trả giá vì sự hiểu biết hời hợt về chủ nghĩa cộng sản, vì sự phớt lờ tầm quan trọng của chủ nghĩa tự do. Điều này không thể lặp lại! Tôi biết điều này sẽ khó có thể lặp lại ở những nước có nền dân chủ tự do vững chắc như Hoa Kỳ. Nhưng theo một cách nào đó, nó bị lợi dụng triệt để ở những nước độc tài chống Mỹ và phương Tây như Việt Nam, Trung Quốc. Việc ví von phong trào “chiếm phố Wall” với “Mùa Xuân Ả Rập” mà tôi thấy ở khắp nơi trên báo chí “chính thống” của chế độ (Tạp chí cộng sản và Sài Gòn giải phóng là những ví dụ lố bịch điển hình) chỉ là một cách “lập lờ đánh lận con đen” bỉ ổi.

Ai trong chúng ta cũng biết rõ “Mùa xuân Ả Rập” là phong trào cách mạng thay đổi thể chế chính trị, lật đổ các chế độ độc tài đã tồn tài nhiều năm, còn phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” lại là một cuộc vận động xã hội (không phải cách mạng), tạo áp lực lên một chính quyền dân chủ, buộc họ phải thay đổi cách nhìn và phương thức điều hành xã hội. Sự tương đồng về ngoại biểu không khỏa lấp được những khác biệt về bản chất nội tại (động cơ, mục tiêu). “Mùa Xuân Ả Rập” là động thái giết chết một con bệnh ung thư, còn “Chiếm phố Wall” là cách người ta cảnh báo và chữa trị cho một người mắc bệnh thông thường. Cũng cần phải nhận thức rõ rằng trên thế giới này không có kẻ không có bệnh mà chỉ có những kẻ hết thuốc chữa. Thật vậy, con người trở nên cao quý không phải vì anh ta hoàn hảo mà vì anh ta biết đổi mới và đứng lên mạnh mẽ hơn từ những sai lầm. Và để tránh những ngụy biện không cần thiết cho điều này ở những trường hợp khác, tôi muốn nói thêm rằng: Có một sự khác biệt cơ bản giữa sự thối nát hệ thống và sự sai lầm cục bộ.

Tam Kỳ, ngày 27 tháng 10 năm 2011

© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: © Đàn Chim Việt

Trở Về Đầu Trang






Tâm tư nhân ngày lễ Tạ ơn

Huỳnh Thục Vy

Tôi không phải là người của chủ nghĩa tập thể. Tôi càng không phải là người cổ vũ cho chủ nghĩa cá nhân, mặc dù tôi cho rằng quyền Tự do cá nhân là phù hợp với luật tự nhiên và bất khả xâm phạm. Lâu nay dù đề cao vai trò và sự độc lập tương đối (xin lưu ý là tương đối) của mỗi cá nhân trong xã hội, nhưng bản thân tôi luôn hiểu rõ mối tương quan tối quan trọng của hai chủ thể: cá nhân và cộng đồng. Dù là người luôn hăng hái cổ vũ cho chủ nghĩa Tự do - một triết thuyết cực kỳ tiến bộ với tư tưởng trung tâm là tự do cá nhân, tôi không bao giờ dám bỏ qua tầm quan trọng và vai trò của cộng đồng khi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên mỗi cá nhân, cũng như để lại những hệ luỵ hiển thị. Dù là một Liberalist tôi không bao giờ khẳng định hoàn toàn sự tồn tại của mỗi cá nhân như một thực thể độc lập hoàn toàn.

Trước khi là một “sinh vật chính trị”, con người là “sinh vật xã hội”. Khẳng định trên thể hiện rõ nhãn quan trong đó cho thấy rằng: vai trò, phẩm giá, cuộc sống của mỗi cá nhân luôn được đặt trong một khung cảnh xã hội. Thật vậy, ngoài những bản năng và bản tính cá nhân, vị kỷ, con người có một bản năng cộng đồng hay chính xác hơn là bản năng quần cư. Cùng với sự xuất hiện của con người, nhu cầu quần cư cũng xuất hiện song hành. Con người có nhu cầu đặt cá nhân mình vào cuộc sống xã hội, vì điều này là điều kiện đảm bảo cho cá nhân được an toàn hơn, phát triển mạnh mẽ và toàn diện. Ấy là chưa nói đến những yêu cầu về phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội loài người.

Là một Phật tử, tôi cho rằng mình có thể cảm nhận phần nào, dù ít ỏi về thuyết Vô Ngã của Phật lý trên bình diện nhân sinh quan đơn giản; rằng trong vũ trụ này, không có một bản thể tồn tại độc lập với các bản thể khác. Chính sự cảm nhận rõ nguyên tắc tương tác giữa cá nhân và cộng đồng, tôi luôn có quan điểm đề cao cá nhân và chú trọng cộng đồng. Chính sự nhận thức mối tương quan cơ bản và rõ ràng ấy, tôi luôn cổ vũ cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trong cách thức phù hợp với công ích nói riêng và các giá trị phổ quát của nhân loại nói chung. Cũng chính trong sự nhận chân ấy, tôi ôm ấp một hoài bão có được cơ hội phát triển tự do mọi năng lực cá nhân, nhắm tới lợi ích của bản thân và lớn hơn, là lợi ích cộng đồng và quốc gia. Mọi nổ lực lên tiếng của tôi bất chấp những hiểm nguy có thể gặp phải đều là những hành động nhằm khẳng định Tự do cá nhân và bảo vệ lợi ích xã hội. Bất cứ những ai có đầy đủ lương tri và sự thức tỉnh đều không thể phủ nhận hai động cơ chính đáng này.

Trong những ngày này, dù lo lắng không biết sẽ có thêm những tình huống khó khăn nào mới sẽ xảy ra cho bản thân và gia đình tôi. Tôi vẫn có đủ lạc quan và sự tin tưởng, một phần bởi chính động cơ chính trực của mình, một phần vì sự quan tâm của nhiều đồng bào có tâm huyết với con đường dân chủ hoá đất nước và những thân hữu của gia đình.

Lại thêm một lần nữa, tôi càng có thể khẳng định với chính mình tác động quan trọng của cộng đồng đối với một cá nhân. Sức mạnh của một cá nhân là quá nhỏ bé trước những trở lực to lớn từ Nhà cầm quyền. Và chính sự quan tâm, vận động, hỗ trợ của cô chú bác, anh chị em theo nhiều cách, đặc biệt là về mặt công luận và ngoại giao, đã phát huy vai trò to lớn của nó: Giữ cho chúng tôi được an toàn phần nào trong hoàn cảnh khó khăn và cấp bách này. Người ta có thể bóp chết một tiếng nói nhỏ bé vừa cất lên, nhưng người ta không chặn được sức mạnh của cộng đồng và những tiếng nói đồng loạt cất lên trên khắp Thế giới để bảo vệ nhân quyền và công lý, đặc biệt là để bênh vực và bảo vệ gia đình tôi. Cái sức mạnh cộng đồng to lớn ấy bất chấp biên giới quốc gia và gông cùm có thể phát huy khắp mọi nơi, hướng về những người đang phải chịu khổ đau và khốn khó dưới quyền lực thế tục độc đoán. Nếu không có sự vận động nhiệt thành ấy, mọi tiếng nói từ trong nước sẽ bị dập tắt. Và cho đến hôm nay, tôi có thể tự tin minh xác một điều rằng những hành động chung và sự đoàn kết của chúng ta sẽ mở ra một sinh lộ cho dân tộc chúng ta.

Tôi yêu Tự do. Và nếu vì tình yêu ấy tôi bị buộc phải im lặng thì điều đó không phù hợp với nhân tính và càng không phù hợp với tính cách một cô gái trẻ như tôi. Con người duy ý chí nhưng sự duy ý chí đó phải ở một mức độ có thể chấp nhận được, nếu không nó sẽ bị những quy luật tự nhiên phá huỷ. Tôi tin rằng Tự do là nhân tính, là phù hợp với thiên nhiên và Tự do phóng khoáng cũng là tinh thần Phật giáo.

Người Việt chúng ta không có một ngày lễ Tạ ơn của riêng mình. Cũng đã gần đến ngày Lễ Tạ ơn theo truyền thống Cơ đốc phương Tây, cho tôi được nhân dịp Lễ này bày tỏ lòng tri ân quý đồng bào, thân hữu hải ngoại cũng như trong nước về những sự nâng đỡ và cổ vũ mà quý vị đã dành cho gia đình tôi.

Một nhân cách không thể tốt đẹp nếu thiếu vắng lòng tri ân. Vậy nên, tôi nghĩ rằng mình không thể lãnh nhận sự bảo vệ của Quý đồng bào mà không biểu tỏ lòng tri ân ấy một cách công khai. Xin tạ ơn Quý đồng bào. Và kính chúc Quý đồng bào nhiều sức khoẻ để tiếp tục công cuộc tranh đấu cho Tự do Dân chủ và bảo vệ Nhân quyền ở Việt Nam. Xin cầu nguyện sự bình an cho những chiến sĩ Dân chủ của chúng ta.

