Tên Tài Khoảng  Mật Khẩu

SmileSmileSmile
Hop cho: 
 
 linhtran's Recent Posts
linhtran
http://forum4.aimoo.com/aitubinhdien
Rank: Diamond Member  
Status:
Score: 1850
Posts: 1850
From: USA
Joined: 04/04/2009


Posted on 05/23/2013 10:27 PM

TẢN MẠN THÁNG 5 “ĐỎ LỬA”

TÔ VĂN TRƯỜNG

Là con người ai mà chẳng có lúc buồn vui theo nhịp đập của cuộc sống. May sao, điều mà tôi cảm nhận được dù xã hội còn nhiều nhiễu nhương, người dân vẫn còn vật lộn trong muôn vàn khó khăn trở ngại cả vật chất lẫn tinh thần nhưng nguồn trí tuệ đang dâng lên, dòng nhân ái đang chảy mạnh, mảnh đất hình chữ S thân thương vẫn đang sục sôi rung chuyển thúc giục nhân tâm, kiên nhẫn từng giờ từng phút 'vắt óc' tạo ra năng lượng tích cực trong nhân gian. Đó cũng là nguồn lực sâu xa đang âm vang cộng hưởng vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho đất nước, cho dân tộc.

Nhiều đồng nghiệp, kể cả nhà báo hỏi về bình luận các sự kiện nóng hổi trong tháng 5 này. Hà Nội, Thủ đô của Việt Nam có những chuỗi ngày nóng khủng khiếp. Kế tiếp theo là miền Trung với những ngày “đỏ lửa”. Cả Việt Nam trên bản đồ dự báo thời tiết với màu đỏ sẫm của khí nóng hầm hập. Chưa bao giờ có sự cố đồng loạt cả 22 tỉnh thành phía Nam đột ngột bị mất điện trên diện rộng vào buổi chiều ngày 23/5 vừa qua chỉ vì sự tắc trắc bởi một chiếc xe cần cẩu ở Bình Dương lại càng làm cho không khí thêm ngột ngạt do cả thiên tai lẫn nhân tai!

Người bạn (AITAA) đang sống ở Hà Nội tâm sự thường vào buổi chiều lại xuất hiện những cơn giông cuồn cuộn, gió thổi tới tấp, mây đen cuồn cuộn đổ về, trời đất, cây cối, bụi đường bị mờ mịt bởi các trận gió thổi thốc cả cát bụi và rác tung lên trời. Biến đổi khi hậu hay biến đổi thời thế? Có buổi chiều thứ bảy, Hà Nội có cơn mưa giăng kín đen kịt bầu trời vào lúc mặt trời lặn, mây cuồn cuộn bay trên bầu trời chuyển hướng từ phía đông bắc tiến về hướng nam, gió cuộn cuộn thổi vào đảo hướng nhiều lần nhưng sau đó lại không mưa!?.

Biến đổi khí hậu hay biến đổi thời thế? Hội nghị TW Đảng lần thứ 7 khóa XI kết thúc với những kết quả bầu chọn không phải như kế hoạch đề xuất của Bộ Chính trị. Cuối tháng 5 lại tiếp tục họp Quốc hội theo kế hoạch và chuẩn bị phê duyệt nhiều dự luật mới. Các tháng sau sẽ là mùa mưa bão trong năm. Đất nước ta có biến đổi gì không? Mong rằng những biến đổi ấy sẽ thuận chiều phát triển và nhân dân ngoài việc chịu khổ vì biến đổi khí hậu sẽ không phải đớn đau vì những biến đổi khác để cuộc sống dễ chịu hơn.

Lướt đọc trên mạng thấy đăng tải những điều ngay cả Harvard cũng không dạy thấy ngồ ngộ!
Trong vụ cướp nhà băng được cho là ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một tên cướp hét lên: "Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng mày!". Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống. Điều này được gọi là: "Cách thức khai tâm - Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn". Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: "Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!". Điều này được gọi là "Hành xử chuyên nghiệp - Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!". Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp hết phổ thông): "Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu?". Tên cướp già gằn giọng: "Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!". Điều này được gọi là: "Kinh nghiệm - Ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở". Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài: "Đợi đã, hay để 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất!". Điều này được gọi là: "Bơi theo dòng nước - Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi". Người giám đốc tự nhủ: "Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!". Điều này được gọi là: "Hãy loại bỏ những điều khó chịu - Hạnh phúc là điều quan trọng nhất". Ngày hôm sau, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi, đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng rất giận dữ: "Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, bọn chó lãnh đạo chỉ ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!". Điều này giải thích tại sao: "Kiến thức thì giá trị như vàng"’

Mẩu chuyện nói trên phiếm mà không phiếm vì có thể rút ra kết luận trong cuộc sống luôn có những điều chúng ta có thể nhanh chóng nhìn ra, có những điều không như chúng ta thấy từ bên ngoài, và chân lý chỉ mang tính tương đối. Quan trọng nhất là thái độ đối với cuộc sống này, hay cách nhìn chúng ta lựa chọn để mang lại vui vẻ, hạnh phúc cho bản thân, cho những người thân xung quanh mình.

Sự kiện Nick Vujicic, chàng trai người Úc đến Việt Nam, anh không tay, không chân, với những việc đã làm được, xứng đáng được ngưỡng mộ và tôn vinh. Cũng có tiếng thở dài vì ở Việt Nam cũng có những gương mặt tiêu biểu như Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng, Vận động viên khuyết tật Phạm Thị Thu, “Cô bé xương thuỷ tinh” Phương Anh vv... đã làm được những điều mà ngay cả người thường cũng khó có thể làm được nhưng “bụt chùa nhà không thiêng”! Đúng là rất nhiều người Việt của chúng ta rất đáng được tôn vinh và cần được tôn vinh.

Nhìn vào sự kiện Nick Vujicic đến VN có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, đó là điều dễ hiểu, đều cần được tôn trọng vì nó phụ thuộc hoàn cảnh, nhận thức, góc nhìn của mỗi người. Tuy nhiên, cũng phải công nhận việc mang một hiện tượng của thế giới vào VN thành công là điều đáng ghi nhận. Người ta hy vọng việc làm này đóng góp vào thay đổi "thái độ sống" của giới trẻ VN cũng như xã hội chúng ta. Có ý kiến cho rằng điều khác biệt quan trọng của những người khuyết tật Việt Nam và Nick là Nick có tài hùng biện, tài viết sách và nói chuyện rất dí dỏm mà không hề quan ngại về những khuyết tật của bản thân. Anh ấy nói "everybody is beautiful" và rất tự hào về mình. Nét mặt của Nick ngời sáng khi anh ấy nói chuyện trước công chúng, có vẻ như anh ấy thấy mình sinh ra với hình hài như vậy thì cũng có nhiều cái hay, hầu như Thượng đế muốn tạo ra thế để có sự đa dạng. Nick được gia đình truyền cho nhiệt huyết sống, qua chương trình của Nick, người ta thấy được sinh ra trên đời này đã là hạnh phúc, vì vậy hãy làm cho mỗi ngày mình sống vui hơn và có ý nghĩa hơn. Đó là quan niệm sống rất tích cực.

Bây giờ sang chuyện khác. Nhìn rộng hơn về toàn cục, có ý kiến cho rằng tình hình ở Việt Nam hiện nay nhóm lợi ích đã chi phối nền kinh tế và hệ thống luật pháp. Sắp tới có thể cả hệ thống chính trị và văn hóa, xã hội. Tất cả các sự thay đổi về Hiến pháp, và pháp luật phụ thuộc vào nhóm lợi ích (quan chức nhà nước + khối siêu giàu). Ngay cả các đại biểu Quốc hội, vốn là các quan chức ở các địa phương, cũng không thoát khỏi sự ràng buộc mới này. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam quá thiên vị khuyến khích phát triển khối nhà nước, tập trung đầu tư và chi tiêu nguồn lực (vốn, chất xám và lao động) vào khối này. Thực tiễn cho thấy hoạt động thiếu hiệu quả của khối nhà nước đã gây ra sự phí phạm quá mức các nguồn lực, vốn rất khan hiếm và vô cùng cần thiết cho một nước đang phát triển như VN.

Thực tế cho thấy, ngay tại các nước tư bản, các trùm tư bản (vốn có mục tiêu lớn nhất là làm giàu túi tiền của mình) cũng phải cân bằng giữa lợi ích bản thân và lợi ích của xã hội, vì họ biết rằng dù họ là giai cấp bóc lột, nhưng họ vẫn phải sống trong mối tương hỗ với giai cấp bị bóc lột (định nghĩa theo Marx). Họ cũng biết rõ lợi ích của họ gắn chặt với lợi ích của đại đa số dân cư. Các nước phát triển như Anh, Pháp Mỹ hay Úc đều có sự chuyển biến nhận thức như vậy. Chính tại các nước này, đa số các tài sản của các tỷ phú đều đặt tại nước phát triển, nơi có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh bảo vệ họ, và tài sản của họ sẽ tăng lên nếu các nền kinh tế này phát triển bền vững, nhân lực kỹ thuật cao, sức mua thị trường dồi dào. Trung Quốc cũng đang học theo bằng phát triển chính bản thân thị trường nội địa. Nền kinh tế TQ phát triển nhanh chóng và lành mạnh sẽ làm khối tài sản của giới giàu tăng nhanh chóng và bền vững, hơn rất nhiều nếu họ mang tiền đi đầu tư tại các quốc gia phát triển khác vốn khác biệt về văn hóa, đã bão hòa về tăng trưởng và rất đắt khi mạo hiểm đầu tư.

Nhân sự kiện Quốc hội đang họp, có ý kiến hỏi nhận xét về phát biểu của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về dự án bauxite, tôi không bình luận vì mới viết bài 8 trang “Lời cuối cho bauxite Tây Nguyên”. Nếu TKV hiểu thấu đáo phương pháp luận, cách tiếp cận bài toán kinh tế, nhất là cách xử lý lạm phát thì đã tư vấn cho Phó Thủ tướng có tư duy và giải pháp khác. Điều đơn giản trước mắt, họ phải tính toán một cách định lượng, sòng phẳng 2 phương án giữa tạm thời “đắp chiếu” so với cứ tiếp tục triển khai thì thiệt hại cụ thể ra sao. Trong giới chức sắc có thông tin ông Tạ Quyết Thắng Tổng giám đốc Công ty TNHH Sơn Trường viết công văn, gửi tài liệu đi khắp nơi phản đối dự án cảng Lạch Huyện nhưng mặt khác lại xin làm thầu phụ khi dự án được triển khai!?. Mới nghe tưởng thật nhưng tìm hiểu kỹ thì ra đây là thông tin nhiễu, “đòn chơi” của người trong cuộc đối với doanh nghiệp tư nhân dám chúi mũi vào việc làm ăn của người khác!

Được biết Bộ Giao thông Vận tải có công văn số 1417/BGTVT-KHĐT ngày 22/02/2013 báo cáo về dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (Lạch Huyện) - Giai đoạn khởi động gửi Chủ tịch nước, và công văn số 900/BGTVT-KHĐT gửi các đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan có liên quan giải thích các kiến nghị của Công ty Sơn Trường có nêu: "...Trong khi tiếp tục phản bác phương án xây dựng 02 bến khởi động của dự án phía trong bờ do Bộ GTVT phê duyệt và gửi kiến nghị tới Quốc hội, Chính phủ, các Đoàn đại biểu Quốc hội, ngày 13/11/2012 Công ty TNHH Sơn Trường có văn bản số 13-11/CV-ST gửi Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đề nghị cho Công ty tham gia góp vốn 25% trong Hợp phần B của dự án theo đúng phương án đã được Bộ GTVT phê duyệt tại quyết định số 476/QĐ-BGTVT ngày 15/3/2011 với tổng kinh phí không cao hơn 2.500 tỷ đồng...", về việc này cần phải làm rõ như sau:

Những ý kiến của Sơn Trường trong suốt thời gian dài chỉ tập trung phản bác QĐ 476/QĐ-BGTVT về Hợp phần A của dự án Lạch Huyện (19.200 tỷ đồng vốn ODA do nhà nước đầu tư). Công ty TNHH Sơn Trường kiến nghị về qui mô và địa điểm đặt 2 bến khởi động theo phương hướng tránh nạo vét và lợi dụng lợi thế địa lý, thuỷ văn của Lạch Huyện cũng như xác định vai trò của cảng Lạch Huyện nếu không là cảng trung chuyển thì chỉ cần cho tàu 30.000 DWT vào thì có hiệu quả nhất. Nếu là tàu 30.000 DWT thì không phải nạo vét nhiều và không cần đê chắn sóng, chắn cát, mức kinh phí sẽ giảm từ 19.200 tỷ đồng xuống 2 nghìn tỷ đồng (Hợp phần A). Công ty TNHH Sơn Trường kiến nghị Nhà nước không nên bỏ vốn đầu tư mà khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư để nhanh chóng có một hệ thống cảng hiện đại.

Còn Hợp phần B, tại quyết định số 476/QĐ-BGTVT với dự toán là 6.572 tỷ đồng (chưa tính giá có thể bị trượt từ 10 - 30%) tại văn bản số 13-11/CV-ST Công ty Sơn Trường cam kết chỉ cần 2.500 tỷ đồng là đã hoàn tất 750 m cầu cảng theo đúng quy mô thiết kế của Bộ GTVT trong vòng 30 tháng nếu có phát sinh Công ty TNHH Sơn Trường xin bỏ vốn chịu trách nhiệm.

Trong khi Nhà nước đang rất khó khăn về mặt tài chính mà đề xuất của Công ty TNHH Sơn Trường làm giảm chi phí từ 6.572 tỷ đồng xuống còn 2.500 tỷ đồng, vậy tại sao Bộ GTVT không đối thoại với Công ty TNHH Sơn Trường về vấn đề này mà lại đưa ra những ý kiến không đúng bản chất của sự việc, gây tổn hại đến danh dự và tâm huyết của Công ty TNHH Sơn Trường?. Cũng cần phải nói thêm rằng, trong suốt thời gian dài, hàng chục văn bản tâm huyết Công ty TNHH Sơn Trường gửi tới Bộ GTVT, các cơ quan chức năng, Chính phủ và Quốc hội, Bộ GTVT gần như im lặng và bấu víu vào một lý do duy nhất không thể có được là "Hồ sơ chưa được lập bởi cơ quan tư vấn chuyên ngành, chưa tuân thủ thủ tục, quy trình, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng" vì Công ty TNHH Sơn Trường làm sao có thể thoả mãn được các yêu cầu đó.

Ngoài ra, trong công văn 1417/BGTVT-KHĐT báo cáo Chủ tịch nước có nói tới 02 công văn số 878/BGTVT-KHĐT của Bộ GTVT gửi Tổng hội Xây dựng Việt Nam và số 879/BGTVT-KHĐT của Bộ GTVT gửi Công ty TNHH Sơn Trường, nhưng thực tế cả Công ty TNHH Sơn Trường và Tổng hội Xây dựng Việt Nam đều không hề nhận được?

Bộ GTVT còn viện lý do dự án được khởi động vì đã được Hội đồng thẩm định đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Nhà nước thông qua. Là thành viên trong Hội đồng nói trên, trong các bài viết trước đây, tôi đã chỉ rõ các bất cập chưa hề được chủ đầu tư và Tư vấn giải đáp nhưng dưới sức ép của lãnh đạo để có bằng được phê duyệt ĐTM trong thời gian kỷ lục!

Đang ngồi bên máy tính, nhận được tin nhắn của người bạn, xin mượn lời thay cho kết luận của bài viết tản mạn này : Não “vô tội” trong các quyết định ngu xuẩn của con người!

TVT

Nguon: http://bongbvt.blogspot.com/2013/05/tan-man-thang-5-o-lua.html



Posted on 05/23/2013 11:55 AM






Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim


Bảo Giang












Sau khi đọc bài “ Tôi không chống cộng” của trí thức ( lời tự nhận của tg) Nguyễn hưng Quốc, đăng trên mạng danchimviet.info. Tôi buộc tôi phải viết lên đôi điều, những điều mà chính cuộc đời của tôi, một người dân thường, cũng như những ngưòi Việt Nam lương thiện yêu nước đã luôn ấp ủ ở trong lòng và thể hiện trong cuộc sống của họ. Như thế, tôi không chỉ viết cho riêng tôi, cho gia đình tôi hay cho bằng hữu của tôi. Nhưng nếu được, tôi xin được nói lên một tiếng nói ngay thẳng, thay cho đồng bào Việt Nam, thay cho những ai không có hoàn cảnh, không có cơ hội để bày tỏ, nói lên cái tâm nguyện của đời mình là: Tôi muốn loại trừ chủ thuyết và chế độc CS ra khỏi đất nước Việt Nam. BG.




Trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam, chữ “chống” là một động từ, luôn cần phải có một trợ từ đi kèm để làm cho rõ nghĩa của chữ chống. Thí dụ như:


- Chống đỡ: Chống cho cái cột đứng thẳng lên, cho cái cây nghiêng khỏi bị đổ ập xuống…


- Chống bão: Phương cách làm giảm thiểu thiệt hại do cơn bão gây ra.


- Chống Tàu: Là không cho chúng tràn sang, áp đặt, khống chế dân ta, hoặc duổi xâm lăng ra khỏi nước.


- Chống cộng: Là những hoạt động nhằm loại trừ CS ra khỏi đời sống của xã hội. Là chôn nó đi.


Như thế, chống cộng là một ý niệm tự nhiên của tư tưởng, biến thành một thái độ tích cực, được thể hiện rộng rãi bằng những ngôn từ, chữ viết hay hành động của những người lương thiện yêu nước, nhằm một mục đích duy nhất là loại trừ, khai tử lý thuyết cũng như chế độ này ra khỏi mọi sinh hoạt trong cộng đồng nhân loại. Tại sao lại như thế? Bởi vì cộng sản với lý thuyết Tam Vô, được đảng cộng sản đem vào thực hiện trong guồng máy chính trị bằng thủ thuật gian dối và bạo lực, đã áp đặt rồi xâm phạm, trấn áp, chi phối mọi sinh hoạt thường nhật của từng cá nhân, của từng gia đình. Tệ hơn thế, nó còn chủ trương vô đạo hóa tất cả các sinh hoạt từ văn hóa, nghệ thuật đến chính trị và tôn giáo trong xã hội. Nó bức bách, thúc đẩy con người rơi vào cuộc khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng niềm tin, tạo ra tội ác và gian dối. Từ đó, việc chống cộng sản trở thành một chủ trương, một sách lược chung, không phải của riêng cá nhân hay một quốc gia nào, nhưng của mọi người với mục đích rõ ràng và dứt khoát. Cũng từ đó, việc chống cộng trở thành một bổn phận, một trách nhiệm thiêng liêng của mọi người và nó không hề có quy định cho một thời hạn nào. Bao lâu sự gian trá bất lương là tàn tích của lý thuyết hay chế cộng sản còn sót lại, bấy lâu công cuộc chống cộng sản vẫn chưa hết nhiệm vụ.


dep bo cncs

Theo tinh thần này, ngừơi dân từ những nước không bị cộng sản chiếm đóng như Mỹ, Anh , Pháp, Tây Đức, Ý, Úc, …. họ đều biểu lộ tinh thần chống và loại trừ cộng sản ra khỏi mọi sinh hoạt trong xã hội của họ một cách tích cực. Hơn thế, họ còn hỗ trợ các quốc gia bị cộng sản chiếm đóng loại trừ chúng ra khỏi những nơi đó, và góp sức bảo vệ những phần đất còn lại trên thế giới chưa bén mùi cộng sản. Họ như thế, chẳng lẽ, người dân trong các nước bị cộng sản chiếm đóng, bị chúng làm cho thoái hóa đời sống nhân bản lại không hề chông cộng sản ư? (trường hợp những thành phần bị phong cùi tâm hồn, bị bệnh thần kinh thể lý hay bị khuyết tật như mù lòa, câm, điếc… thì không kể đến trong câu hỏi này).


Nếu có ai đó vẽ vời, bảo rằng không hề chống cộng sản, tệ hơn, lập luận chống là “có hại”, tôi tin rằng họ, một là không có hiểu biết gì về bản chất của cộng sản, nhưng thích khoa trương ngôn ngữ với lý luận diêm dúa, hở hang. Hai, đó không phải là ý thức, ý chí của người dân lương thiện ở trong những nước đã bị cộng sản chiếm đóng. Bởi lẽ, tất cả mọi người dân ở dưới chế độ ấy, như ở Việt Nam hiện nay, đều muốn nói lên một điều đơn giản, rõ ràng, thay vì diễn từ bằng những lý luận vòng quanh là: Họ không chỉ chống, mà là căm thù và muốn loại trừ chế độ CS này ra khỏi cuộc sống của họ tức khắc. Theo họ, việc có những tư tưởng bảo cộng sản đã chết rồi, hoặc gỉa, chống cái thừa thãi, cái không còn, phải được hiểu là những hoang tưởng bệnh hoạn, bạc nhược, đầy ích kỷ, thiếu trách nhiệm và thiếu lý trí nhân bản. Nó có thể ứng hợp với cái nhãn hiệu thích rêu rao sáo ngữ phường tuồng ở thời thượng cổ chưa được khai hóa, hơn là thực tại. Bởi vì, không ai có thể dửng dưng, đứng nhìn con quái thú hung bạo đang cắn xé cha mẹ, anh em hay đồng bào của mình.


Ở đây, xin gạt bỏ ra bên ngoài cuộc bàn cãi, hay ngụy luận ru ngủ, ươn hèn bảo rằng chủ thuyết cộng sản đã chết, đã sụp đổ từ năm 1991 theo sự tan hàng của Liên Bang Sô Viết và Đông Ấu, nên “chống cộng là chống cái thừa thài, chống cái không còn và có hại” (NHQ)! Và cũng gạt bỏ ra bên ngoài tất cả những nhận định về cộng sản đến từ mọi phía, như chủ nhân của hệ thống cộng sản Mikhail Gorbachev và lời chứng: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.” Hay với chủ tịch nhà nước Nga rồi trở thành TT Nga, Borris Yelsin, người giơ chân đạp đổ cường quyền Liên Sô bằng tiếng thét để đời “Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.Hoặc ôn hoà, bình thản như nữ thủ tướng Đức, Angela Merkel:”Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”. Hoặc là, Nghị quyết 1481 ngày 25-01-2006 của Hội Đồng Nghị Viện Âu châu đã công bố; Điều 9: ”Các chế độ độc tài toàn trị còn lại trên thế giới vẫn tiếp tục gây tội ác. Không thể dùng quan điểm quyền lợi quốc gia để biện hộ, lấp liếm sự lên án của cộng đồng nhân loại với các tội ác của các chế độ toàn trị này. Quốc hội chung châu Âu cực lực lên án tất cả mọi vi phạm quyền con người trong các chế độ cộng sản, coi nó như là tội ác chống nhân loại…“. để làm dẫn chứng cho bài viết “Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim” của tôi. Trái lại:


Tôi viết từ nguồn của những sự kiện có thật, đã và còn đang xảy ra trên đất nước Việt Nam, nơi bị chủ nghĩa cộng sản chiếm đóng và đảng cộng sản quốc tế (đã thu hẹp lại) thống trị. (Tôi gọi là thu hẹp lại vì nó gồm Trung cộng, Việt cộng, bắc Triều Tiên, Cuba… vẫn chiếm khoảng 2/5 dân số thế giới. Như thế mà bảo nó chết rồi ư?). Nghĩa là, tôi viết bằng chính những sự kiện hiện hữu hôm nay, còn đang ở trước mắt mọi ngưòi đây. Những sự kiện mà mọi ngưòi có thể trông thấy, chứng thực được. Từ đó, tôi xác định cho chính việc làm của mình là: Tôi chống cộng bằng dòng máu chảy về tim của dân tộc. Tôi chống cộng vì sự sống tuơng lai của đất nước. Tôi không chống cộng cho tôi. Tôi chống cộng vì:


1.Vì Tổ Quốc Việt Nam.


Tổ Quốc hay giang san Việt Nam là một giải đất liền lạc, kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, và bao gồm cả vùng biển đảo ngoài khơi như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc… là một quốc gia Độc Lập, Tự Chủ. Không thể bị bảo hộ, bị đặt dưới ách thống trị hay bị chia cắt, tách rời ra bởi bất cứ một thế lực thực dân hay là chủ nghĩa Tàu hay Tây ngoại lai nào hết. Phần đất ấy vĩnh viễn thuộc chủ quyền của người dân Việt Nam. Đó là điều khẳng định về đất nước tôi. Nhưng:


Vào ngày 03-02- 1930, Hồ chí Minh đã lập tổ cộng sản quốc tế ở trên phần đất Việt Nam. Tổ cộng sản này hoàn toàn lệ thuộc vào hệ thống cộng sản quốc tế và đặt dưói quyền điều khiển trực tiếp của Trung cộng và Liên sô. Ngày 2-9-1945, Hồ chí Minh, (có nhiều nguồn tin gầm đây cho rằng y là Hồ tập Chương, người Tàu gốc Hẹ đóng vai, hơn là Nguyễn tất Thành gốc ở làng Kim Liên, Nam Đàn) và tập đoàn cộng sản đã cướp được chính quyền tại Việt Nam và thành lập nhà nước cộng sản trên một nửa của đất nước này. Ngoài mặt, HCM và tập doàn cộng sản không ngừng rên rao việc Hưng Quốc, kiến quốc, no cơm ấm áo cho đồng bào. Nhưng thực chất là đã làm bại hoại quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế, và phá nát đời sống hiền hòa, an vui của người dân trong quốc nội. Bằng chứng ư?


Vào năm 1951 dưới sự lãnh đạo của HCM, và với tư cách TBT đảng cộng sản VN, rồi nhân danh “ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII”, Trường Chinh, Đặng xuân Khu chính thức gởi văn thư cho đồng bào Việt Nam với chủ đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc” trong đó nêu rõ hai điểm làm ô nhục, bại hoại, sỉ nhục cho quốc thể Việt Nam. Thứ nhất, kêu gọi ngưòi việt Nam không dùng chữ quốc ngữ, trở lại học chữ Tàu. Thứ hai, kêu gọi mọi người từ bỏ khoa học văn minh, nhưng dùng thuốc tễ của Tàu, vì nó là thầy của mình. Chinh viết “Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng” Hỏi xem, Việt nam đã có độc lập từ bao ngàn năm trước, mà Chinh dám viết “là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc”, ý nói, VN vẫn làm chư hầu cho Trung quốc thì nay không có lý do gì tách rời ra. Trái lại, vẫn xin để được tiếp tục làm chư hầu. Xin nhớ rõ một điều. Dẫu nước ta có bị Tàu đô hộ nhiều trăm năm, nhưng chúng ta không bao giờ chịu làm chư hầu cho họ. Tiền nhân ta luôn chống lại ách đô hộ và tìm cách tống khứ quân xâm lược ra khỏi nước. Nhưng nay thì Việt Minh Cộng sản lại đi xin cho Việt Nam làm chư hầu cho Trung cộng. Như thế là Hưng Quốc hay làm bại hoại Quốc Gia?