Huỳnh Thục Vy
Tam Kỳ ngày 16 tháng 11 năm 2011

Nguồn: Facebook Huỳnh Thục Vy

Trở Về Đầu Trang




Sự nguy hiểm của truyền thống

Huỳnh Thục Vy


Đã mười chín năm trôi qua, những hụt hẫng và thương tổn trong lòng tôi dần lắng xuống. Tôi không muốn nhớ lại những ngày ấy nhưng họ vẫn tiếp tục hành động như thể cố tình khiến những đau khổ mà họ đã gây ra cho gia đình tôi sẽ tiếp tục đi theo tôi mãi. Dù tất cả những bất hạnh của tuổi thơ, tôi đã lớn lên mạnh mẽ và những tổn thương không thể lấy đi trong tôi niềm yêu đời, yêu người và cả một hoài bão. Dù những ngày tháng đã qua đối với ba chị em tôi là quá nhiều vất vả và mất mát, chúng tôi –mỗi đứa đã lớn lên như những mầm non vượt qua những vùi dập để trở nên xanh tươi không kém bao cái cây khác.

Tôi từng nhủ thầm rằng mình phải sống với lòng nhân ái và tinh thần đạo đức. Tôi đã cố gắng không để quá khứ biến tôi thành một kẻ thiếu lòng vị tha và nhân bản. Cho đến hôm nay, tôi tin là mình làm được như thế. Thật vậy, trong tất cả những gì tôi viết, rất hiếm khi tôi kể cụ thể về hoàn cảnh gia đình mình; về những đàn áp, sách nhiều mà người ta đã làm đối với gia đình tôi, mà chỉ viết về những thối nát từ hệ thống của chế độ, để phần nào chứng minh rằng những gì tôi viết là thiện chí và rằng tôi là chính tôi ngày hôm nay-một người trẻ hăng hái cổ vũ cho tự do, không phải vì người ta đã bắt ba tôi, mang đến nhiều gian khổ cho gia đình tôi, mà bởi vì tôi mong muốn mình và con cháu mình được sống trong một Việt Nam đáng tự hào hơn. Tự bản thân mình, tôi hiểu rằng hoa Dân chủ tự do sẽ không thể nở không cánh đồng hận thù và hẹp hòi.

Có lẽ kể cả những người đã quan tâm, yêu thương tôi, lẫn những kẻ đang sách nhiễu tôi để bảo vệ cho ngai vàng chế độ họ, luôn nghĩ rằng một con bé con trở nên một cô gái trẻ luôn miệng nói những điều ”già” hơn tuổi mình vì tôi có một “truyền thống” gia đình. Không, tôi là người muốn học hỏi truyền thống nhưng không muốn những gì gọi là “truyền thống” đè nặng tâm hồn và trí tuệ mình. Bởi lẽ, một tâm hồn và trí tuệ lệ thuộc vào những giá trị của quá khứ lâu dần sẽ trở nên xơ cứng, thiếu sức sống và thiếu năng lực vận động. Tôi không muốn mình như vậy. Thật lòng những việc làm của ba tôi chính xác chỉ tạo cho tôi một cảm hứng để tìm hiểu về giá trị tự do và một cơ hội sống động để nhận thấy rõ nét những điều tệ hại trong thế chế này- thể chế của cái gọi là “xã hội chủ nghĩa”. Mà cái bóng ma của nó (XHCN) vẫn đang còn ám ảnh một vài quốc gia còn rơi rớt lại trên Hoàn cầu.

Tôi cho rằng truyền thống cũng có những cái nguy hiểm của nó, mà trong một bài đã viết xong, tôi có nói về sự nguy hiểm này. Nhưng bản thảo của bài viết đó đã bị tịch thu ngày 8 tháng 11 vừa qua trong đợt khám xét và tịch thu đồ đạc và “tài liệu” của an ninh tỉnh Quảng Nam. Tôi cảm nhận được cái truyền thống (bất kể bản chất tốt xấu, phạm vi, lĩnh vực) đang ám ảnh khá nhiều người Việt Nam chúng ta và gây ra những hệ quả không thể coi thường. Bởi vậy, tôi muốn bàn lại đề tài đó trong bài viết này.

Truyền thống là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm những giá trị tư tưởng, văn hóa và lối sống của những thời quá khứ được lưu giữ và truyền thừa qua nhiều thế hệ. Lâu nay chúng ta có xu hướng nhìn nhận truyền thống trong nhãn quan tích cực. Tôi không có ý định phân tích cặn kẽ mặt tốt của truyền thống vì điều này thường được nhận biết khá dễ dàng. Quả tình, cũng như tất cả các giá trị nhân sinh khác, truyền thống có mặt tiêu cực của nó. Việc học hỏi những tinh hoa truyền thống sẽ giúp mỗi con người chúng ta lĩnh hội những giá trị tốt đẹp của cha ông, làm giàu thêm cho cuộc sống và nhân sinh quan của mình. Nhưng sự bám víu vào truyền thống, như tôi đã nói khiến chúng ta bỏ lỡ những cơ hội để sáng tạo giá trị mới, hoặc có thể mắc sai lầm khó tháo gỡ.

Thực sự, truyền thống là thứ bám rễ sâu chắc trong tâm thức và lối sống mỗi con người chúng ta. Có khi nó trở thành những thứ gần như là giáo điều trong đời sống của một số người. Mà lối sống, lối tư duy giáo điều, lệ thuộc quá khứ không phải là mảnh đất tốt cho tự do, cũng như sáng tạo. Vì thế truyền thống trong nhiều trường hợp là cái rào cản lớn cho sự đột phá của tri thức và hành động. Đó chính là sự nguy hiểm của truyền thống mà tôi muốn nói đến. Mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy những minh chứng sống động và không kém hùng hồn cho nguy cơ ấy. Là một người ngưỡng mộ Tiến sĩ họ Cù và hay lý luận. Tuy thế, tôi không thể có lời nào để phủ nhận một cách hiệu quả khi một số người cho rằng ông mắc ‘hội chứng con cưng chế độ” và thần tượng Hồ Chí Minh. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy rằng mỗi người muốn dứt khỏi những ràng buộc của quá khứ, của truyền thống gia đình để đạt được tiến bộ thì phải đối mặt với những trở ngại (tuy vô hình) nhưng vô cùng to lớn, mà một tầm vóc trí tuệ cao cũng không đảm bảo chắc chắn khả năng thoát khỏi nó.

Trên đây là những gì tôi đã suy nghĩ và viết ra trong bản thảo đã mất. Tâm trạng tôi không tốt chút nào khi viết lên những điều đó. Nếu những người dân Việt Nam có “gốc gác cộng sản” cứ bám giữ truyền thống ấy thì công cuộc cuộc dân chủ hóa Việt Nam sẽ rất khó khăn. Thế nhưng những ngày vừa qua, tôi đã có một cái nhìn khác, mới mẻ và lạc quan hơn. Nhiều chú bác tự nhận là công chức hưu trí, là đảng viên cộng sản“hình thức” đã gọi điện, viết thư hỏi thăm tôi. Lâu nay, tôi tự hiểu rằng, những quan điểm thể hiện trong các bài viết của mình khá ”cực đoan” và bị nhiều người cho rằng không phù hợp với cách nhìn của người trong nước. Tôi buồn và hay nghĩ ngợi về điều đó, vì thực ra tôi viết là để cổ vũ người Việt trong nước chứ không phải dành cho người Việt trong các xứ sở tự do-những người có cơ hội trải nghiệm thực tế nền dân chủ tự do. Nhưng hôm nay, trong niềm hân hoan, tôi được biết nhiều cô chú bác, anh chị em trong nước đọc bài tôi và đồng cảm với tôi. Đối với tôi, điều đó có nghĩa là, đã có rất nhiều người “cộng sản gộc” dũng mãnh từ bỏ cái truyền thống của gia đình và bản thân đã bám rễ lâu ngày để hướng đến tư duy mới, vận hội mới của dân tộc. Đó là một tín hiệu tốt cho con đường dân chủ hóa Việt Nam. Tự do dân chủ chỉ có thể được xây dựng vững chắc từ thành phần cơ bản nhất của xã hội-đó là mỗi cá nhân. Vì thế, tư duy của mỗi người dân càng tiến bộ, công cuộc dân chủ càng sáng sủa.

Trở lại chuyện về gia đình tôi, báo chí “chính thống” của Nhà cầm quyền đã đưa tin rằng: ba tôi sau khi ra tù còn tiếp tục viết và “xúi giục” hai chị em tôi viết bài “chống phá Nhà nước”. Tôi nghĩ mình không có gì phải bàn về chuyện quý vị chính quyền cho là chúng tôi “chống phá Nhà nước”. Tôi chỉ muốn nói một chút về chuyện “xúi giục”. Tôi có thể khẳng định với quý vị rằng, không hề có sự “xúi giục” nào ở đây. Ba tôi hầu như chỉ viết những bài phân tích tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Trong khi những bài viết của tôi thiên về lý luận và thường đề cập đến những đề tài mang tính lý thuyết, tư tưởng để cổ vũ tự do trên bình diện tổng quan. Thiết nghĩ, chẳng có kẻ bị “xúi giục” nào hăng hái như tôi. Bởi những hành động của tôi xuất phát từ ý thức và sự vận động tự thân, không phụ thuộc vào cái gọi là “truyền thống” của gia đình.Tôi cho rằng chỉ những kẻ thiếu tri thức và sự tự tin mới dễ dàng bị người khác xúi giục. Trong khi tôi nhận thức khá sâu sắc về những việc mình nói và làm, và có khả năng tự chịu trách nhiệm. Những người bị truyền thống trói buộc sẽ mãi mãi chỉ quanh quẩn trong hào quang le lói của quá khứ mà không thể tạo lập cho mình một lập trường độc lập và một giá trị mới mẻ. Vì thế tôi chỉ là tôi, một người trẻ vì lòng khao khát tự do mà luôn tranh thủ mọi cơ hội để ngợi ca nó.