Rồi chính HCM, cũng tự nguyện xin làm nô lệ cho ngoại bang khi y viết thư xin sự chuẩn nhận của Stalin để giết đồng bào Việt Nam vào ngày 31-10-1952 . Hồ viết: “Đồng chí Stalin kính mến, Tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”.Khi viết đề án và thư này với hai ngưòi Tàu trợ giúp, Hồ có coi tập thể người Việt Nam là đồng bào với Y hay Y có nghĩ gì về Tổ Quốc Việt Nam hay không? Rồi cũng dưới sự chỉ đạo của HCM, Phạm văn Đồng đã viết công hàm vào ngày 15-8-1958, công nhận chủ quyền biển đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là của Trung Cộng. Việc làm này còn di họa cho đến bao giờ đây? Thêm vào đó là những hiệp thương biên giới 1999 và 2000 ( đều xảy ra sau năm 1991) để Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm và hơn phân nưả vịnh Bắc bộ nay là đất trong bản đồ của Tàu. Ấy là chưa kể đến những khế ước, phải được coi là những nhượng địa cho Tàu nằm trong nội địa Việt Nam, mà người ta không thể xác định được diện tích thật của những nhượng địa này là bao nhiêu, dưới dạng cho thuê rừng đầu nguồn và khai thác Bauxite!


Với những chứng cứ rõ ràng ấy, tôi khẳng định rằng, viêc chống cộng sản của tôi, cũng như của đồng bào VN yêu nước là dòng máu chảy về tim của Tổ Quốc.


2.Vì đồng bào Việt Nam


Với tôi, nhóm chữ “đồng bào Việt Nam” luôn mang một ý nghĩa đặc biệt, nếu như không muốn nói là nó có cả tính linh thiêng trong lòng dân tộc Việt. Bởi, nó luôn nhắc nhở cho người dân Việt biết và nhớ về cội nguồn cùng một bọc mà sinh ra. Như thế, một phần của nơi này bị xúc phạm, bị đau đớn, bị chia cắt, bị hành hạ thì tất cả những phần còn lại cũng đau đớn và xót xa lây như chính mình bị hành hạ, bị xúc phạm, bị chia cắt. Vì mọi người đều cảm nghiệm một nỗi đau chung trong thân thể Việt Nam của mình.


Ai cũng biết, Việt Nam trải qua một lịch sử dài, đầy dẫy những tai ương. Tai ương bị thống trị bởi ngoại bang, bị chà đạp dưới gót giày của bọn thực dân, bành trướng. Nhưng ngay dười thời bị đô hộ bởi giặc Tàu, giặc Tây, đồng bào Việt Nam chưa bao giờ bị một tổ chức chính quyền, hay thái thú nào tàn xát một cách độc ác, dã man, ghê rợn và có hệ thống cho bằng dưói thời cộng sản của HCM.


Cho đến nay, không ai có thể kiểm chứng được con số xác thực về số nhân mạng bị Việt Minh cộng sản giết hại trước va sau ngày chúng cướp được chính quyền. Chỉ riêng trong mùa đấu tố, đồng bào Việt Nam đã quằn qoại trong đau thương với hơn 170,000 người Việt Nam bị giết, hàng trăm ngàn gia đình bị ly tán. Trước nỗi đau đớn ngàn đời không thể quên ấy, Hồ chí Minh hồ hởi tuyên bố cuộc giết hại đồng bào ấy là một chiến thắng “long trời lở đất”! Xin nhớ, từ “long trời lở đất” hầu như chỉ đưọc dùng và ám chỉ đến cuộc chiến thắng vĩ đại của vua Quang Trung trong việc đại phá quân thanh vào mùa xuân Ất Dậu. Cuộc chiến thắng đã làm tan hồn bạt vía quân xâm lược đến nỗi tướng soái chỉ huy của chúng đã phải thắt cổ mà chết! Nhưng nay, Hồ chí Minh lại nghênh ngang tuyên bố, việc giết hại hơn 172000 ngưòi Việt Nam và cưóp toàn bộ tài sản của dân, của nước vào tay đảng cộng sản, là một chiến thắng “ long trời lở đất”! Như thế là ý gì? Có phải Hồ chí Minh đã báo thù cho Tàu (quân nhà Thanh) khi Y tuyên bố như thế hay không? Hay còn vì một lý do nào khác? Ấy là chưa kể đến việc chúng gây ra chiến tranh, làm chết thêm biết bao nhiêu sinh mạng của dân tộc, và cũng không kể đến cuộc tàn xát tắm máu người dân Huế khi chúng tạm chiếm được thành phố trong 33 ngày dịp tết Mậu Thân 1968 và đẩy hàng triệu người phải ra đi biệt xứ sau 30-4-1975.


Ai huyênh hoang trí thức, hoặc gỉa, người gia áo túi cơm nào tuyên bố không hề chống cộng, hay chống cộng là có hại. Có vui mừng, có vỗ tay reo vì cái chiến thắng “ long trời lở đất” của Hồ chí Minh trong mùa đấu tố hay không? Phần tôi, và tôi tin rằng tất cả đồng bào Việt Nam dứt khoát là không. Trái lại, sẽ mãi mãi lên án những kẻ điên cuồng đã giết hại đồng bào của mình. Nhiều người lên án Hitler là một tên đồ tể của nhân loại. Tuy thế, y cũng không ngu ngốc để giết hại đồng bào của mình. Nhưng chỉ có cộng sản, từ Stalin, Lênin, Mao rồi đến Hồ… thì vui mừng trên những xác của người dân và tạo nên những tội ác kinh thiên trong lịch sử. Rõ ràng, CS không chỉ phạm tộc ác đối với nhân loại mà còn với dân tộc của mình nữa. Theo đó, việc nhân dân Nga treo cổ Lenin, Stalin lên ( theo hình từ cái xe cần trục) không có gì là lạ. Chuyện ấy chắc chắn phải đến tại Việt Nam. CS phải bị loại trừ vĩnh viễn ra khỏi cuộc sinh hoạt của đồng bào tôi.


3.Vì nền luân ly, đạo đức của xã hội Việt Nam bị CS xúc phạm.


Ai cũng biết tinh thần Trung, Hiếu, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí,Tín trong nền văn hóa và luân thường đạo lý của Việt Nam đã là cột sống nuôi dân ta qua và trưởng thành từ mấy ngàn năm nay. Nhưng bi thảm thay, từ sau ngày 3-2-1930 đến nay, CS không ngừng gieo rắc vào trong lòng dân chúng Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ đến sau, một thứ luân lý và đạo đức, được gọi là đạo đức HCM. Lúc đầu, người người ngơ ngác nhìn, hỏi nhau, đạo đức HCM là thứ đạo đức gì nhỉ? Câu trả lời là: Ai mà biết nó là cái giống gì. Cho đến một ngày, khi tiếng trống mở hội đấu tố bùng lên với chiến thắng “long trời lở đất”, ngưòi ngưòi mới vỡ lẽ ra, hoảng hốt bảo nhau. A, có rồi đây, bà con ơi, “đạo đức HCM” đây này, ra mà xem. Tên nó là:


a.Vô đạo, bất nhân:


Sách lược đấu tố tàn bạo của cộng sản VN vào mùa 1953-56 không chỉ cưóp đi mạng sống của hơn 172000 đồng bào ruột thịt của Việt Nam. Nhưng nó còn mục đích tiêu hủy nền đạo lý của Việt Nam. Nó đã giết chết sự sống nhân bản của dân tộc bằng phương thức rình rập, đấu tố lẫn nhau bằng gian dối, để từ đó lòng người không còn chữ Nhân, xã hội không còn chữ đạo lý.


b. Bất trung, bội tín.


HCM luôn dùng chiêu bài dân tộc để lừa dối đồng bào Việt Nam, nhưng bản chất của nó là bất trung với tổ quốc qua những hiệp định, công hàm bán nưóc và bội tín, bội nghĩa với đồng bào qua việc giết chết rất nhiều người đã hy sinh xương máu bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ. Rồi phủ dập lên những người dân yêu nước, bảo vệ Công Lý, Nhân Quyên bằng những bản án lộng quyền, áp đặt như trong trường hợp của LM Nguyễn văn Lý, Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Duy Thức, Công Định, Điếu Cày, Minh Hạnh, Phong Tần, Nguyên Khang và mới dây là hai em học sinh, Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.


c. Đại bất nhân, tận bất nghĩa.


Ngoài xã hội, Hồ chí Minh đã bất nhân vô đạo với đồng bào trong cái chết của hàng trăm ngàn người, trong đó có cái chết “khổ nạn” mang tình trả ơn của cộng sản đối với bà Nguyễn thị Năm. Trong nhà thì HCM đã tán tận bất nghĩa trong cái chết của Nông thị Xuân, một thiếu nữ trẻ, mới 16 tuổi, được coi là vợ không cưới và đã đẻ con với Hồ! Hồ đã để cho Hoàn hiếp rồi giết Nông thị Xuân. Sau đó, quăng xác Xuân ra đường giả làm một tai nan xe cộ là hết chuyện. Không một tra xét. Qủa là khó kiếm được người thứ hai trên thế giới có trình độ bất nghĩa như thế!


d.Đại bất hiếu.


Việc trong nhà HCM nêu gương bằng cách suốt một đời không thắp cho cha mẹ đẻ một nén nhang, nói chi đến việc cúng bái theo đạo hiếu làm con. Với xã hội thì HCM cổ võ và khủng bố ngưòi dân học tập và thực hiện chữ “hiếu” bằng một từ đấu tố, “để đến nỗi một người phụ nữ đứng tuổi hỏi bố: “ông có biết tôi là ai không” người cha già ngậm ngùi nhìn đứa con dứt ruột của mình đẻ ra và nói “ thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ” (chứng từ của một Giám Mục trang 383).



e.Vô lễ.


Đứng chống nạnh, vuốt râu, tôi tôi, bác bác với các bậc tiền nhân anh hùng của tổ quốc Việt Nam. Tồi tệ hơn thế, Y còn gian manh viết sách bằng cái tên giả tạo để tự nâng mình lên làm “ cha gìa” dân tộc và tự xưng bác với mọi ngưòi.


Với thứ luân lý, đạo đức tàn độc này được truyền rao và áp đặt vào xã hội Việt Nam, người ta không lạ gì để thấy, ngày nay dưới thời của cộng sản, những tội đại ác như con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau, hàng xóm làng giềng cho nhau một con dao mã tấu đến lút cán mà có khi gía trị của tranh chấp chỉ là một câu nói, một cái nhìn, hay bằng gía tiền của một con gà hay con vịt… được dịp trổ hoa theo gương của HCM. Và chuyện hàng năm có đến vài trăm ngàn trẻ thơ chưa mỡ mắt chào đời đã được nạo, hút, phá, bị giết chết từ trong bụng mẹ cũng không có gì là lạ. Thử hỏi xem, cái thứ đạo đức này có nên tồn tại hay không?


4. Vì niềm tin tôn giáo và bảo vệ sự sống con người.


Với tôi, tín ngưỡng là Niềm Tin trong tôn giáo. Tôn Giáo là một kho tàng của Niềm Tin và Hy Vọng hiện hữu giữa đời sống thực tại và đời sống Siêu Nhiên hay Thần Linh. Nơi đó, về phần vật chất, có những phương thức giúp con ngưòi thực hành để vượt thoát cái bản chất thấp hèn đầy thú tính, nhằm tiến tới và hoà nhập vào một chuỗi hay nền luân lý đạo đức tôn giáo, trong đó triết lý bảo vệ quyền sinh và quyèn sống của con người rất được đề cao, ngõ hầu đem lại cho con người một cuộc sống yên vui trong gia đình, thái hòa, bớt tranh chấp, không gây tội ác, nghiệp chướng với đồng loại. Như bên Công Giáo thì có mười điều răn, bên Phật Giáo thì có ngũ giới… Phần linh thiêng thì có những lễ nghi để thể hiện sự liên hệ mật thiết, tích cực giữa đời sống con ngưòi với đời sống của thần linh hay siêu nhiên. Những lễ nghi này nhằm nâng cao phẩm hạnh, đạo đức, gía trị trong đời sống con người, hơn là sự ràng buộc thể lý với nghi lể, để tạo ra hình thức bó buộc. Như thế, điểm tựa của Tôn Giáo là Thần Linh, là Cao Cả tuyệt đối. Và đời sống của tôn giáo là Niềm Tin và Hy Vọng nhằm bảo vệ sự sống và đưa con ngưòi đến đời sống hoàn thiện để gặp gỡ Thần Linh.


Như thế, có thể nói rằng, đời sống của Tôn Giáo giữ vai trò cột sống của nhân loại. Tôn giáo luôn là những phương linh hữu hiệu làm đổi mới đời sống. Đổi từ những phương cách giáo hoá căn bản để con người có thể thoát ra khỏi cái tầm thường gỉa dối, vượt qua cuộc sống hoang dã đầy thù tính, để vươn lên, bước vào cấp sống nhân bản trong an bình tiến bộ. Đến những bước đi tâm linh, cao thượng để con người có khả năng ra đi tha thứ và bao dung, đem an vui cho mọi người.


Trong khi ấy, HCM với bạo lực khủng bố, lại đem vào và áp đặt lên trên đời sống người dân Việt chủ thuyết Vô Gia Đình, vô Tôn Giáo và vô Tổ Quốc của CS, ngõ hầu đạp đổ nền tảng đạo lý trong gia đình (cái chết của Nông thị Xuân, giết mẹ, từ con là một chứng minh?), đến việc đập phá Đền, Miếu, Đình, Chùa, Nhà Thờ với chủ đích triệt hạ niềm tin lành thánh của các tôn giáo, để tự khơi nguồn ra một thứ “tôn giáo” mới, đặt cược niềm tin vào vật chất và cuộc đấu tranh bạo lực trong gian dối, để khuyến dụ thú tính hoang dã của con người nổi loạn, rồi bước vào cuộc tranh dành, chiếm đoạt quyền lợi cũng như những nguồn lực sản xuất của xã hội. Sau cùng, đẩy người dân vào hệ thống kiểm sóat của thời nô lệ, buộc họ phục vụ cho một giai cấp thống trị vô đạo. Ở đó, quyền sinh, quyền sống của con người không được bảo vệ và tôn trọng nhưng thuộc về tay đảng cộng.


Đã làm ra những việc bạo ngược như thế, CS còn phỉ báng Tôn Giáo bằng cách đưa cái đầu lâu của HCM vào trong nhiều Đền, Miếu, Đình, Chủa. Đây là một phương cách bá đạo của cộng sản nhắm chiếm vị trí độc tôn cả ngoài đời lẫn trong đạo. Nên nhớ, HCM không phải là một tín đồ của tôn giáo, Y không phải là kẻ tu hành đắc đạo. Trái lại là một tội đồ của nhân loại. Như thế, pháp trường, máy chém là nơi dành cho Y chứ không phải là Đền, Miếu, Đình, Chùa hay nhà thờ. Điều này rất dễ hiểu. Y tôn thờ Mác Lê. Khi chết, muốn về với Mác Lê. Lenin, Stalin đã bị lên án là đồ tể của nhân loại và các xe cần trục đã phải làm việc vất vả với các cái đầu của họ trên các công trường của Liên Sô cũ. Lẽ nào HCM lại có thể đuợc xã hội Việt Nam cung nghinh?


Nếu cho rằng Y là một nhân vật lịch sử, có công trạng với đất nước ư? Nếu đúng, hãy làm cho Y một cái chòi, một cái nhà cầu hay một cái tượng đài riêng biệt, để cho ai muốn đến chiêm ngắm, trút bầu tâm sự thì đến. Tuyệt đối không được phép đưa Y vào Miếu, Đền, Đình, Chùa hay Nhà Thớ là nơi trang nghiêm, nơi thờ phượng của các tôn giáo. Nơi ấy không dành cho những người như thế.


5.Tôi chống cộng vì lòng biết ơn.


Với Tổ Quốc là sự trân trọng biết ơn công lao của các bậc tiền nhân đã dựng nước và giữ nước. Biết ơn các bậc anh hùng dân tộc đã hy sinh vì đất nước để có một Việt Nam Độc Lập từ ngàn xưa, dù phải đối diện với bao nguy biến vẫn còn truyền đến hôm nay. Là biết ơn Tổ Quốc vì tôi có cái may mắn được sinh ra và mang trên người dòng máu Việt Nam. Là xin đa tạ một giang sơn gấm vóc đã cưu mang, cho tôi hơi thở và nuôi tôi lớn lên làm người Việt Nam.


Với Đồng Bào là ân nghĩa xâu sắc. Là sự tri ân một nền văn hóa, đạo lý nhân bản cao thượng Nhân Lễ Nghĩa Tín Trung, là cội nguồn của giống nòi, đã dạy cho tôi về lòng yêu nước, và đùm bọc lấy nhau trong nghĩa đồng bào. Cách riêng, là lòng biết ơn chiến sỹ đồng bào đã đổ màu xương để bảo vệ sự Độc Lập và Tự Do của dân tộc. Là lòng tri ơn những người đã nằm xuống trong chốn lao tù cộng sản vì màu cờ sắc áo của quê hương. Là lòng biết ơn những người trẻ hôm nay vẫn miệt mài tranh đấu cho một Việt Nam Nhân Bản trong Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Công Lý và Nhân Quyền mai sau.


Với Tôn Giáo và gia đình: Là xin đa tạ những Cao Cả, Linh Thiêng, Lành Thánh trong tôn giáo. Là nơi tựa vững chắc đã cho tôi Niềm Tin, Hy Vọng, là Sức Sống và Sự Sáng chứa chan hồng phúc để tôi bước đi tìm Nguồn Sống cho cuộc sống. Là nơi đã cưu mang dưỡng dục tôi. Đã cho tôi một lương tâm ngay thẳng, trong sáng giữa muôn trùng gian trá và cám dỗ. Đã chỉ cho tôi cách sống trong tinh thần yêu thương, mở rộng lòng bác ái và bao dung, tha thứ. Đã dạy cho tôi biết phân biệt thiện ác. Biết làm điều lành và tránh xa những gian dối, là cội rễ đem đến cho xã hội, không phải chỉ nơi tôi sống, nhưng là mọi nơi được bình an, hạnh phúc không thù oán.


Bằng những lý do ấy, tôi không chống cộng như một lớp thời trang diêm dúa. Tôi không chống cộng theo kiểu ngôn ngữ trí thức hở hang. Tôi không chống cộng bằng một qúa khứ đau thương có nhiều thù hận.


Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim của dân tộc. Tôi chống cộng bằng sức sống hào hùng của tiền nhân. Tôi chống cộng vì sự sống tương lai của đất nước. Tôi không chống cộng cho tôi. Bởi lẽ, một cá nhân, dù là trí thức hay dân thường cũng chỉ là cái vỏ trấu bọc bên ngoài hạt gạo (hạt gạo ở đây cũng có thể được coi là tập thể dân tộc). Khi nó tự, hay bị tách rời ra khỏi hạt gạo có mầm sinh, là sức sống, thành lương thực nuôi sống con người, cái vỏ trấu ấy tuyệt đối vô dụng. Có lẽ chẳng ai muốn trở thành cái vỏ trấu vô dụng trong hướng đi của dân tộc mình? Theo đó, việc chống cộng cũng sẽ không có ngoại lệ cho ai. Hơn thế, nó cũng chưa thể chấm dứt khi chúng ta đã đào thải, loại trừ được cái chế độ và cơ cấu của nó ra khỏi đất nước. Trái lại, sẽ còn phải tiếp tục cho đến khi nào loại bỏ đưọc hoàn toàn những tàn tích của CS ra khỏi mọi sinh hoạt từ văn hóa đến đời sống thường nhật của xã hội thì nhiệm vụ ấy mới khả dĩ gọi là chất dứt. Bởi lẽ:


- Hướng đi của Dân Tộc Việt Nam là vĩnh viễn xây dựng một đất nước Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, trong hòa bình, thịnh trị và phú cường. Không chủ trương bạo động với các dân tộc khác.


- Sức Sống của dân tộc Việt Nam là một nền văn hóa bao dung và nhân bản, đặt nền tảng trên Trung, Hiếu, Nhân Lể Nghĩa Trí Tín. Để từ đó đồng bào Việt Nam được sống viên mãn trong một nền Công Lý, Thịnh Trị. Nhân Ái, Bao Dung. Để quyền sinh, quyền sống và nhân phẩm của con ngưòi được bình đẳng và tôn trọng. Để từ đó, mọi dòng máu lại cùng chảy về tim của Dân Tộc.



© Bảo Giang


Nguon: © Đàn Chim Việt




Posted on 05/23/2013 11:48 AM

Chúng ta đang... ăn thịt đất nước mình!

Ngô Minh - blog Ngô Minh

Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy: ”Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao? Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi: Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao, Singapore, Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản, sao người ta giàu thế. Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à?

Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được gồm: trời, đất, núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường. Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn. Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở!

20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu… Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành.

Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm năm, chúng muốn biến mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi!

Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng… Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng. Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy?

Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bắc hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ, bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ? Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí vói tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư,… đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bị chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của “dân cày có ruộng” thành ký ức lịch sử.

Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách, các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ. Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay. Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống.

Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bô-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom (Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên, bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác Các nhà chiến lược quân sự thường nói: ”Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ!

Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới, bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được. Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiếng thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon?

Bộ Chính Trị và Chính phủ là người chịu trách nhiệm chính trong việc khai thác tài nguyên vô tội vạ . Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai. Chúng tôi đề nghị:

- Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ. Quy hoạch chi tiết ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

- Phải dừng ngay các dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không cần bô-xít, cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng, vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

- Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên (như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác), khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor, Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm vận mệnh đất nước trong tay?

Nguon: danluan.org



Posted on 05/23/2013 11:44 AM

Dân vận là thế này ư?

Bùi Tín

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương đảng CS khóa XI đã bế mạc. Thông báo kết quả vẫn theo công thức rất cũ: nhất trí cao, với tinh thần dân chủ, ý thức trách nhiệm, phát huy trí tuệ và đạt kết quả tốt đẹp.

Trong diễn văn khai mạc cũng như diễn văn bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc rất nhiều đến chữ nhân dân, chỉ rõ mối quan hệ then chốt, sinh tử ấy đang có nhiều vấn đề gay gắt kéo dài, từ chênh lệch giàu nghèo mở rộng, bất công lan tràn, nông dân nổi giận, bộ máy nặng nề quan liêu ‘ hành dân’ , nạn tham nhũng dai dẳng bất trị, nạn thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định, tội phạm và tiêu cực hoành hành.

Tuy chữ «dân» được nhắc đi nhắc mấy chục lần trong diễn văn, nghị quyết, nêu bật các khẩu hiệu dân vận, như: phải «thật sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân», «việc gì có lợi cho dân thì cố gắng làm thật tốt, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh», nhưng không thấy đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để có thể lấy lại niềm tin đã mất của người dân.

Ngược lại, trong khi họp cũng như ngay trước và sau cuộc họp, các cuộc đàn áp thô bạo và xử án người dân yêu nước họp dã ngoại để cùng nhau trao đổi ý kiến về nhân quyền, rồi việc kết án một cách ngang ngược 2 sinh viên yêu nước chống bành trướng Đinh Nguyên Kha 8 năm và Nguyễn Phương Uyên 6 năm tù giam là những hành động khiêu khích công luận, khiêu khích toàn xã hội, khiêu khích thế giới dân chủ. Phải chăng đó là những hành động tiêu biểu cho chính sách dân vận mới? Như vậy chỉ làm cho mối quan hệ giữa đảng CS và người dân đã rất xấu càng tồi tệ thêm.

Việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng báo trước rằng Ban dự thảo Hiến pháp tiếp thu có chọn lọc 26 triệu ý kiến của cử tri, để rồi một mực giữ hầu như nguyên bản dự thảo đã bị hàng vạn trí thức tiêu biểu phủ định với lý lẽ vững chắc, cũng là một biểu hiện của chính sách «trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân» đó ư ?

Rõ ràng Bộ Chính trị, dù là gồm 14 hay 16 người, vẫn một mực giữ thái độ xa dân, khinh dân, đi ngược lòng dân, chống lại dân. Khi dân kiên quyết chống bành trướng, kiên quyết đòi quyền tự do, đòi xây dựng Hiến pháp và pháp luật tiến bộ, đòi chống tham nhũng thật sự, thì Bộ Chính trị một mực kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị cả thế giới đào thải, kiên định chế độ một đảng cực kỳ lạc hậu, phản tiến hóa, kiên định thái độ hèn với giặc, ác với dân. Ông Nguyễn Thiện Nhân vừa vào Bộ Chính trị đã phải sang ngay Bắc Kinh trình diện trấn an thiên triều, xóa bỏ ngay cái nhãn hiệu được đào tạo ở Mỹ, có ý thức cởi mở với phương Tây, giữ khoảng cách với bành trướng.

Xin hỏi tất cả các trí thức chuyên gia có trình độ và tâm huyết với ngành giáo dục về cống hiến của ông Nhân khi làm bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem ông đã cống hiến được gì, đã có chút thành tựu dù nhỏ ra sao đối với nền giáo dục cũ kỹ, chạy theo thành tích, chạy theo thi cử, sùng bái bằng cấp, hủ lậu, hình thức. Suốt thời kỳ làm bộ trưởng, ông một mực duy trì nền giáo dục không có thực chất, không thực học, thực chứng, xa thực tế. Ông là một bộ trưởng bất lực nhất, kém chuyên môn nhất, thất bại hiển nhiên trong ngành chuyên môn của mình, chỉ giỏi vâng dạ đối với cấp trên, lại được lên phó thủ tướng và nay được đội vương miện của một ông vua trong Bộ Chính trị. Văn bằng từ Đại học Harvard của ông không mảy may có giá trị thực chứng.