Mặt dù cuộc đột nhập, khám xét, tịch thu vừa qua làm tái hiện trong tâm trí tôi những hình ảnh đáng sợ về những hành động khủng bố của chính quyền khi bắt ba tôi mười chín năm trước (xin lỗi vì tôi không thể tìm được từ ngữ nào chính xác hơn để mô tả hành động của quý vị ngoài từ ”khủng bố”), nhưng quả thật trong lòng tôi chưa khi nào dấy lên sự hận thù quý vị. Quý vị là kẻ làm ác và việc tố cáo tội ác của quý vị không đồng nghĩa với sự hiện diện lòng thù hận trong tôi. Quý vị đã sai lầm từ hệ thống, từ cốt lõi, quý vị phải biết điều đó. Và tôi nghĩ tôi chỉ có thể cổ súy hiệu quả cho các giá trị mà tôi tôn vinh khi không bị bất cứ ai xúi giục và cũng không để tâm trí mình bị vẩn đục bởi cái quá khứ gia đình đã bị quý vị chà đạp. Tôi tin vào luật nhân quả, vì thế điều quan trọng nhất với tôi hôm nay duy chỉ là sự trao dồi đạo đức và tri thức chứ không nuôi dưỡng thù hận.

Tôi là người không hay mang hoàn cảnh gia đình mình để làm minh chứng cho tội lỗi của Nhà cầm quyền, bởi quý vị có những sai lầm to lớn hơn nhiều cần phải bị vạch trần. Nói lên cái sai lầm cốt lõi thuộc về bản chất của quý vị là điều làm tôi thỏa mãn hơn cả. Nhưng nếu Nhà cầm quyền liên tiếp phạm sai lầm, chà đạp nhân quyền và tự do của những con người đã lên tiếng vì lương tri và trách nhiệm với cộng đồng thì tất cả hành động ấy của quý vị tự thân chúng nói lên một cách sinh động bản chất của quý vị.

Tam Kỳ ngày 30 tháng 11 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy

Nguồn: © Đàn Chim Việt

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by linhtran on 12/04/2011 12:21 AM)

QueAnh posted on 10/27/2011 11:17 PM

----------------------------------------------

Bàn về Đạo đức thay lời chúc mừng Giáng sinh

Huỳnh Thục Vy

Trước nay tôi thích nói về luật pháp hơn đạo đức. Không phải do tôi xem thường tầm quan trọng của nó trong mối các quan hệ nhân sinh mà bởi tôi cho rằng một chuẩn mực chỉ có thể được giữ gìn khi đi kèm theo nó là những biện pháp thúc ước hữu hiệu. Chúng ta thấy rõ luật pháp có được điều kiện tích cực đó - cái mà đạo đức không có được hoặc có nhưng kém hiệu quả hơn.

Thế nhưng cuộc đấu tranh hiện nay của chúng ta là vì một thể chế dân chủ tự do- một chế độ chính trị mà đặc trưng của nó là đạo đức, trong khi sự sợ hãi là đặc trưng của chế độ độc tài, như Montesquieu đã nói. Tuy nhắc đến những giá trị dân chủ tự do, chúng ta không trực tiếp đưa ra những tuyên ngôn cho tinh thần đạo đức nhưng kỳ thực chúng ta đang cổ vũ cho một xã hội nơi đạo đức được trọng vọng. Thật lạ đời rằng trong một chế độ dân chủ tự do, nơi người ta không chính thức đưa đạo đức lên như một giá trị của thể chế, nơi người ta chỉ dành nhiều thời gian và công sức để đề cao và bảo vệ nền pháp trị thì đạo đức lại được phát huy. Bởi xét cho cùng những giá trị như công bằng, tự do, tự thân chúng lại là một vấn đề đạo đức. Không có kẻ vô đạo đức nào yêu chuộng công bằng, tự do. Bởi vậy, không ngoa chút nào khi ta nói xã hội dân chủ được đặc trưng bởi đạo đức.

Trong xã hội hiện đại, con người vướng mắc vào khá nhiều vấn đề khó tháo gỡ dù đã cố gắng không mệt mỏi theo đuổi việc hoàn thiện những định chế chính trị và xã hội hiện có của mình. Và khi các chuẩn mực luật pháp chẳng thể phát huy vai trò của mình trong nhiều lĩnh vực, chuẩn mực đạo đức sẽ làm tiếp phần việc ấy.

Trong các chế độ độc tài, như một điều rất tự nhiên, con người thường sống, suy nghĩ và hành động trong nỗi sợ hãi; tất cả mọi tình cảm, ý chí và nguyện vọng hầu như chỉ để xoa dịu, khỏa lấp và thậm chí là để tự phù hợp với nỗi sợ hãi từ tâm thức đó. Nơi đó, đạo đức chỉ là thứ yếu, là thứ để ca ngợi chứ không phải để thực hiện. Vì thế sự băng hoại đạo đức là hậu quả trực tiếp của nền độc tài; đến lượt mình sự suy đồi đó lại củng cố cho sự vững mạnh của nền chuyên chính. Sự xói mòn nền tảng đạo đức là vấn đề đáng lo nhất trong tất cả những vấn đề đáng lo ở Việt Nam ta ngày nay. Đồng ý là thiện ác luôn song hành trong bất cứ xã hội nào. Nhưng nếu một xã hội dung túng cái ác và không có những biện pháp tích cực để chế tài cái ác và bảo vệ cái thiện, thì ắt xã hội đó có vấn đề từ gốc rễ. Trong những xã hội được vận hành bằng sự sợ hãi, đạo đức trở nên điều thứ yếu, và khi đạo đức đóng vai phụ trong nền văn hóa, cái ác sẽ lên ngôi. Bởi vậy, dù với một lực lượng công an hùng hậu, chính quyền Việt Nam chỉ có thể trấn áp những người dân lương thiện mà không thể ngăn cản nổi tội phạm tung hoành khắp nơi, cũng bởi chính nó là hiện thân vĩ đại của cái ác. Tư tưởng Hồ Chí Minh, những giáo trình giáo dục công dân... không thể ngăn nổi những vụ giết người man rợ, hàng ngàn vụ phá thai mỗi năm, những vụ tài xế xe tải đâm xe cho tới khi nạn nhân chết mới thôi để khỏi tốn phí tổn y tế, cùng những vụ bê bối học đường...

Không nói những tưởng tất cả chúng ta đều nhận thức rõ đạo đức là nguồn mạch của nhân văn, là thứ thể hiện bản chất một xã hội. Nếu đạo đức là nhân tố chính hình thành nên cốt cách một con người thì cũng chính đạo đức tạo nên thần thái của một dân tộc. Theo tôi, một con người đáng tôn kính không phải vì tiền bạc và danh vọng mà chính vì đức hạnh của họ. Không khó hiểu khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được ca ngợi là vị Thánh sống, một biểu tượng cho tình yêu và đạo hạnh dù Ngài chỉ là một Quốc vương vong quốc. Cũng như thế, một dân tộc mạnh không phải vì nó có vũ khí hạt nhân. Sức mạnh tinh thần và tiềm lực nội tại của nó phần chính đến từ đạo đức. Xây dựng kinh tế, thủ đắc vũ khí hạt nhân đã khó khăn, bảo vệ nền văn hóa, xây dựng một xã hội văn mình còn khó hơn gấp nhiều lần. Thật khó tưởng tượng một dân tộc có thể hội nhập nhân loại văn minh với nền đạo đức suy hoại của mình. Bạn sẽ coi quốc gia nào mạnh hơn, đáng kính phục hơn: Đan Mạch hay Bắc Triều Tiên? Nơi mà một người viết truyện cổ tích nhân văn được suy tôn là người Anh hùng dân tộc hay một quốc gia bất hảo thủ đắc vũ khí hạt nhân, được lãnh đạo bởi một tên độc tài bệnh hoạn? Thật vậy, giá trị tinh thần và nền văn minh của một dân tộc bắt nguồn từ những giá trị đạo đức.

Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ hiện nay, đạo đức phải được đề cao hơn nữa. Bởi trong những yếu tố cần thiết đóng vai trò động lực cho cuộc đấu tranh, nâng cao tinh thần người dân hướng về dân chủ tự do và đoàn kết người Việt khắp nơi , đạo đức đóng vài trò lớn. Bởi thứ nhất, không một người Việt nào có thể được gọi là người tốt mà cảm thấy an lòng, cảm thấy không phẫn nộ khi sống trong xã hội Việt Nam hôm nay; không một người có đầy đủ tư cách đạo đức nào ủng hộ những kẻ chà đạp con người. Không cần trí tuệ cao xa, bất cứ ai có lòng nhân ái, lòng yêu nước đều không sớm thì muộn sẽ nhận rằng rằng chế độ độc tài là vật chướng ngại cho an sinh và sự phồn thịnh của chúng ta. Chính đạo đức chứ không gì khác sẽ góp phần chính vạch ra chiến tuyến giữa một bên là những người yêu nước, yêu chuộng tự do dân chủ và bên kia là chế độ độc tài. Thứ nữa, đối với những người đang đấu tranh trong và ngoài nước, tinh thần đạo đức sẽ là chất keo kết dính họ với nhau dưới ngọn cờ dân chủ tự do bất chấp những khác biệt về quan điểm. Vì khi tinh thần dân chủ kết hợp với đạo đức, mọi toan tính chính trị, mọi đố kỵ ghen ghét, mọi mưu đồ trục lợi cá nhân sẽ nhường chỗ cho tình tự dân tộc, cho sự yêu chuộng công lý và tự do. Tôi thiết nghĩa rằng, không thể dễ dàng để có một chính thể tốt đẹp khi lãnh đạo nó là những kẻ vô đạo đức, mưu mô trục lợi. Vì thế, đạo đức là vũ khí của chúng ta chống độc tài và cũng chính nó mở ra khả năng xây dựng thành công nền dân chủ tự do sau này.

Lâu nay với công việc dạy học ở nhà, tôi đã không ít lần nghĩ ngợi và thấy buồn khi từng lớp học sinh đi qua mỗi năm, tôi nhận thấy lòng nhân ái và tinh thần trách nhiệm của những em lớp mới chẳng bằng lớp cũ- một sự tụt hậu về đạo đức. Trong những câu chuyện của các em, các em nói về những việc đau lòng như thể nó là việc bình thường, với một thái độ rất thờ ơ. Các em đối xử với một người bạn nghèo như kẻ ngoài lề. Các em không giữ được sự lễ phép thường có của trẻ em thời tôi còn bé. Thật lòng, trong góc nhà bé nhỏ của mình, tôi lo lắng cho con đường đi lên của dân tộc.

Nhưng những sự việc đã xảy ra với gia đình tôi hai tháng vừa qua cho tôi cơ hội có một cái nhìn khác. Hôm nay xin kể ra đây một vài câu chuyện mà chúng ngày càng trở nên thưa thớt trong xã hội này. Có một bác buôn bán ở chợ cóc, dành dụm những đồng tiền vất vả, lăn lộn cả ngày ngoài chợ để gởi cho tôi dù bác chỉ biết tôi qua mấy bài viết được in chui ra giấy. Những đồng tiền cũ, nhàu nát, nhưng được gấp phẳng phiu như mảnh đời khó nhọc của bác, như tấm lòng yêu thương chất phác mà bác dành cho tôi. Lại có một bạn gọi điện thoại cho bạn trai tôi phân trần vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn không thể giúp nhiều cho tôi và hỏi xem có thể tặng tôi ba chục ngàn bằng cách nạp tiền vào tài khoản di động của tôi được không? Một cụ già sống tận Houston, Mỹ quốc dành tặng tôi 30 đô la. Rồi một tăng sĩ ở Sài Gòn đã tám mươi tuổi, dành tặng tôi hơn một triệu. Rồi những em sinh viên, những nhà giáo nghèo, những cô chú bác tôi chưa từng gặp mặt khác.... Và còn nhiều tấm lòng Người Việt khác ưu ái dành cho gia đình tôi trên khắp thế giới.

Mọi người thấy không? Đó chính là Đạo đức- Đạo đức dũng mãnh vạch ra lập trường đối lập với Nhà cầm quyền bằng hành động ủng hộ Dân chủ, Đạo đức lên án kẻ ác vì chứng kiến sự chà đạp nhân phẩm của họ, Đạo đức yêu thương chia sẻ vì nhìn thấy khổ đau của đồng loại. Tổ quốc sẽ vì có những con người này mà có thể vượt qua mọi kiềm tỏa để vươn lên. Đó là tình yêu thương mà những kẻ thấp cổ bé miệng dành cho nhau lúc hoạn nạn. Đó là hành động minh chứng dân tộc đứng về phía của lẽ phải và đỡ đầu cho Công lý. Đó chính là sức mạnh của chúng ta, là tia lửa hy vọng đang nhen nhóm một ngày nào đó sẽ thắp bừng lên ngọn đuốc canh tân. Đó là những lá phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý ủng hộ xây dựng thể chế Dân chủ tự do. Tôi tin vào chiến thắng cuối cùng của chúng ta khi chúng ta là những kẻ biết thương yêu nhau, những kẻ có chính nghĩa! Chế độ độc tài! Các người sẽ thua không chỉ vì hoàn cảnh thế giới bất lợi cho các người, mà còn bởi đạo đức đang ở phía chúng tôi, những người dân có lương tri và trí tuệ của đất nước này ủng hộ chúng tôi.

Trong những ngày mùa đông lạnh lẽo này, những ngày chờ đợi lệnh cưỡng chế từ Nhà Cầm quyền, gia đình tôi đã có được sự ấm áp trong tình yêu thương và ơn nghĩa của đồng bào. Tôi mừng vui nhưng không kém phần lo lắng vì nghĩ mình chưa làm được gì xứng đáng với tình yêu thương đó. Mùa Giáng sinh đã đến gần. Giáng sinh là mùa của yêu thương, là dịp để gởi đi thông điệp của tình yêu không kể tôn giáo, văn hóa; bởi vì cũng như đạo đức, tình yêu mang tính phổ quát. Xin nhân dịp này, kính chúc quý đồng bào trong nước cũng như hải ngoại một mùa Giáng sinh ấm áp và an lành. Xin cầu nguyện cho một Việt Nam sớm có dân chủ tự do, cho dân tộc Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

Tôi biết rằng khi nói đến đạo đức là nói đến thứ khó nắm bắt và thúc ước. Thế nhưng không phải vì thế mà chúng ta không nhận thức được vai trò to lớn của nó. Nếu chúng ta có thể tốn giấy mực để lý luận về dân chủ, pháp trị, thì không lý nào không thể có những nỗ lực cần thiết để đề cao Đạo đức trong tình hình xã hội Việt Nam ngày nay. Vì thế xin mượn bài biết này như một thông điệp của tinh thần Đạo đức và Tình yêu trong mùa Giáng sinh. Đạo đức và Tình yêu sẽ xóa nhòa bao cuộc chia rẽ, ly tán và tổn thương của dân tộc, sẽ giúp những người yêu nòi giống Việt đoàn kết bên nhau trong cuộc đấu tranh cam go này.

Huỳnh Thục Vy

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Trở Về Đầu Trang






Tính chính danh của Hiến Pháp

Huỳnh Thục Vy

Các thể chế chính trị trên thế giới có thể được hình thành bằng những cách thức khác nhau và mang những tính chất khác nhau. Đó có thể là một chính thể hình thành từ nhu cầu tự thân của một cộng đồng đòi hỏi phải có một tổ chức mang quyền lực chính trị để quản lý xã hội (như sự thành lập các Nhà nước dân chủ quân sự đầu tiên thời cổ đại), từ sự kế thừa các thiết chế chính trị trước đó (như sự hình thành nhà nước quân chủ lập hiến hiện nay ở Vương quốc Anh), từ một cuộc bầu cử hay cũng có thể là từ một cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, một cuộc cách mạng lật đổ chế độ cũ, một cuộc đảo chính nội bộ... Thực tế cho thấy, con đường hình thành một chế độ quy định một số đặc tính của nó, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể thay đổi được tương lai và bản chất của chế độ đó.

Tính chính danh

Một chế độ chính trị bước ra từ một cuộc cách mạng lật đổ nếu có đầy đủ các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội sẽ trở nên chính đáng. Ngược lại, một chế độ lên nắm quyền bằng một cuộc bầu cử, bằng những hành động của mình, có thể đánh mất đi tính chính đáng đã có này. Người dân là chủ thể có thẩm quyền duy nhất để trao cho hay tước bỏ tính chính danh, chính đáng của một chính quyền.

Dù có xuất phát từ nhu cầu hay tình trạng nào, khi một thực thể chính trị mang vào mình cái vai trò của một Nhà nước thì bản thân nó phải có khả năng tự vận động để thực hiện những chức năng bắt buộc, nhằm có được lý do chính đáng cho sự tồn tại của mình. Nếu thiếu đi những lý do này, Nhà nước sẽ chỉ tồn tại trong sự bất chính. Những lý do đó là: sự đồng thuận trao quyền của người dân, sự hoàn thành tốt các chức năng quản lý và phát triển xã hội của Nhà nước đó, và cuối cùng là sự đảm bảo trách nhiệm bảo vệ chủ quyền Quốc gia và thiết lập sự hiện hữu hài hoà của cộng đồng mà nó quản lý với cả cộng đồng nhân loại. Dù được thành lập theo cách nào, một chính quyền chính danh phải có được những điều kiện trên, hoặc tiến hành càng sớm càng tốt những thay đổi để có được những điều kiện đó.