Còn bà Nguyễn Thị Kim Ngân ư? Xin hỏi giới chuyên gia kinh tế -tài chính-ngân hàng trong nước thì rõ. Bà Ngân có «công» từ khi làm giám đốc sở tài chính tỉnh Bến Tre, được ra Trung ương làm thứ trưởng Bộ Tài chánh, dính sâu với «Kim và Ngân», tiền nong và vàng bạc, rồi làm thứ trưởng Bộ Thương mại, cũng dính sâu vào tiền nong và hàng hóa, xuất nhập cảng. Sau đó bà Ngân làm bộ trưởng Bộ Lao động – Xã hội, thành tích, nếu có, nổi rõ nhất là thả lỏng để hàng vạn lao động Trung Quốc tràn vào Việt Nam suốt từ 6 tỉnh biên giới phía Bắc xuống Hải Phòng, vào Thanh Hóa, tràn lên Tây Nguyên, xuống tận Sóc Trăng, Cà Mau, với những thị trấn Tàu, hàng hiệu Tàu, chợ Tàu, khu gia cư của người Tàu. Bà cũng chịu trách nhiệm chính về nạn xuất khẩu lao động cực kỳ tai tiếng, bất nhân, kiểu buôn người, đem con bỏ chợ, cũng như nạn thất nghiệp tăng nhanh. Đó là những «thành tích nổi bật nhất» phục vụ đảng, để bà lên chức phó chủ tịch Quốc hội, nay được vào Bộ Chính trị.

Chế độ này thưởng công rất hậu cho những ai từng giữ các chức vụ cao trong ngành tài chính - ngân hàng. Các quan lớn CS ở VN phạm tội biển thủ công quỹ cho đảng và cho mình như thế, từng lộng hành trong ngành tài chính – ngân hàng, có thể điểm danh hàng loạt là: ông Nguyễn Sinh Hùng từng tiến thân từ vụ trưởng Vụ Ngân sách, rồi thứ trưởng Tài chính, rồi bộ trưởng Tài chính, rồi phó thủ tướng đặc trách kinh tế - tài chính - ngân hàng, để lên đến đỉnh cao là chủ tịch Quốc hội; ông Vũ Văn Ninh cũng từ thứ thưởng Tài chính rồi lên làm bộ trưởng Tài chính, nay là phó thủ tướng chuyên trách kinh tế - tài chính - ngân hàng; ông Vương Đình Huệ là bộ trưởng tài chính; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng là thống đốc Ngân hàng Nhà nước; các thống đốc ngân hàng nhà nước khác như Lê Đức Thúy, Nguyễn Văn Giàu (hiện là phó chủ tịch Quốc hội), Nguyễn Văn Bình; và còn có Đại tá Công an Lương Ngọc Anh bị nước Úc chỉ mặt từng dính dáng đến vụ nhận hối lộ 10 triệu đôla trong vụ Securency.

Đây là kiểu biển thủ đặc biệt, đại quy mô, từ ngân sách quốc gia do thu thuế, từ 2 nguồn viện trợ và đầu tư ngoại tệ lớn là ODA (Official Development Assistance) và FDI (Foreign Direct Investment) - mỗi năm hàng vài chục tỷ đôla - do các quan chức tài chính ngân hàng thu nhận và phân phối, Bộ Chính trị âm thầm phê duyệt, sau lưng chính phủ, sau lưng Quốc hội, được Ban Kiểm tra Trung ương Đảng nhắm mắt làm lơ với sự đồng lõa của viên chức đảng đóng vai Tổng kiểm toán nhà nước.

Tội biển thủ khổng lồ vô vàn tiền, đôla, vàng… của các quan chức đảng được thơ văn của các blog tự do gọi là «chặt đẹp, cắt, xẻo, thiến, múc» tài sản công, thực tế là cưỡng chiếm mồ hôi nước mắt của dân lao động và trí thức nước ta. Đã có vô kể triệu phú đôla mới trong hàng ngũ quan chức CS thời đổi mới và hội nhập, đàn sâu tệ hại nhất bòn rút tận xương tủy của toàn dân ta.

Đã có nhóm dân chủ yêu nước nào lập danh sách các tội phạm bán nước và biển thủ cỡ đầu sỏ để xử lý theo lòng dân trong thời kỳ hậu Cộng sản sẽ tới, như ở Đông Âu hơn 20 năm trước chưa? Để thêm kinh nghiệm, họ có thể tham khảo vụ án Tổng Bí thư Erich Honecker của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa Đông Đức bị tòa án Cộng hòa Liên bang Đức xét xử về tội biển thủ công quỹ sau ngày nước này thống nhất với Cộng Hòa Dân chủ Đức. Việc lập một danh sách như vậy, ngay từ bây giờ, là việc rất nên làm.

Công tác «dân vận» của đảng hiện nay là thế, nghĩa là làm ngược lại với phương châm trong nghị quyết dân vận là «kiên quyết làm mọi điều dân muốn, không làm bất cứ điều gì dân không muốn», thành ra là «kiên quyết làm mọi điều dân không muốn - nhưng ta muốn vì có lợi cho địa vị, bản thân và gia đình của ta», như hèn với giặc, buông lỏng chống tham nhũng, và kiên quyết không làm điều dân muốn là chống bành trướng và quét thẳng tay bầy sâu tham nhũng lớn, minh bạch hóa nền tài chính quốc gia.

Nhân dân luôn đánh giá đảng từ việc làm, không từ phương châm trên giấy. Làm «dân vận» như lãnh đạo đảng đang làm - bổ sung vào cơ quan lãnh đạo 2 nhân vật «có công» như trên, sửa đổi Hiến pháp theo kiểu «hiếp dân», dự định thay tên nước kiểu cưỡng bách để trở về với cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có danh mà không có thực chất, lại mang nhiều tiếng xấu, đàn áp độc ác các thanh niên yêu nước chống bành trướng được toàn dân yêu mến - thì chỉ tổ làm cho toàn dân, từ lao động, nông dân đến trí thức dân tộc, nhà kinh doanh vừa và nhỏ, và cả đông đảo đảng viên CS ở cơ sở… thêm căm giận, phẫn nộ.

"Dân vận" như thế chỉ là tự diệt.

Bùi Tín

Nguon: http://www.x-cafevn.org/node/4868



Posted on 05/22/2013 11:21 PM

Ðổi luật chơi trong đảng

Ngô Nhân Dụng - Diễn Đàn Thế Kỷ

Các nhà quan sát thời sự đều đồng ý rằng Nguyễn Phú Trọng đã bị Nguyễn Tấn Dũng đánh bại thảm thương trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng sản vừa qua, họ gọi là “Trung Ương Bẩy,” viết là TW7. Nhưng đằng sau “hiện tượng” đó, có những vấn đề sâu xa hơn, cho thấy trên sân banh chính trị đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay luật chơi đang thay đổi; ngay các cầu thủ cũng không biết họ đang theo “luật chơi” nào.

Nguyễn Tấn Dũng biết sử dụng một thứ luật chơi mới cho nên làm bàn liên tiếp, còn Nguyễn Phú Trọng thì vẫn quen đá theo lối cũ cho nên luôn luôn bị việt vị. Hiện tượng này không phải mới bắt đầu thấy trong TW7 mà đã diễn ra từ năm ngoái. Trong trận đá Hội nghị TW6, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đồng loạt tấn công với khí thế rất phấn khởi, mà sau cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn không bị lung lay.


Ðối với quý vị không quen theo dõi thời sự, cần phải giải thích thêm vài lời. Hiện nay đảng Cộng sản đang cai trị nước Việt Nam. Có 175 người được gọi là Ban Chấp hành Trung ương Ðảng nắm quyền chọn người vào các chức vụ trong đảng và trong chính phủ. Họ bầu ra một nhóm 14 người gọi là Bộ Chính Trị, trong hội nghị TW7 đầu Tháng Năm 2013 mới bầu thêm hai người nữa thành 16. Ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư, một chức vụ xưa nay vẫn được coi là đứng đầu đảng. Nhưng hai ứng viên ông đề nghị vào Bộ Chính Trị, Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ đều bị rớt; hai người mới được vô, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân đều thuộc phe Nguyễn Tấn Dũng. Thấy rõ bên nào thắng, bên nào thua.

Ông Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị cho các ứng viên của mình trong nhiều bước. Thứ nhất là tái lập hai ban chuyên môn của Trung Ương Ðảng đã bị xóa bỏ từ năm 2007, là Ban Kinh Tế và Ban Nội Chính. Sau đó, cử hai người “phe ta” đứng đầu các ban này, tin tưởng rằng đến kỳ họp TW7 hai người đó sẽ được bầu vào Bộ Chính Trị; vì các trưởng ban khác đều được ngồi trong đó cả. Chuẩn bị kỹ như thế mà lại thua, cho nên thất bại của ông Nguyễn Phú Trọng kỳ này càng đau đớn hơn.

Trong lịch sử các đảng Cộng sản, thường thì người làm tổng bí thư nắm toàn quyền cài đặt người vào Bộ Chính Trị, trong ngôn ngữ của họ gọi là “cơ cấu.” Nhà báo Huy Ðức mới kể chuyện hồi Ðỗ Mười là tổng bí thư, ông lần lượt gọi hai người thuộc Bộ Chính Trị tới, nói với mỗi ông rằng: “Kỳ này tôi nghỉ, anh thấy sao?” Ông thứ nhất thật thà hỏi: “Thế ai sẽ thay anh?” Ông thứ hai thì đập tay xuống bàn kêu lên: “Trời ơi, đất nước đang như thế này làm sao anh nghỉ được?” Kết quả, ông thứ nhất bị mất chức, không được Ðỗ Mười cơ cấu cho nữa, còn ông thứ nhì giữ nguyên được ghế ủy viên Bộ Chính Trị.

Thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, cho tới Ðỗ Mười chức tổng bí thư trong đảng Cộng sản tương đương với ngôi hoàng đế trong thời quân chủ chuyên chế. Không đoán được ý tổng bí thư là mất chức, có khi còn mất mạng. Ngày nay luật chơi đã thay đổi.

Cái gì đã làm thay đổi luật chơi?

Tiền!

Nói một cách văn hoa, cái làm thay đổi luật chơi trong đảng Cộng sản là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Trong khẩu hiệu này, phần thứ nhất “kinh tế thị trường” sinh ra tiền. Cho dân được phép làm ăn tự do hơn, nhờ thế đô la từ nước ngoài đổ vào nhiều hơn, trước mắt thấy nhiều cơ hội làm tiền hơn. Phần thứ hai “Xã hội Chủ nghĩa” tức là vẫn nắm chặt quyền hành tập trung vào trong tay đảng. Nắm quyền thì khai thác được lòng sợ hãi, dùng đồng tiền thì kích thích lòng tham.

Ngày xưa, thứ năng lượng chính yếu đẩy cho cả guồng máy đảng vận hành là lòng sợ hãi, giống như dùng than đá hay xăng; còn lòng tham đóng vai phụ trợ, giống như dầu nhớt giúp máy chạy êm hơn. Ngày xưa, trên bảo dưới phải nghe, vì chức tổng bí thư nắm được đảng thì nắm quyền điều động cả bộ máy cưỡng chế; ra lệnh cho quân đội, công an, và các tổ chức mật vụ. Ngày nay, các khẩu hiệu và chiêu bài đó phai nhạt dần dần, thần thánh đã hết thiêng. Lòng sợ hãi không còn là năng lượng chính yếu nữa, lòng tham lên ngôi thay thế.

Sau khi Chủ nghĩa Xã hội lại có thêm Kinh tế Thị trường thì hai yếu tố quyền và tiền quyện lại với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một cơ chế vận hành mới điều động cả guồng máy đảng. Quyền chức không, chưa đủ. Người ta cần thứ quyền nào tạo ra được đồng tiền. Hậu quả là, đối với tất cả xã hội bên ngoài thì kẻ nào nắm quyền sẽ có cơ hội kiếm được nhiều tiền. Còn ở bên trong đảng thì chức vụ nào có khả năng chia chác cơ hội kiếm tiền cho người khác thì sẽ được bên dưới kính sợ; đến khi bỏ phiếu, sẽ được người ta theo lời “hướng dẫn.”

Trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, Ðại hội thứ chín, năm 2001 bắt đầu giai đoạn đồng tiền lên ngôi. Ðại hội này chọn một nhân vật lu mờ, không khả năng mà cũng không có cá tính; Nông Ðức Mạnh được bầu lại làm tổng bí thư Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Chọn một người như vậy cho lên làm “hoàng đế” cho thấy khuynh hướng giảm bớt sức nặng và vai trò của quyền. Nhưng đại hội đó cũng “xác định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, vân vân.” Nói đến “phát triển lực lượng sản xuất” tức là mục tiêu kiếm tiền đã được đề cao.

Nông Ðức Mạnh ngồi yên trên cái ghế tổng bí thư suốt 10 năm là giai đoạn “quá độ,” quyền đang giảm giá, tiền dần dần lên ngôi. Kể từ đại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản thì vai trò của đồng tiền nổi bật lên.

Người thấy được sự thay đổi sớm nhất là ông Nguyễn Tấn Dũng. Có lẽ nhờ kinh nghiệm làm ăn với nhiều thứ nghề nghiệp và chức vụ khi còn sống ở miền Nam, Nguyễn Tấn Dũng đã dần dần nhận ra thứ quy luật mới đang thành hình trong cuộc chơi giành quyền hành trong đảng. Nguyễn Tấn Dũng đã nằm trong guồng máy công an, lại từng nắm quyền điều khiển cả Ngân Hàng Trung Ương, cho nên hiểu được cuộc vận hành của cả đồng tiền lẫn bạo lực.

Từ khi làm thủ tướng năm 2006, ông ta đã vận dụng các quy luật mới để củng cố địa vị. Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.

Nguyễn Phú Trọng không nhìn ra là trên sân banh luật chơi đã thay đổi. Cho nên ra sân hai lần đều thất bại. Năm ngoái, tính lật Nguyễn Tấn Dũng mà không lật được. Năm nay, hai đàn em đều không vào được Bộ Chính Trị. Người Hà Nội vẫn nói Lú như Trọng, nhưng chắc không ai ngờ ông ta lú đến như vậy. Khi đọc diễn văn kết thúc hội nghị Trung Ương 7, ông Nguyễn Phú Trọng phải giới thiệu Bộ Chính Trị có thêm hai ủy viên mới, mà không thèm nhắc đến tên người nào cả. Thái độ đó chỉ cho mọi người thấy là ông quá “cay cú.” Mà cay cú như vậy thì ông sẽ phải tìm cách phản công. Phương pháp phản công duy nhất là thay đổi lại luật chơi. Còn nhiều thứ luật chơi khác có thể thay đổi tình thế. Người Việt mình vẫn nói "Nó lú nhưng chú nó khôn". Nếu ông Nguyễn Phú Trọng không nghĩ ra kế nào thì “các chú” của ông chắc chắn khôn hơn thế nào cũng nghĩ ra!

Nguoàn: danluan.org



Posted on 05/22/2013 9:58 AM

Đất nước ổn định?

Người Buôn Gió - blog Người Buôn Gió

Ở các nước tư bản có trộm cắp, có biểu tình phản đối chính sách chính quyền, có giết người... như ở Việt Nam. Ở Đức này xe đạp mà không khóa cũng bay luôn không biết khi nào. Túi xách để trong ô tô coi chừng cửa kính xe bị đập vì cái túi. Đa số bọn ăn cắp là dân lang thang kiểu di gan, những người ăn bảo trợ xã hội, không muốn đi làm chỉ rượu bia lướt khướt rồi ra đường ăn xin hay đi trộm cắp. Một số dân châu Á (nước nào thôi chả nói rõ, cứ nói chung chung cho lành) sang châu Âu cũng làm những việc chẳng khác gì dân di gan. Nhưng ít ra dân châu Á còn chịu khó làm hơn dân di gan, có điều họ làm ẩu hoặc làm tắt cho đỡ mất công sức, bỏ qua những quy định về an toàn này nọ. Mấy cái việc đó cũng gây ra lắm chuyện ảnh hưởng đến an ninh trật tự đời sống.

Chả bao giờ thấy chính quyền phương Tây, các chính khách phương Tây đăng đàn ba hoa tự ca ngợi là chính trị ở nước họ ổn định, an ninh trật tự ổn định cả. Chắc vì họ thấy đất nước họ còn nhiều điều chưa được vẹn toàn cho lắm, bởi chuyện mất cắp, biểu tình, giết người, làm hàng giả, ăn xin... vẫn còn xảy ra.

Nhưng ở phương Tây điểm xem nước nào mà một năm phải đưa ra tòa xử hàng chục người vì tội chống chính quyền, âm mưu lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống phá chính quyền như ở Việt Nam?

Phải chăng bọn cảnh sát, an ninh phương Tây vì không khám phá ra nhiều vụ chống chính quyền như ở Việt Nam, nên bọn lãnh đạo phương Tây nó không dám công nhận là nước nó ổn định chính trị. Chừng nào an ninh phương Tây phải bắt bọn chống chế độ nhiều như ở Việt Nam, chừng ấy bọn Tây mới dám vỗ ngực là nước nó ổn định chính trị và cho đó là công lao, là niềm tự hào.

Thôi! cái bọn tư bản thối nát không bàn làm gì, chúng cũng đã biết nhục mà không dám nhận mình là đất nước ổn định chính trị, cũng bỏ qua cho chúng. Người Việt nói chuyện Việt vậy.

Nhìn xem những vụ xử chống chính quyền ở Việt Nam là những ai? Hòa thượng, Linh mục, Tu sĩ, nhà văn, nhà thơ,nhà báo,nhạc sĩ, giáo sư, kỹ sư,tiến sĩ, nhà giáo, sinh viên, nông dân, doanh nhân, công nhân, người già, thanh niên, phụ nữ... cựu chiến binh thậm chí là cả quan chức nhà nước. Đủ mặt mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013, trong vòng chưa đầy nửa năm, các bản án cho người chống phá, tuyên truyền chế độ ở Việt Nam lên đến 100 năm tù. Kỷ lục nhất trên thế giới này về số người chống chính quyền và số năm tù phạt người vì tội chống chính quyền chưa? Nước nào trên thế giới này sánh được điều đó, trừ người anh em hữu nghị Trung Quốc. Còn nếu tính theo tỷ lệ dân số thì người anh Trung Quốc có khi còn nghiêng mình bái phục đàn em Việt Nam về những án tù cho người bị kêu tội danh "chống phá chính quyền".

Vậy thử hỏi sự ổn định chính trị ở Việt Nam là do "tuyệt đại đa số dân chúng tin tưởng vào giai cấp lãnh đạo" hay là "tuyệt đại đa số những ai không tin vào giai cấp lãnh đạo mà bày tỏ sự bất tin tưởng này đều bị trừng phạt bằng những án tù rất nặng".

Xem trong nhiều phản hồi trên báo chí Việt Nam về vụ xử hai sinh viên Uyên, Kha vừa rồi. Mới thấy sự hăng say bảo ổn định chế độ, bằng củng cố niềm tin hay là bằng bạo lực, bằng trừng phạt? Thậm chí một kẻ tư xưng là sinh viên năm thứ ba đã kêu gào như thế này trên báo Người Lao Động.

Nguyễn Hoàng Nguyên Huy

1

17/05/2013 01:35

Là một sinh viên năm thứ 3 mà cái nhận thức về quá kém. Mà cái nhận thức đó còn thua các cháu thiếu nhi nữa. Và cũng tiết thương công sức cha mẹ cho ăn học mười mấy năm trời mà cái nhận thức càng kém đi. Tôi cũng xin đề nghị Bộ Công an cần kiến nghị nhà nước ta tăng mức hình phạt đối với tội tuyên truyền chống phá Nhà nước thật cao để răn đe và làm gương cho những người khác. Hình mức phạt này còn quá thấp chưa răng đe người khác được.

Tinh thần của cậu sinh viên này là điều quan trọng mà báo chí cần nhấn mạnh. Đó là kêu gào xử tù nặng hơn nữa với những sinh viên cùng trang lứa với cậu ta vì tội nói xấu Đảng, nói xấu Trung Quốc. Nhưng qua phản hồi của cậu sinh viên này được báo đăng, cho chúng ta thấy một điều là những biện pháp khắc nghiệt, dã man luôn luôn được ưu ái dùng đến trong cái gọi là bảo vệ ổn định chính trị. Đến một cậu sinh viên cũng khát khao đòi hỏi tăng án tù cho bạn mình, một xã hội quá nhân bản!!!

Không thấy phản hồi nào nói đến chuyện ổn định chế độ bằng củng cố niềm tin, bàn bạc đi đến đồng thuận... chỉ có những kêu gào đầy hứng chí và hả hê là xử nặng hơn nữa, trừng phạt tàn bạo hơn nữa để kẻ khác sợ không dám màng đến chuyện bày tỏ bất đồng với chính quyền.

Đất nước chưa đầy nửa năm có đến 20 người thanh niên ra tòa vì tội chống phá chế độ, chính quyền thản nhiên cho 100 năm tù kết án họ. Đất nước có những sinh viên năm thứ ba kêu gào một cách phấn khích như tìm thấy niềm hưng phấn khi đòi kết án tù người sinh viên thật nặng hơn. Chỉ vì những sinh viên ấy bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa bằng những tờ giấy.

Chả nói đến kinh tế suy thoái, doanh nghiệp vỡ nợ, giải thể, các dự án lớn thua lỗ.

Chỉ nhìn thế thôi, đã hiểu sự ổn định trên đất nước này có hay không? Nếu có thì chúng được xây bằng gì?

Nguồn: danluan.org



Posted on 05/22/2013 9:32 AM

Global Witness Và Nước Mắt Môi Trường

T/S Alan Phan - Theo blog Góc Nhìn Alan

Con người phải hiểu rằng chúng ta không thể sống nếu không có Mẹ Trái Đất, nhưng hành tinh này vẫn có thể sống mà không cần chúng ta. Evo Morales

Kinh tế phá rừng

Dù đau xót khi chứng kiến sự tàn phá vô cảm của con người với rừng (lá phổi của trái đất), tôi vẫn chưa nghĩ ra sự thiệt hại về kinh tế cho đến khi đọc bài blog của B/S Hồ Hải vè giá trị của lâm sản. Theo B/S Hải, mỗi m3 của gỗ trắc tốt Việt Nam có giá khoảng 36,000 USD trong khi loại gỗ rẻ nhất cũng thu về hơn 15,000 USD mỗi m3. Một vòng qua google về giá cả của các cây rừng nguyên sinh xác nhận khung giá này.

Năm 1993, tổng số gỗ trong các khu rừng Việt là 1,025 triệu m3 (khoảng 76 m3/mẫu-hectare trên 14 triệu mẫu diện tích). Vài nghiên cứu khác chỉ ghi nhận đến 728 triệu m3. Giai đoạn 1993 đến 2009, cả nước mất khoảng 7,650 mẫu mỗi năm hay 122,400 mẫu trong 16 năm tương đương với 9.3 triệu m3 gỗ. Nếu tính giá bèo là 15,000USD mỗi m3 gỗ bán ra, các lâm tặc và đồng lõa đã bỏ túi 139 tỷ USD. Đây là một mất mát lớn gấp 30 lần Vinashin, bằng 115% GDP của Viêt Nam trong 2012 và gấp 3 lần số nợ xấu của các ngân hàng theo báo cáo hiện nay. Số tiền này có thể xây 7 triệu nhà xã hội (20,000 USD mỗi căn) để tặng không cho các hộ nghèo; hay trả tiền ăn học cho 25 triệu trẻ em miền sâu miền xa trong 12 năm học (trung bình 500 USD/năm/em).

Dĩ nhiên, tôi và đến 99% dân số không có thẩm quyền gì về pháp luật nên những phân tích…chỉ là những phân tích. Tuy nhiên, sự im lặng tuyệt đối của xã hội với một vấn nạn kinh tế tầm cỡ này là một điều khó nuốt cho mỗi bữa ăn.

Global Witness

Nhìn lại hoạt động của Global Witness (GW) trong 20 năm vừa qua, chúng ta nhận thấy là GW đã trung thực đi đúng với tôn chỉ và mục tiêu của tổ chức. Một là giúp cho những hộ nghèo ở vùng có tài nguyên không bị các thế lực tư bản hay quan chức “móc túi” cho nghèo thêm; hai là bảo vệ môi trường “sống” cho toàn cư dân của trái đất. Họ đã thành công ngăn chận “kỹ nghệ kim cương máu” ở Phi Châu cũng như những tàn phá rừng và khai thác gỗ ở Campuchia thời Khmer Đỏ, ở Indonesia, ở Liberia, ở Myanmar…

Phương thức hoạt động của họ không nhắm vào quan chức hay công ty địa phương, mà vào các nhà tư bản Tây phương đang đổ tiền tài trợ cho các dự án này Trong phi vụ kim cương máu”, mục tiêu chính là tập đoàn kim cương lớn nhất thế giới, DeBeers. Khi bị áp lực của dư luận người tiêu dùng không muốn vấy bẩn vào “kim cương máu”, DeBeers ngưng thu mua và thị trường teo tóp ngay qua đêm. Mục tiêu khi tấn công vào việc phá rừng khai thác lâm sản của các quốc gia đã nêu tên là vào các nhà tài trợ dự án và các công ty mua bán gỗ.

GW làm việc hoàn toàn dựa trên nguyên lý tư bản,” Khi dòng tiền ngưng chảy vào một lãnh vực kinh doanh, các dự án sẽ tự hủy diệt theo thời gian”. Người Tàu hay nói, “con cá nó sống vì nước”.

Vì được tài trợ một phần bởi các chánh phủ Anh, Mỹ, Âu…GW không bao giờ đụng trực tiếp đến các tầng lớp chánh phủ hay quan chức, vì đây là phạm trù của Bộ Ngoại Giao của các chánh phủ tài trợ cho họ. GW biết nên không bao giờ lấn sân qua các hoạt động chánh trị hay đánh đấm với các công ty địa phương.

Cho nên khá khôi hài khi các công ty Việt Nam có tên trong bản cáo buộc của GW lên tiếng phản bác, phủ nhận hay mời GW dến thăm quan cơ sở. Cũng như khi các chánh phủ Việt, Miên, Lào…vội kết tội “phản động” cho GW với chiếc mũ “thế lực thù địch”. Cả trăm tờ báo lề phải được huy động hay trả tiền để bới móc, lăng mạ GW hay nhà sáng lập George Soros. Các ngài đã phản ứng quá nhanh, quá nhậy và tốn tiền cũng như thời giờ vô ích. Tất cả các mạng truyền thông thế giới không chút quan tâm đến các phản bác của các ngài và chỉ đợi phản ứng chính thức từ các nhà tư bản tài trợ như Deutsche Bank, IFC, Temasek Holdings, BIDV hay quỹ Jaccar…

Tư bản có trách nhiệm

GW là một công cụ của thế giới tư bản để chống lại những lạm dụng quá đà của quyền lực. Những nhà tư bản thường cho là mình “bất bại” và trong mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho công ty, các nhà quản lý đôi khi vượt qua ranh giới của lương tâm để đạt “chiến thắng”. Những hoạt động vô vụ lợi của GW là tiếng còi báo động sớm cho các công ty đa quốc, các ngân hang, quỹ đầu tư thế giới cũng như các mạng truyền thông chính thống khác.