Các chế độ độc tài được kiến lập từ sự trao quyền của người dân thông qua một cuộc bầu cử mang tính mị dân (như trường hợp cuộc bầu cử năm 1998 đưa Hugo Chavez của Venezuela lên cầm quyền) thường không có được những nhận thức sâu sắc về sự kiện trao quyền quan trọng này. Thậm chí những kẻ độc tài mới trỗi dậy nhờ một cuộc bầu cử mị dân như thế sẽ cảm thấy đắc ý với những chiêu thức lừa bịp dân chúng ngoạn mục của mình chứ không phải cảm thấy vinh hạnh vì được lên cầm quyền nhờ sự trao quyền nghiêm túc bằng cả ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân như trong chế độ dân chủ tự do thực sự. Vì thế, đối với những kẻ độc tài này, nhân dân và quyền lực xuất phát từ nhân dân chỉ là một trò cười, là một thứ để hắn ta lợi dụng.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, các chế độ độc tài được hình thành từ những vụ "cướp chính quyền" như kiểu cách mà những người Cộng sản Việt Nam đã làm để lên nắm quyền, càng không nhìn nhận vai trò của sự trao quyền này bởi cái tâm thức rằng: chính quyền là do họ cướp được chứ không phải do người dân giao phó cho. Có thể đối với những kẻ độc tài dạng này, sự trao quyền trọng đại trong các chế độ dân chủ chỉ mang lại cho họ một cảm quan hài hước, thậm chí là đáng khinh bỉ. Ở đây, quyền lực chính trị chỉ như một hòn ngọc mà họ đã cướp được sau cuộc hạ sát kẻ sở hữu trước đây của nó.

Nói chung, đối với các chế độ độc tài, người dân chẳng có vài trò gì trong các cuộc tranh đoạt quyền lực dù dưới hình thức một cuộc bầu cử dân chủ mị dân hay bằng phương cách sắt máu. Vì thế khi đã nắm được quyền lực trong tay, những kẻ chuyên quyền sẽ sử dụng quyền lực và các nguồn lực Quốc gia như thứ tài sản riêng, bất chấp lợi ích của đại đa số người dân và vận mệnh của cả dân tộc. Chúng ta đang ở Việt Nam và có đủ cơ hội để trải nghiệm điều này.

Ấy thế nhưng, bất cứ thực thể nào trong thế giới tồn tại được và có thể tồn tại lâu dài cũng chỉ vì nó có lý do để đảm bảo cho sự hiện hữu của mình. Thiếu đi tính chính đáng và sự chính danh thì sự tồn tại này chỉ là một chuỗi những nỗ lực bám víu khó khăn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi tất cả các chế độc độc đoán đều sợ bị lật đổ. Nỗi sợ hãi này xuất phát từ bản chất bất chính của nó. Ngai vàng đặt trên sự lừa bịp, các vấn nạn xã hội, sự không cân xứng và hài hoà của các thiết chế xã hội, sự nghèo khổ và mất tự do của người dân... trở thành một thứ quyền lực đáng thèm khát nhưng đầy bất hạnh của những kẻ khát quyền lực và của cải bất chính.

Trong tình trạng đầy bất trắc đó, rất khó có thể chối bỏ những giá trị dân chủ tự do, nhưng thay vì phải thực tâm thực hiện những nỗ lực thay đổi để sự cầm quyền của mình có được tính chính đáng, những kẻ chuyên quyền tìm cách tạo nên phiên bản giả mạo của các định chế dân chủ như chế độ bầu cử (nhưng là Đảng cử dân bầu) và Hiến pháp như ở Việt Nam ta. Nhưng cái gì cũng có những nguyên tắc chủ đạo dẫn dắt và thể hiện bản chất của nó. Những trò dối gạt gây hoa mắt không thể biến Gà thành Công.

Khế Ước Quyền Lực

Như mọi người đều biết, một bản Hiến pháp chính trị đúng nghĩa theo cách hiểu của chúng ta ngày nay là một khế ước (hợp đồng) trao quyền với hai bên tham gia, một là người cầm quyền, hai là người dân. Bởi bản Hiến pháp hiện đại đầu tiên xuất hiện trong Thời đại Khai sáng, sau nỗ lực giành tự do kiên cường và kiến lập nền Cộng hoà pháp trị cho một dân tộc non trẻ. Nên khi nói đến Hiến pháp hiện đại, chúng ta mặc nhiên nghĩ về những đặc tính dân chủ pháp trị của nó. Vì thế, có thể nói, một bản Hiến pháp không có những quy định về các nguyên tắc chính trị căn bản nhằm phân chia, cân bằng và kiểm soát quyền lực chính trị; tạo lập cấu trúc cho một chính quyền tôn trọng tự do của người dân và nền pháp trị thì chỉ có thể được gọi là một văn bản mang tên Hiến pháp (nếu người lập ra nó muốn gọi như thế) chứ không phải là một khế ước trao quyền thực sự.

Chính tính chất của Hiến Pháp như là văn kiện giao phó quyền lực chính trị từ người dân cho Nhà nước- tổ chức quyền lực thay họ điều hành đất nước và đảm bảo an toàn, tự do cho họ-đã làm nảy sinh những tiêu chuẩn bắt buộc trong thủ tục thành hình một bản Hiến pháp hiện đại đúng nghĩa. Vậy thế nào là một khế ước trao quyền?

Đã nói đến khế ước, tức là chúng ta thừa nhận sự có mặt của các bên tham gia trong tư thế tự do, tự nguyện và bình đẳng. Người dân muốn tham gia vào khế ước này trước tiên phải bầu ra những người đại diện cho mình trong một Nghị hội Quốc gia, để rồi những người này với kiến thức về luật pháp cũng như trình độ chuyên môn sẽ thay mặt người dân lập ra một khế ước. Cả hai bên tham gia ký kết khế ước này đều có những quyền và bổn phận riêng biệt theo nguyên tắc quyền của một bên là bổn phận của bên kia và ngược lại. Xem xét quá trình hình thành bản khế ước Hiến pháp này, ta nhận thấy rằng, để đảm bảo cho sự tham gia bình đẳng của phía người dân thì sự đại diện của các nhân vật dân cử vô cùng quan trọng. Sự đại diện càng nghiêm túc, tức là Quốc hội thực sự là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân, thì bản khế ước càng đảm bảo quyền lợi cho phía người dân. Làm sao để có sự đại diện nghiêm túc trong Quốc hội? Câu trả lời chính là phải có một cuộc bầu cử tự do, minh bạch, công bằng, đa đảng, có sự giám sát của tư pháp, xã hội dân sự và khu vực truyền thông tự do.

Điều kiện thứ hai cần được nói đến là sự cần thiết bắt buộc của một cuộc trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp. Đây là một thủ tục pháp lý đặc biệt và mang tính cưỡng hành để một bản Hiến pháp dân chủ được thông qua và trở thành văn kiện pháp lý cao nhất của Quốc gia. Một khế ước có hai bên tham gia, hai bên phải đặt bút ký kết. Và thủ tục phúc quyết chính là cơ hội để người dân đưa ra quyết định cuối cùng trong việc giao ước, được coi như là chữ ký của phía người dân quyết định đồng ý với giao ước đã được lập ra đó.

Theo cách đó, với kiểu cách "Đảng cử dân bầu" hiện nay tại Việt Nam, Quốc hội không phải là thực thể đại diện cho ý chí người dân mà chỉ là một cơ quan khác của Đảng cầm quyền. Họ không phải là người đại diện hợp pháp cho phía người dân thì họ không có đủ tư cách pháp lý để lập ra Hiến pháp giao ước. Nếu họ tự cho mình cái quyền lập ra giao ước, thì nó cũng không phải là một giao ước đúng nghĩa. Một khế ước mà từ đầu chí cuối chỉ do một bên soạn thảo, phê chuẩn nội bộ rồi ban hành, còn người dân hoàn toàn không biết gì về nội dung của nó cho đến khi nó trở thành "sự đã rồi", cả cái quyền đặt bút ký kết (bằng phúc quyết) cũng bị tước mất, thì bản giao ước này thực chất đã bị giả mạo chữ ký, hay đúng hơn quá trình này là cả một cuộc tiếm quyền ngoạn mục.

Nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không tổ chức một cuộc bầu cử đa đảng, minh bạch, tự do thực sự để bầu ra cơ quan lập hiến, lập pháp đủ thẩm quyền pháp lý, và tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nhằm phúc quyết Hiến pháp đó thì thực chất họ không có được sự giao phó quyền lực từ nhân dân để có đủ tư cách cầm quyền, cũng như lập ra Hiến pháp, luật pháp.