GW (và các nhóm vô vụ lợi khác của toàn cầu) cộng với tự do ngôn luận là những rào cản hữu hiệu để nền kinh tế tư bản có được một chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm với xã hội chung quanh. Vì lòng tham con người là vô hạn nên chúng ta cần những công cụ như GW, dựa trên những lý tưởng đáng ca ngợi của tuổi trẻ còn biết cảm xúc với những nỗi đau của con người và thiên nhiên. Đó mới thực sự là cốt lõi của văn hóa và văn minh nhân loại.

Lại chuyện mất hay được?

Một câu hỏi khác của một nhà báo cũng làm tôi phải suy nghĩ. Là người Việt, ông phải ủng hộ doanh nhân Việt chống lại bọn “ngoại xâm”. Ông nghĩ thế nào về hậu quả kinh tế cho ngành cao su Việt Nam khi đối diện với cáo buộc của GW?

Thú thật, tôi yêu quê hương nhưng không có một lòng ái quốc cuồng tín. Tôi tự hào với thành quả tốt đẹp mà các sinh viên, các khoa học gia, các doanh nhân Việt đã gặt hái trên khắp thế giới. Nhưng tôi cũng xấu hổ khi đọc về những tội phạm ma túy, xã hội đen Việt…trên các mạng truyền thông toàn cầu. Tôi xấu hổ khi phần lớn đối tác, bạn bè, sinh viên ngoại…vẫn nghĩ đến Việt Nam như là một banana republic (cộng hòa quả chuối).

Về hệ quả kinh tế, chúng ta sẽ thâu nhặt những gì chúng ta đã gây trồng. Nếu các nhóm môi trường và các định chế truyền thông khác tham gia để tăng cường độ của lời cáo buộc, tôi nghĩ là nhiều cổ đông hay quỹ đầu tư sẽ rút ra khỏi các dự án cao su của Đông Dương để tránh tai tiếng. Ngoài sự thiếu hụt cho dòng tiền luân chuyển, các công ty có thể còn bị sức ép về giá cả nếu các nhà tiêu dùng lớn tìm nguồn cung cấp khác ngoài Đông Dương. Đây là rủi ro lớn nhất về lâu dài.

Tuy nhiên, sau khi bỏ túi ngon lành 139 tỷ đô la trong 16 năm qua, các đại gia Việt có thể mất vài tỷ đô la? Chỉ là muối bỏ biển. Các chân dài kiếm nhiều hơn thế từ các đại gia trong 6 năm qua.

Alan Phan

Nguoàn: danluan.org



Posted on 05/21/2013 2:03 AM

"Cuong Nguyen" ncuongdieu@yahoo.com

HÌNH ẢNH SINH HOAT CỦA GĐ ATBĐ BẮC CALI CHO ĐẠI HỘI KỲ 7




















































Posted on 05/21/2013 12:50 AM

"thanhdaihan" thanhdaihan@aitubinhdien.net

Thăm Bạn ÁI CHỦ - OREGON

Gia đỉnh 2 vợ chồng Ái Chủ và 2 con trai, con dâu va cháu nội.








Quang cảnh nhìn từ balcony nhà Ái Chủ...




Posted on 05/21/2013 12:28 AM

"phanthuc" phanthuc@yahoo.com

Chúc Mừng Ái Nữ ATBĐ Phan Van Thanh

Con gái đầu của bạn Thanh Phan ra trường "Doctor of Pharmacy".





Posted on 05/20/2013 5:39 PM

Bản án dành cho chế độ

Nguyễn Hưng Quốc

Phiên toà xét xử Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại Long An ngày 16 tháng 5 kết thúc vào lúc 4 giờ chiều với bản án: Kha bị 8 năm tù và Phương Uyên bị 6 năm tù; ra tù, cả hai đều bị quản chế thêm ba năm nữa. Lúc ấy, ở Úc là bảy giờ tối. Từ đó đến sáng hôm sau, Thứ Sáu 17/5, tôi nhận được cả mấy trăm bức email từ khắp nơi. Có người gửi riêng cho tôi; có người gửi chung trong các mailing list gồm nhiều người. Tất cả đều nói về một chuyện: Phương Uyên. Chỉ có một số ít trình bày dài dòng cảm nghĩ của họ; còn lại, đại đa số, chỉ chuyển các thông tin về phiên tòa mà tôi đã được đọc trên các tờ báo mạng kèm theo vài lời bình ngăn ngắn đầy phẫn nộ.

Số lượng email ấy nói lên điều gì? Chỉ một điều đáng kể nhất: Sự quan tâm và bức xúc của mọi người.

Sau đó, vào các trang báo mạng của các blogger độc lập trong nước cũng như các website ngoài nước, hầu như ở đâu tôi cũng thấy các bài viết về phiên tòa và bản án ấy. Nhiều bài cung cấp những thông tin rất chi tiết, như “Tường thuật phiên tòa 2 sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại Long An” của Dân Làm Báo hay bài “Những chuyện bên trong và chưa nói về phiên tòa xử sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha” của Hải Huỳnh. Đó là chưa kể các bản tin trên nhiều cơ quan thông tấn ở ngoại quốc, trong đó, có BBC và VOA.

Tôi chú ý nhất đến bài “Tiếng nói Uyên, Kha trước tòa, lời cảnh tỉnh cuối cùng cho đảng CSVN” của nhà thơ Hoàng Hưng. Chú ý vì nó sáng suốt, và đặc biệt, mạnh mẽ. Ông cho việc kết án nặng nề đối với Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên là một việc làm “phi pháp, phi nghĩa, phản dân phản nước và cũng thật ngu xuẩn”. Ông cũng xem “phiên tòa xét xử Kha, Uyên là một dấu mốc lịch sử trên con đường đấu tranh dân chủ của Việt Nam”. Dấu mốc ấy thể hiện ở mấy điểm chính: Thứ nhất, cả hai đều rất trẻ. Thứ hai, cả hai đều dũng cảm, bất chấp những sự đe dọa hay mua chuộc của công an, dõng dạc khẳng định “Tôi không có tội” hoặc “chỉ có một tội là yêu nước”. Thứ ba, cả hai không những có những nhận định chính trị sâu sắc mà còn có “phong thái đàng hoàng, đĩnh đạc, hiên ngang” khi đứng trước tòa.

Dường như, liên quan đến phiên tòa, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất cho mọi người chính là cái phong thái ấy. Khi đăng lại bài phỏng vấn “Việt Nam tuyên án nặng 2 sinh viên chống Trung Quốc” của Trà Mi trên blog Quê Choa của mình, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã sửa lại nhan đề, nhằm làm nổi bật phong thái bất khuất của hai thanh niên yêu nước này: “Suốt phiên tòa, Uyên & Kha đều ngẩng cao đầu”. Đạo diễn Song Chi cũng chú ý và nêu bật phong thái ấy trong bài “Ngẩng cao đầu, tiếp bước nhau vào nhà tù nhỏ”. Nhà báo Ngô Nhân Dụng, trên Người Việt, xem phong thái ấy là tiêu biểu cho cả một thế hệ mới ở Việt Nam: “Một thế hệ không cúi đầu”.

Báo Diễn Đàn tại Pháp chỉ đăng bức ảnh của Phương Uyên kèm theo câu nói của em trước tòa “Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn” dưới một nhan đề đầy ý nghĩa “Dáng đứng Phương Uyên”. Nhà báo Trương Duy Nhất, ở trong nước, cho hình ảnh của Nguyễn Phương Uyên đứng trước tòa là “tuyệt đẹp”. Nhà văn Nguyễn Quang Lập, khi nhắc đến Phương Uyên, đã dùng chữ “sự bình thản trong suốt” và “tuyệt vời”. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo làm bài thơ lục bát ca ngợi Phương Uyên, xem em như một đóa hoa, một đóa hoa bị bỏ tù.

Theo tôi, vài năm hay nhiều năm nữa, có lẽ người ta sẽ quên các chi tiết liên quan đến phiên tòa và các bản án. Nhưng người ta sẽ nhớ mãi cái hình ảnh, như nhà văn Trần Trung Đạo mô tả: “Cô bé đứng trên bục cao, đôi kính cận có gọng dày, tóc vén cao, áo trắng học trò, thân hình mảnh mai trông giống như một cô bé học sinh 15 tuổi đang đứng trước bảng đen trong lớp học chứ không phải đứng trước tòa án Cộng sản. Em không sợ hãi, không van xin, trầm tĩnh và tinh khôi như một thiên thần.”

Cũng giống như hiện nay, có lẽ không phải ai cũng nhớ các chi tiết liên quan đến phiên tòa xét xử luật sư Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội ngày 4/4/2011, nhưng tôi tin là nhiều người còn nhớ hình ảnh của ông, hai tay bị còng, ra tòa với bộ đồ vét đen và chiếc cà vạt màu đỏ với những chấm trắng, toát lên vẻ uy nghi của một trí thức khi đối diện với bạo quyền.

Cũng vậy, người ta vẫn còn nhớ và có lẽ sẽ còn nhớ mãi hình ảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý bị một nhân viên an ninh bịt miệng ngay trước tòa án tại Huế vào ngày 30/3/2007 dù có lẽ, không mấy người còn nhớ ông bị buộc tội gì và bị kết án mấy năm tù.

Liên quan đến tòa án, tôi cho đó là ba hình ảnh tiêu biểu nhất cho việc đàn áp dân chúng của chính quyền Việt Nam hiện nay: đàn áp tu sĩ, đàn áp trí thức và đàn áp cả những thanh niên còn trẻ măng không làm gì khác ngoài việc bày tỏ lòng yêu nước hay, nói theo lời các công tố viên khi buộc tội Nguyễn Phương Uyên, là “nói những điều không hay về Trung Quốc”.

Tôi tin những hình ảnh sẽ còn lại mãi. Như, trước đây, trong chiến tranh Việt Nam, những yếu tố gây ấn tượng mạnh nhất đối với người Mỹ và người Tây phương nói chung, không phải là các bản tin, mà là các bức ảnh, bắt đầu với bức ảnh chụp cảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngay tại Sài Gòn vào năm 1963, và sau đó, bức ảnh chụp cảnh cô bé Kim Phúc trần truồng chạy trên đường với vết cháy khắp người do bom napalm gây ra vào năm 1972. Gần 40 năm sau 1975, với rất nhiều người Tây phương, kể cả trong giới trí thức, chiến tranh Việt Nam chỉ còn lại mấy hình ảnh chính. Không có gì khác.

Trước đây, ở cả Tây phương lẫn Đông phương, người ta đều đề cao sức mạnh của ngòi bút, thường ví ngòi bút với lưỡi gươm; thậm chí, với một số người, như Edward G. Bulwer-Lytton, cho ngòi bút còn mạnh mẽ hơn cả lưỡi gươm (the pen is mightier than the sword). Ở Việt Nam, cũng có nhiều người nói như vậy. Khen Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú viết: “Văn chương của ông có sức mạnh bằng mười vạn quân”. Phan Bội Châu cũng từng viết: “Sức vãn hồi bút mạnh hơn gươm.” Trước Phan Bội Châu và Phan Huy Chú, đời Lê, Thân Nhân Trung có lần mơ ước: “Sức bút tung hoàng quét sạch hàng nghìn quân”. Trước đó nữa, vua Trần Thái Tông cũng tâm niệm: “Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc” (Văn bút tảo thiên quân chi trận). Tuy nhiên, sau này, ở thời đại thông tin, người ta khám phá ra, sức mạnh thực sự không nằm trong chữ nghĩa mà chính là ở hình ảnh.

Trong bài nói chuyện nhan đề “Tính chính trị của hình ảnh” tại Malta vào ngày 4 tháng 6 năm 2008, Tiến sĩ Michael Frendo, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Malta, cho tất cả các chính trị gia đều ý thức rất rõ là một hình ảnh nằm ở trang nhất của các tờ báo có sức mạnh hơn hẳn các bài diễn văn hay bình luận trên tờ báo ấy. Chữ, đọc xong, có khi người ta quên ngay. Chỉ có hình ảnh là còn lại. Frendo cho đó là một đặc điểm nổi bật của thời đại chúng ta. Ông dẫn lại một nhận xét của Bernard Manin trong cuốn The Principles of Representative Government (1997), cho, trước, sân khấu chính của chính trị chủ yếu nằm ở Quốc hội và các trung tâm đầu não của các đảng phái; sau, nó nằm ở các phương tiện truyền thông đại chúng. Manin gọi đó là nền “dân chủ thính giả” (audience democracy), ở đó, dân chúng chọn lựa giới lãnh đạo qua các hình ảnh họ nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình, và gần đây, internet. Trong thời đại của nền “dân chủ thính giả” như thế, hình ảnh trở thành một sức mạnh vạn năng: Chính qua các hình ảnh được chọn lọc kỹ càng, các chính khách trở thành nổi tiếng, gần gũi và đáng tin cậy đối với quần chúng.