Quả vậy, những đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp của một số trí thức Việt Nam hiện nay vô hình trung mang lại tính chính danh nguy hiểm cho sự cai trị độc đoán của chế độ; cũng như cung cấp cho cái gọi là "Hiến pháp" của họ một thẩm quyền giả tạo, để họ có thể tiếp tục cai trị chuyên quyền và đàn áp đối lập. Tâm huyết và tri thức ấy, oái ăm thay, lại đang giúp cho chế độ độc tài xoa dịu những nan đề thuộc về bản chất của chế độ trong bối cảnh sự tồn tại bất chính của nó đang bị đông đảo các tầng lớp dân chúng chú mục theo dõi trong sự bất bình, qua những thất bại trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước hay trong chính sách đối phó với sự xâm phạm chủ quyền quốc gia của Trung Cộng. Thiết nghĩ, vấn đề chính danh của Nhà nước và Hiến pháp nên được chú trọng trước khi chúng ta có những hành động xa hơn nhằm đóng góp cho sự thay đổi tích cực của nước nhà.

Sài Gòn ngày 9 tháng 3 năm 2012
Huỳnh Thục Vy

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by linhtran on 03/22/2012 3:55 PM)

linhtran posted on 12/22/2011 12:00 AM

----------------------------------------------

Nghĩa hay lợi?

Huỳnh Thục Vy

"Phàm người ta làm mọi việc ở đời cũng chỉ vì nghĩa hay vì lợi... Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào cũng không bỏ qua. Kẻ tiểu nhân thì chỉ nghĩ đến điều lợi, hễ thấy lợi thì dù ác thế nào cũng thực hiện".

Đó là một câu ghi trên đài tưởng niệm liệt sĩ chống Pháp tại Phước Ninh, Đà Nẵng. Đọc câu nói mang nặng màu sắc Nho giáo này trong một bài viết, tôi đã suy nghĩ rất mông lung về những giá trị cổ xưa mà ông cha ta đã suy tôn trong hành trình “tự Hán hóa” của mình. Đối với nhiều người, có lẽ câu nói rất ấn tượng, mang tầm vóc một phương châm sống đầy giá trị và đậm chất luân lý. Nhưng theo tôi, không thể nhận thức đơn sơ về “nghĩa” hay “lợi” như thế.

1. Quân tử và nền đức trị

“Quân tử” trong cách hiểu cơ bản nhất của người Trung Hoa xưa, là người cai trị. Do đó, từ này nguyên khởi được dùng để chỉ những người thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội quân chủ Trung Hoa và một số quốc gia du nhập Hán học khác. Với quan điểm đức trị mà Khổng giáo ra sức truyền bá hay thậm chí là áp đặt, những người cai trị là những kẻ tài đức vẹn toàn, là những ông vua anh minh mang tầm vóc thánh nhân, là những ông quan phụ mẫu chi dân. Theo cách dùng ấy, chúng ta hiểu rằng, quân tử là những người tài đức xuất chúng và có khả năng thống soái thiên hạ. Sau này, “quân tử” còn được dùng để chỉ những người có trí tuệ, đức độ, chính trực và hay làm việc nghĩa.

Quả tình, tôi không thích Nho giáo, không thích cả những khái niệm của nó. Các giá trị Khổng Nho xa lạ và không gây ấn tượng tốt với tôi. Bởi trong nền văn hóa ấy, người ta luôn miệng nói về đạo đức nhưng không có bất cứ một định chế khả dĩ nào để bảo vệ những giá trị luân lý ấy. Cũng chính trong nền văn hóa ấy, nơi mà kẻ cai trị được mặc định là những người vừa có tài thao lược, vừa có đức hạnh, chúng ta chỉ thấy đầy dẫy những kẻ bất chấp thủ đoạn để thoán đoạt thiên hạ hoặc ích kỷ hại nhân. Nào là Lưu Bang giết Hàn Tín sau khi đã thâu tóm thiên hạ về một mối, Lý Thế Dân giết anh em để lên ngôi hoàng đế...

Thật vậy, đạo đức xã hội không bao giờ được giữ gìn bằng cách hô hào, mà chỉ bằng thể chế chính trị, bằng luật pháp và phần còn lại được giao phó cho những định chế xã hội khác như: tôn giáo, giáo dục... Ngày hôm nay chúng ta biết rằng, động cơ hành động của con người là tự lợi. Bởi nhận chân ra điều ấy, nhân loại mới tạo lập thể chế dân chủ pháp trị. Kẻ lãnh đạo không thể trở nên tài đức chỉ vì mang cái danh quân tử. Ngược lại, ngay từ đầu họ phải được giả định là kẻ xấu, có khả năng lạm quyền, tư lợi, và phải được kiềm chế bởi một cơ chế chính trị nghiêm khắc. Ở đó, họ bị đặt vào tình huống: nếu họ vi phạm những cam kết với người dân, hậu quả mà họ lãnh nhận sẽ lớn hơn nhiều so với mối lợi mà họ có được khi vi phạm. Nhân loại ngày hôm nay không tin tưởng vào những phẩm giá tốt đẹp được gán (một cách hão huyền) cho kẻ cầm quyền theo kiểu đức trị. Với thể chế chính trị tự do, người dân dõng dạc tuyên bố với kẻ cai trị rằng: “Các ông cứ tỏ ra tốt đẹp bề ngoài, còn chúng tôi không biết thâm tâm các ông mưu tính chuyện gì. Nhưng nếu các ông làm bậy, các ông sẽ nhận hậu quả nhãn tiền”.

2. Nghĩa hay lợi

Trở lại với câu nói đã được đề cập ở đầu bài viết, nó hoàn toàn đặt trên bình diện đức trị của Nho giáo, phản thực tế và phản khoa học. Theo đó, người ta chia con người thành hai loại: một, hành động vì nghĩa; hai, hành động vì lợi. Phân loại con người thô thiển như thế sẽ dẫn tới những ngộ nhận tai hại. Trong mỗi một con người, có cả bản năng vị kỷ và bản năng cộng đồng. Động cơ, hoài bão và hành động của con người là tổng thể những mối tương tác của các bản năng này chứ không thể phân biệt nhị nguyên như trên.

Như đã nói ở trên, trong thực tế, nhân loại có xu hướng hành động vì lợi ích. Bản thân việc hành động vì lợi không phải là việc xấu xa về luân lý. Việc xem lợi ích là một giá trị tiêu cực về đạo đức là đi ngược lại quy luật tự nhiên, và thậm chí là cản trở sự tiến bộ. Đối với nền văn hóa Khổng Nho, chỉ có những kẻ thấp kém về tư cách và tài năng mới hành động vì lợi, còn thánh nhân thì hành động vì nghĩa. Nhưng mặc cho những giáo điều mà họ rêu rao, con người là con người. Mặc cho những truyền giảng đạo đức to lớn của họ, những kẻ đứng đầu thiên hạ, những quân vương được lưu danh sử sách, luôn là những người hành động vì lợi. Ai nói những quân vương độc tài như Tào Tháo, Lưu Bị, Chu Nguyên Chương... hành động vì nghĩa? Thật trớ trêu, trong một nền văn hóa luôn xiển dương đạo đức, chính ở đó, đạo đức bị chà đạp thô bạo nhất, và hơn nữa bị lợi dụng để mang lại lợi ích cho kẻ cầm quyền độc tài.

Người ta quên mất rằng, điều quan trọng là cần phải xác định: “nghĩa” là nghĩa như thế nào, nghĩa đối với ai; còn “lợi” là lợi gì, lợi ích cho ai; chứ không phải chỉ nói “nghĩa” và “lợi” chung chung. Và việc đồng hóa “nghĩa” với “thiện”, “lợi” với “ác” như câu nói trên thật không thỏa đáng. Rất nhiều khi, cái “nghĩa” dành cho thiếu số sẽ là họa cho đa số còn lại (ví như: việc vì ơn mưa móc chúng ta từng có được từ đảng cộng sản làm cho chúng ta không thể lên tiếng chí trích đảng hoặc chỉ trích không tới nơi chỉ có thể là “nghĩa” với đảng thiểu số chứ chẳng thể là nghĩa đối với đa số còn lại); và cũng như thế, “lợi”(dù là tư lợi) cũng không bao giờ là đồng nghĩa với “ác” nếu cái lợi ấy đạt được bằng những phương tiện hợp pháp, hợp luân lý.

Ấy vậy mà, chữ “nghĩa” lòe loẹt ấy trong suốt thời quân chủ ở Trung Hoa và Việt Nam đã là cái gông đeo cổ cho toàn xã hội, đã là giá trị “sáng lòe” để nô lệ hóa cá nhân, để phục vụ cho những cá nhân cai trị mang danh tập thể. Đến thời kỳ Cộng Sản, chữ “nghĩa” lại bị lợi dụng để kéo hàng triệu thanh niên ngây thơ vào “cuộc chiến chống đế quốc” mà thực ra là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Thế mới biết “nghĩa” không đứng trơ trọi một mình để bắt người ta phải hành động, phải hy sinh; cái “nghĩa” đó phải đi cùng với lợi ích to lớn và lâu dài của cộng đồng thì mới có giá trị, xứng đáng là “nghĩa” thật. “Nghĩa” mà không mang lại lợi ích thiết thực cho cá nhân hay cộng đồng thì việc chạy theo nó là điều vô ích. Cái “nghĩa” mà không đi kèm với sự suy xét chín chắn có khi lại gây họa cho bản thân và nghiêm trọng hơn là cho cộng đồng.

Xét đến chữ “lợi”, mỗi cá nhân là phần tử của xã hội, lợi ích dành cho mỗi cá nhân là góp phần vào lợi ích chung của xã hội. Bởi vậy, sự mưu cầu lợi ích cá nhân, mà không xâm hại đến lợi ích của các cá nhân khác và của xã hội là điều tốt đẹp và cần được phát triển. Còn đối với những trường hợp mang lại lợi ích cho xã hội, thì “lợi” này mới chính là “nghĩa” thật. Cái “lợi” ấy, bây giờ không chỉ mang ý nghĩa luân lý tích cực, mà còn là sự thể hiện của trí tuệ.

3. Sự cáo chung cần thiết của nền đức trị

Việc cổ xúy đức trị thừa kế từ nền văn hóa Khổng Nho đã mở đường cho sự thâm nhập dễ dàng của nền “đức trị Cộng sản”. Văn hóa “đức trị” ấy đã “trao tặng” cho Việt Nam một Hồ Chí Minh thủ đoạn hơn người nhưng được tôn vinh thành “vị cha già dân tộc đại trí đại tâm”. Nền đức trị không bao giờ ngăn nổi người ta trở thành những kẻ độc tài tàn bạo; mà ngược lại còn “thánh hóa” kẻ độc tài ấy, và đưa đến khả năng chính danh hóa sự cai trị chuyên chế qua nạn sùng bái cá nhân bệnh hoạn.

Trong cuộc đấu tranh hôm nay, chúng ta đấu tranh vì “nghĩa” sao? Điều đó không sai, nhưng chưa đủ, chúng ta đấu tranh vì “lợi” nữa chứ. Nền dân chủ tự do sẽ mang lại cho toàn thể quốc gia này cũng như mỗi một cá nhân trong xã hội những lợi ích to lớn. Chúng ta đấu tranh cho dân chủ không phải vì nó tốt chung chung theo kiểu mị dân, mà vì nó mang lại lợi ích thực tế đã được kiểm chứng trên thế giới cho cá nhân và xã hội, mang lại sự thăng tiến tất cả các mặt của đời sống chính trị xã hội. Chính cái lợi ích to lớn ấy đã mang lại cho cuộc đấu tranh cái danh diện chính nghĩa chứ không phải là những giáo điều xơ cứng, màu mè. Nói cách khác, cái danh “chính nghĩa” là “bộ áo” bên ngoài, còn lợi ích thật bên trong (hướng về thiểu số hay đa số) mới quyết định bản chất của “nghĩa”. Cộng sản đã khoác bộ áo “chính nghĩa” để tàn phá đất nước này đó thôi. Bởi thế khi đánh giá sự việc, ta không đánh giá qua “bộ áo chính nghĩa” ấy mà xét tận gốc rễ cái lợi ích mà nó mang lại sẽ thuộc về ai. Chúng ta mang lại lợi ích cho ai, điều đó sẽ cho thấy chúng ta là bậc đai phu hay kẻ tiểu nhân, chứ không phải chỉ nhìn nhận phân biệt đơn sơ giữa “nghĩa” và “lợi”.

Ngày hôm nay, chúng ta không hướng đến một xã hội có những cá nhân tỏa hào quang của thánh nhân mà là một xã hội với những định chế vững vàng và có khả năng kiềm tỏa quyền lực chính trị, bảo vệ tự do cá nhân. Sự hô hào đạo đức, nhân văn chẳng thể mang lại nhân văn, đạo đức thật; chỉ khi nào người ta bị buộc phải hành động như thế nếu không họ sẽ bị loại bỏ, trừng phạt thì lúc đó xã hội mới tiến bộ được. Vì vậy, xin hãy để tâm thức Khổng Nho cùng những giá trị mà nó xiển dương lùi vào quá khứ, nhường đường cho những giá trị mới.

Tam Kỳ, tháng 10 năm 2012

Nguồn:


(Message edited by linhtran on 10/19/2012 11:49 AM)

guest posted on 07/04/2012 8:04 PM

----------------------------------------------

LÃNH ĐẠO Ở ĐÂU?

Huỳnh Thục Vy

Tôi luôn nghĩ: phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay đang thiếu một nhà lãnh đạo.

Nhưng có ý kiến lại cho rằng: 'Một người lãnh đạo sẽ không sớm thì muộn lại đưa Việt Nam vào chế độ độc tài'. Một số khác thì quả quyết: phong trào dân chủ cần sự ủng hộ của quần chúng, chứ không cần một người lãnh đạo.

Các cuộc tập hợp ở Việt Nam cần người dẫn dắt?

Sau những diễn biến dân chủ hóa ở Miến Điện, chính một trong số những người đã từng bác bỏ quan điểm của tôi, lại ca ngợi bà Aung San Suu Kyi như một 'lãnh tụ có tâm, có tầm'.

Mâu thuẫn

Làm sao chúng ta có thể, một mặt, phủ nhận tầm quan trọng của một người lãnh đạo phong trào dân sự đòi dân chủ ở Việt Nam , mặt khác, hồ hởi tung hô vai trò của một 'người hùng' ở nước khác? Sự phủ nhận đầy mâu thuẫn ấy, chỉ là cách để chúng ta biện minh cho những khó khăn, yếu kém khó vượt qua của mình, cũng là cách thể hiện sự thiếu hiểu biết trong so sánh tình hình nước ta với nước khác.

Sự lo sợ về một chế độ độc tài hậu cộng sản không phải là lý do chính đáng (chưa nói đến sự khác biệt rất lớn giữa lãnh đạo và lãnh tụ). Khi chúng ta ca ngợi không tiếc lời bà Suu Kyi, chúng ta có nghĩ bà sẽ trở nên độc tài? Thiết nghĩ, độc tài hay không, không phải do sự hiện diện của người lãnh đạo mà thành. Nó là kết quả của nhiều nguyên nhân: sự yếu kém về ý thức tự do và khát vọng dân chủ của người dân, sự yếu kém của xã hội dân sự, tính chất của trào lưu chính trị trong khu vực và việc có hay không sự can thiệp của một quốc gia độc tài lớn hơn…

Khi chúng ta đề cao vai trò của lãnh đạo đối lập Miến Điện như là một người sáng suốt, 'giữ được cân bằng để vừa đấu tranh kiên trì, vừa đối thoại để tạo lối thoát cho chính quyền độc tài', chúng ta đã cố tình bỏ qua vai trò trọng tài của người Mỹ. Có thể người Mỹ không giúp được gì trong việc xây dựng dân chủ (công việc cần nhiều nội lực), nhưng không thể bác bỏ vai trò trọng tài của họ trong cuộc chuyển hóa này. Vai trò ấy đặc biệt quan trọng để đảm bảo hai bên độc tài-dân chủ có đủ cơ sở để tin nhau, để đi đến đối thoại.

Nếu không có người Mỹ, không ai dám đảm bảo bà Suu Kyi sẽ không bị thua thiệt khi tiến hành đối thoại. Hãy đặt trường hợp Việt Nam , bạn muốn đối thoại với người cộng sản, sớm muộn bạn sẽ nhận ra bạn bị họ dắt mũi. Hay bạn có thể tưởng tượng, kết quả ở Miến Điện sẽ thế nào nếu trọng tài không phải là Hoa Kỳ mà là Trung Quốc?

Việt Nam đang thiếu một lãnh đạo đối lập có uy tín tầm cỡ quốc tế như bà Aung San Suu KyiPhong trào đấu tranh có lãnh đạo không những giúp gắn kết các cá nhân, các nhóm hoạt động tạo thành một tập hợp đủ mạnh, đối trọng với chính quyền độc tài; cổ vũ thành phần tiến bộ trong chế độ độc tài sớm phản tỉnh để gia nhập trào lưu tiến bộ; mà còn giữ cho chính trường hậu độc tài không bị thao túng bởi các thế lực chính trị cơ hội. Việt Nam chưa có được may mắn đó nên khó có thể chuyển hóa không đổ vỡ. Nhưng vì sao chúng ta chưa có được điều tốt đẹp mà người Miến Điện đã có?

Đi tìm nguyên nhân

Độc tài cộng Sản là một dạng độc tài tinh vi và có hệ thống hơn hẳn dạng gia đình trị và quân phiệt. Họ có một mô hình cai trị sắt máu nhưng mị dân đã được kiểm chứng 'tính hiệu quả' trên một diện rộng quốc tế và trong một thời gian dài. Với hệ thống mật vụ đặc trưng của mọi chế độ cộng sản, chính quyền Việt Nam có thể kiểm soát tất cả hoạt động và quan hệ trong xã hội. Sự len lỏi và khống chế toàn bộ xã hội của hệ thống an ninh làm biến dạng mọi mối quan hệ thông thường. Sợ hãi và thiếu niềm tin lẫn nhau làm cho các cá nhân tồn tại rời rạc, thiếu hẳn những gắn kết cộng đồng, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến chính trị.

Người ta không thể làm việc với nhau, chia sẻ những giá trị và ý nguyện trong các vấn đề chung một cách hiểu quả nếu không phân biệt được người đang làm việc với mình là một người bạn tâm đắc hay là một 'ăng ten'. Và sẽ là thiếu sót nếu không nói đến mô hình cai trị 'đỉnh cao trí tuệ' của chính quyền cộng sản trong cách họ đưa tất cả các hội đoàn dân sự vào hệ thống chính trị để chúng trở nên công cụ đắc lực theo dõi và kiểm soát xã hội. Không một tổ chức nào có thể phát khởi lên trong một môi trường bị đầu độc hoàn toàn như thế. Mà dù có xuất hiện thì cũng khó tồn tại trong một thời gian đủ dài vì các âm mưu gián điệp sẽ phá vỡ mọi kế hoạch và chương trình hoạt động của tổ chức đó.

Không có sự kết hợp vững chắc và sự phát triển lâu dài của một tổ chức hay nhiều tổ chức hợp lại với nhau thì nhu cầu hiện diện một nhà lãnh đạo chung cho cả phong trào sẽ không được đặt ra.

Tôi tự hỏi Đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ của bà Suu Kyi làm sao để quy tụ được hàng ngàn người trước khi các nhà hoạt động ấy bị bắt? Bà đã đọc diễn văn trước hàng ngàn người ủng hộ trước khi cuộc đàn áp đẫm máu diễn ra. Điều này làm tôi liên tưởng đến cảnh một nhà đấu tranh uy tín ở Việt Nam không thể bước ra khỏi nhà để tham gia một cuộc xuống đường yêu nước. Chế độ độc tài Miến Điện vẫn còn thua xa cộng sản Việt Nam về sự đàn áp tinh vi. Cộng sản Việt Nam không bao giờ để cho một cuộc tập hợp đông đảo xung quanh một nhân vật có uy tín như vậy xảy ra, vì thế họ không có nhu cầu phải giải tán đám đông bằng súng đạn. Cách làm này vừa hiệu quả, vừa ít gây phẫn nộ trong nước cũng như quốc tế.

Sự đàn áp của chính quyền cộng sản khiến người dân sợ hãi và cam chịu?

Có thể có thêm một vài nguyên nhân khác.

Thứ nhất, lịch sử chia cắt và những tổn thương sâu sắc sau 'cuộc chiến ý thức hệ' đã chia rẽ toàn khối người Việt thành hai nhóm lớn: một bên coi cộng sản là tội ác chống nhân loại (điều này có bằng chứng); một bên cho rằng, dù có sai lầm hiện tại, nhưng cộng sản Việt Nam vẫn có chính nghĩa khi nắm quyền cai trị sau những cuộc 'đấu tranh giành độc lập'. Đơn giản, họ có những “tâm tình” khác nhau đối với sự thật về người cộng sản. Hai thái độ khác biệt đó khiến chúng ta khó tìm được sự đồng thuận để đứng cùng nhau trong một tập hợp có phạm vi cả nước, để rồi có nhu cầu đưa lên một người lãnh đạo.

Thứ hai, ý chí và nguyện vọng tự do của người dân Việt nam còn rất yếu. Người lãnh đạo nào có thể quy tụ được những con người thờ ơ với vận mệnh của chính mình? Người lãnh đạo nào, dù can đảm và xuất sắc đến đâu, có thể có được sự quan tâm và ngưỡng phục chấn động thế giới nếu ông (bà) ta là một cá nhân hoàn toàn đơn độc?

Quần chúng sợ hãi

Chúng ta than thở rằng Việt Nam không có một lãnh đạo đủ uy tín, tài đức và dũng cảm như Daw Suu. Nhưng có khi nào chúng ta tự hỏi: bà đã xuất hiện như một vận may của Miến Điện để quyết định cơ hội dân chủ hóa, hay chính những người dân Miến Điện dũng cảm, khao khát tự do dân chủ đã quy tụ xung quanh bà, tạo nên điều kiện thuận lợi và uy tín cho bà?

Về sự dũng cảm, Việt Nam không thiếu những con người dũng cảm đã dấn thân và hy sinh 10, 20, thậm chí 30 năm trong tù. Tôi không muốn dùng những lời ca ngợi sáo rỗng cho bất cứ cá nhân nào, nhưng sẽ thiếu sót nếu chúng ta quên những người đã đấu tranh từ những ngày đầu sau năm 1975. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế là một trong những người như thế, ông vẫn bám trụ ở Việt Nam , vẫn đồng hành với những người đấu tranh trong nước mấy mươi năm nay.

Điều kiện ở Việt Nam hiện chưa phù hợp để có một lãnh tụ đối lập?

Bà Suu Kyi có bằng cấp khoa bảng, có dũng khí, yêu nước và ôn hòa; bác sĩ Quế không thiếu những tố chất này. Vậy sao bà có sự ủng hộ của quần chúng và uy tín lớn trên thế giới - điều mà bác sĩ Quế chưa có được?Xin hỏi: làm sao một người lãnh đạo có thể tranh thủ được sự ủng hộ của một khối người sợ hãi và cam chịu? Làm sao một nhà đấu tranh có thể quy tụ được quần chúng khi không thể nào tiếp cận được với họ? Làm sao nhà đấu tranh ấy trở nên một lãnh đạo dân sự gây được tiếng vang nếu không có một tổ chức lớn mạnh, đấu tranh kiên trì đứng sau lưng ông (bà) ta?

Đặt ra câu hỏi như thế, chúng ta mới thấy rằng chính bản thân bà Suu Kyi không thể tự tạo ra một mãnh lực kỳ diệu để thu hút quần chúng nếu người dân không chủ động bước ra khỏi sợ hãi để đến với bà; và chính bà cũng sẽ không gây được sự chú ý quốc tế nếu đảng NLD không hề tồn tại hoặc tồn tại trên danh nghĩa (vì bị chính quyền Miến Điện dập tắt từ trứng nước).

Còn nếu chúng ta nói về xuất thân, bà Suu Kyi tất nhiên có lợi thế có một không hai. Nhưng lợi thế ấy e rằng sẽ chẳng phát huy tác dụng ở một đất nước đầy sợ hãi như Việt Nam . Chưa nói đến chuyện: với sự chia rẽ ý thức hệ từ quá khứ đến nay, một người anh hùng dân tộc thực sự rất nhiều khả năng bị một số lớn người phủ nhận, do cách đánh giá khác nhau về lịch sử. Bằng chứng là những người cộng sản từng coi Phan Chu Trinh là 'nhà cải cách cải lương'. Một người như cha bà Suu Kyi mà ở Việt Nam biết đâu sẽ bị gọi là Việt gian?

Vả lại, khi coi trọng xuất thân, chúng ta đang gián tiếp thừa nhận mình cần một nhà lãnh đạo xuất thân trâm anh? Chúng ta muốn con cái một người lãnh đạo, một anh hùng dân tộc lại tiếp tục lãnh đạo? Tâm lý đó không thích hợp với những người thực sự khao khát tự do, thực sự muốn quyền làm chủ quốc gia thuộc về người dân.

Một cuộc thay đổi ôn hòa với sự hiện diện của nhà lãnh đạo đối lập, sớm muộn sẽ đưa những nhà độc tài có tội ra trước vành móng ngựa. Nhưng lãnh đạo đối lập có khả năng và uy tín lớn để hướng sức mạnh quần chúng vào dựng xây nền dân chủ, kiềm giữ sự phẫn nộ của họ để không phí sức lực vào những trả thù cá nhân.

Bằng không, những cựu lãnh đạo độc tài sẽ trở thành mục tiêu của sự báo thù, vì những bất công và tội ác đã đưa oán hận lên đến cực điểm. Tất nhiên, họ xứng đáng phải trả giá, nhưng vì sự bền vững của nền dân chủ, vì sự tập trung sức lực để xây dựng nền dân chủ non yếu, vì sự đảm bảo không xảy ra tình trạng vô chính phủ và sự tác oai tác quái của các thế lực chính trị cơ hội, chúng ta cần mọi thứ được giải quyết công khai, công bằng và bằng pháp luật.

Nhưng điều đó là mong ước khá mơ hồ ở Việt Nam. Sự thiếu vắng một người lãnh đạo hiện nay không chỉ gây khó khăn cho sự phát triển phong trào mà còn là một lực cản lớn cho nỗ lực chuyển hóa dân chủ không đổ vỡ.

Những người cộng sản đã tính rất kỹ để dập tắt phong trào đối lập bằng mọi cách mọi giá, không cho nổi lên bất cứ một lãnh đạo nào có khả năng đe dọa vai trò lãnh đạo của họ. Nhưng khi 'hữu sự', già quá hóa non. Họ sẽ phải trá giá vì những toan tính của họ!

Huỳnh Thục Vy

Nguồn: http://www.baomai.blogspot.com/2013/01/lanh-ao-o-au.html

Trở Về Đầu Trang


(Message edited by linhtran on 01/24/2013 8:16 PM)

guest posted on 07/07/2012 5:02 AM

----------------------------------------------
Mặc kệ em lải nhải nhiều như thế nào, 
(Message edited by linhtran on 01/24/2013 8:20 PM)

guest posted on 07/07/2012 5:03 AM

----------------------------------------------
Mặc kệ em lải nhải nhiều như thế nào, 
(Message edited by linhtran on 01/24/2013 8:16 PM)

guest posted on 07/07/2012 5:04 AM

----------------------------------------------
Copyright © 2000-2013 Aimoo Free Forum All rights reserved.