Các chế độ độc tài cũng biết cách tận dụng hình ảnh để tuyên truyền và vận động quần chúng. Mặc dù tất cả các lãnh tụ của Nazi, Phát xít và hầu hết các lãnh tụ của Cộng sản đều là những sát thủ đứng đầu trong lịch sử với “thành tích” giết hại có khi cả đến mấy chục triệu người, nhưng, trên các trang báo cũng như trên máy truyền hình, bao giờ họ cũng xuất hiện một cách hiền lành bên cạnh trẻ con. Chính vì vậy, tất cả các chế độ độc tài đều cố hết sức siết chặt các phương tiện truyền thông. Họ kiểm duyệt từng bức ảnh một.

Nhưng nếu các chế độ độc tài duy trì quyền lực bằng cách kiểm soát hình ảnh thì hình ảnh, tự chúng, cũng có sức mạnh đủ để quật ngã các chế độ độc tài ấy. Ai cũng biết yếu tố đầu tiên dẫn đến cuộc cách mạng mùa xuân ở Ai Cập, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài Hosni Mubarak vào năm 2011 chính là những bức ảnh chụp thi thể của anh thanh niên Khaled Mohamed Saeed, người bị cảnh sát đánh chết vào ngày 6/6/2010. Hình ảnh thân thể Saeed bị đánh bầm dập với cái miệng há hốc đầy máu me, khi được tung lên mạng, đã khiến hàng triệu người dân Ai Cập phẫn nộ, từ đó, xuống đường biểu tình. Và cách mạng bùng nổ.

Dĩ nhiên, còn quá sớm để có thể nói hình ảnh của một Nguyễn Phương Uyên, một Cù Huy Hà Vũ hay một Nguyễn Văn Lý trước tòa có thể làm thay đổi điều gì ngay ở Việt Nam. Tuy nhiên, chúng sẽ còn lại, như bằng chứng của một tội ác. Với những bằng chứng ấy, bản án dành cho họ trở thành bản án dành cho chế độ.

Một chế độ độc tài và tàn bạo.

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: http://www.voatiengviet.com



Posted on 05/17/2013 1:44 PM

THÀNH PHẦN THỨ BA

Khánh Hưng

1. Tôi có một người chú bà con, có học nhất, có tư cách nhất, và được tôn trọng nhất trong dòng họ. Trước năm 1975, ông ấy là một linh mục Công giáo trẻ, là hiệu trưởng của một trường trung học, và có chân trong nhiều tổ chức xã hội có tiếng. Có thể nói, thời ấy, ông có đầy đủ, vừa danh dự, vừa quyền hành, và cả vật chất. Các tổ chức nhân đạo phi chính phủ cấp cho ông kinh phí một cách hào phóng để xây trường học và các cơ sở xã hội mà ông muốn. Ông có đủ các loại xe và phương tiện để phục vụ cho công việc của ông.

Các viên chức chính quyền miền Nam từ quận trưởng, tỉnh trưởng cho đến những cấp cao hơn luôn tỏ ra kính trọng và cả sợ hãi chú tôi. Tôi đã từng chứng kiến một tỉnh trưởng nói với ông: “Xin cha nguôi giận tha cho con”, dù ông tỉnh trưởng này lớn hơn ông trên 10 tuổi. Thế nhưng ông là người thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình chống chính quyền miền Nam một cách quyết liệt. Tôi luôn nhớ cái khẩu hiệu của ông, “chính quyền miền Nam là một chính quyền tham nhũng, và thối nát.”Ngày 30/4/1975, ông tỏ ra vui vẽ khi bộ đội giải phóng đến mượn trường học và nhà ở của ông làm nơi đóng quân tạm. Sau ba tháng, bộ đội dọn đi và họ dọn luôn toàn bộ cái tài sản công lẫn tư của ông. Họ không chỉ tháo tôn, khung gỗ, mà cạy luôn cả gạch móng của tất cả những trường học và cơ sở của ông. Tám tháng sau ngày miền Nam giải phóng, ông bị đưa đi “cải tạo” trong thời gian hai năm. Vậy mà, suốt ba mươi năm qua, tôi chưa hề thấy ông một lần dám cãi lại anh trưởng công an xã, một học trò của ông đã bỏ học từ năm lớp 7 để theo đám du côn trong vùng, và sau này thường xuyên bắt ông ngối viết kiểm điểm.

2. Hôm nay tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ bài “Sự Lựa Chọn Của Người Trí Thức”, nói về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức nổi tiếng ở miền Nam đi theo Cộng sản và đã từng giữ chức Chủ tịch Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Viện nam. Luật sư Thọ là người gốc Công Giáo và hoàn toàn trưởng thành trong nền giáo dục Pháp. Ở miền Nam , ông đã có tất cả, từ địa vị, vật chất, danh dự, và sự kính trọng. Thế nhưng ông đã bỏ tất cả để đi theo cộng sản.Sau năm 1975, gần như người ta không còn nghe đến tên ông. Tôi đã từng đến nhà ông trên đường Phạm Ngọc Thạch trong một dịp lễ đặc biệt, và đúng như lời đồn đãi, từ người gác cửa, lái xe, cho đến người y tá của ông, đều do cơ quan “bảo vệ nội bộ” của Đảng cung cấp. Người Sài Gòn kể rằng, trước lúc chết, ông có nguyện vọng được xưng tội với một linh mục. Vì mục đích nhân đạo, chính quyền đã đồng ý với điều kiện là người “thư ký” của ông phải đứng bên cạnh cuộc xưng tội giữa ông với ông linh mục nọ.

3. Thế hệ của tôi đã học chữ quốc ngữ qua dòng nhạc phản chiến đầy hào khí Lạc Hồng của Trịnh Công Sơn. Khi tôi vào đại học, được nghe lời truyền tụng về huyền thoại chống chiến tranh, được cho nhìn những tấm ảnh nhạc sĩ họ Trịnh ốm yếu, với đôi kiếng cận dày, ôm cây dàn ngạo nghễ hát trên một sân khấu phản chiến, giữa Trung tâm Sài Gòn với một “lực lượng cảnh sát và mật thám” dày đặc của một chính quyền Miên Nam “tay sai, tàn bạo, thối nát”; Vì thế, hơn cả sự ngưỡng mộ tài hoa của một nhạc sĩ, trong lòng tôi còn dành cho họ Trịnh sự kính trọng đối với một chí sĩ bất khuất trước cường quyền. Nhưng sau này, khi đi làm và có cơ hội tiếp xúc với ông, tôi hoàn toàn thất vọng. Trịnh Công Sơn rất sợ bị công an “thăm hỏi”. Dù là một người xa lánh với những kẻ quyền lực, Trịnh công Sơn luôn treo tấm hình ông chụp chung với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt ở phòng khách. Ông đã nhiều lần bày tỏ với bạn bè một ý định ngây thơ và hết sức tội nghiệp là tấm ảnh đó có thể giúp ông tránh bị công an chụp mũ. Một nhạc sĩ hàng đầu của một dân tộc, từng hiên ngang công khai thách thức chính quyền miền Nam, đã trở nên hèn hạ đến mức phải dùng một tấm ảnh để đánh lừa nổi sợ hãi của chính mình. Trước khi ông mất vài năm, tôi đã vài lần gặp ông trong các hội nghị tổng kết của một số cơ quan tổ chức văn hoá tại Sài Gòn. Trong tất cả các hội nghị đó, những hàng ghế danh dự được dành cho các cán bộ văn hoá, tuyên huấn kể cả cấp quận huyện. Những cán bộ này phát biểu, chúc tụng nhau nhưng không ai để ý đến ông. Ông ngồi lọt thỏm ở các hàng ghế sau với một vài người bạn. Tôi xin lỗi vong hồn ông để nói điều này: Cộng sản đã dành cho nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công sơn vị trí của một trong số hàng ngàn “CÔNG NHÂN SẢN XUẤT NHẠC…” không hơn không kém. Thân phận của ông trong hai mươi sáu năm sau 1975, chỉ trừ khi ông chết, còn kém hơn một cán bộ phòng văn hoá quận 1.

4. Tôi đến Mỹ trễ sau khi miền Nam đã được “giải phóng” hơn 20 năm. Ở Mỹ, tôi có hai người bạn. Gọi là bạn nhưng họ đều lớn hơn tôi trên 10 tuổi, và cả hai là người miền Nam , đã đến Mỹ từ trước 30/4/1975. Cả hai đều có bằng tiến sĩ và đều có địa vị cao trong xã hội Mỹ. Hai người bạn tôi nằm trong số những người thường hay về Việt Nam và luôn ao ước cơ hội để giúp đỡ và phụng sự quê hương Việt Nam .

Điều đáng nói là, hai người bạn tôi luôn chỉ trích xã hội Mỹ, hệ thống chính trị Mỹ, và các chính trị gia Mỹ. Nói về bất cứ lĩnh vực nào, họ cũng đều tìm ra cái xấu, cái đáng phê phán của nước Mỹ. Ngược lại, dường như bạn tôi tỏ ra dể dãi hơn đối với tình trạng ở Việt Nam và dường như không có ấn tượng gì lớn đối với tình trạng tham nhũng – thối nát trong xã hội cộng sản Việt Nam hiện nay. Có lần bạn tôi nói rằng, ông mới đến Mỹ mà sao ông chống cộng hơn tôi?

Vì sao?

Tôi đã bỏ Việt Nam ra đi khi tôi ở lứa tuổi đã quá trễ để học một ngôn ngữ mới, để tạo lập một nghề nghiệp mới, để có một mối quan hệ xã hội mới, và để có thể làm quen với khí hậu ôn đới. Thế nhưng tôi đã phải ra đi vì tâm trí tôi không thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của những điều bất công, thối nát, lừa dối, và tàn bạo đang xảy ra từng ngày xung quanh tôi.

- Một buổi sáng, tôi thấy anh xe ôm đầu ngỏ nhà tôi trên đường Lê Văn Sĩ, quận 3 dường như đang khóc. Tôi hỏi anh, và anh nói rằng chiếc xe honda cũ của anh đã bị công an thu giữ, không biết làm cách nào để xin lại. Lý do là vì xe honda ôm chỉ đựợc chở 1 người khách nhưng hôm qua, anh đã chở một người khách – môt phụ nữ có đứa con 5 tuổi. Tất nhiên, đứa bé 5 tuổi không thể ngồi một mình sau xe ôm được. Nhưng “luật pháp” không phân biệt lớn nhỏ. Anh xe ôm nói, vì đó là chuyến xe đầu tiên trong ngày, nên anh không có đủ 50 ngàn để “dúi” cho anh cảnh sát giao thông, và vì thế, chiếc xe của anh đã bị tạm giữ. Anh xe ôm này có ba đứa con. Chỉ riêng phải đóng “sổ vàng” để được giữ chổ tại trường công lập gần nhà, mỗi đứa cần có 2 triệu, chưa kể tiền học thêm hàng tháng… Trung bình mỗi ngày anh kiếm được 100 ngàn đồng bằng nghề xe ôm. Vợ anh bán bánh canh trong hẽm mỗi ngày kiếm được khoảng 50 ngàn. Thu nhập của hai vợ chông cộng lại tính ra chưa đủ tiền trường cho ba đứa con, chưa nói đến những bất trắc thường xuyên xảy ra như vụ chiếc xe bị tạm giữ.Ở Việt Nam , cứ 10 người bạn gặp, sẽ có 7 người có hoàn cảnh như anh xe ôm nói trên.

- Còn anh bạn tôi thì luôn chỉ trích nước Mỹ…Tôi đã sống ở Mỹ hơn 5 năm, đã có ít nhất hai mươi lần liên hệ với các cơ quan chính quyền. Tôi chưa hề bắt gặp một công chức nào thiếu nhã nhặn và lịch sự với tôi ngay cả khi tôi đến để xin các khoản trợ cấp. Không ai trong số hàng chục gia đình bà con và quen biết của tôi đã sống tại Mỹ hơn 20 năm phàn nàn về một lần phải bị làm khó dể hay phải lo lót cho công chức Mỹ.Ở Mỹ, không nói đến chương trình phổ thông hoàn toàn miển phí, mà bất cứ ai cũng có đủ cơ hội để đi học đại học. Gần như 100% người Việt Nam di cư đến Mỹ đều đủ tiêu chuẩn hưởng trợ cấp giáo dục (financial aid). Do đó mà đã có tới hơn 45% người Việt đến Mỹ dưới 20 tuổi học xong đại học hoặc trên đại học. (California, Department of Education, 2004-Survey). Ở Việt Nam hiện nay, không dám nói đến bậc đại học, ngay cả vào lớp một thôi, chỉ riêng tiền đóng “sổ vàng” trung bình là 1 triệu đồng cho một học sinh, khoản tiền này không được qui định bởi luật pháp nhưng không phi pháp… Khoản tiền đóng “sổ vàng” này, như báo Tuổi Trẻ từng đưa tin, có trường lên tới 5 triệu đồng cho một quốc gia có mức thu nhập trên đầu người vào khoảng 7 triệu rưởi. Nhưng đó chỉ mới là khoản nhập môn. Tổng các khoản chi học thêm, qùa cáp thầy cô giáo, và phương tiện học hành của mỗi học sinh chiếm tương đương với ít nhất là 1/3 số thu nhập của anh xe ôm kia.

- Ở bất cứ phương diện nào, bạn cũng có thể thấy một khoảng cách rõ ràng giữa hai xã hội.Dì của tôi, năm nay trên 60 tuổi đang nhận chăm sóc một cháu bé 1 tuổi tại Santa Cruze (CA) cho vợ chồng một kỹ sư người Việt. Hàng tuần dì lái cũng một chiếc Toyota 2004 đi làm 5 ngày, mỗi tháng dì lãnh 1000 dollars tiền lương, chưa kể ăn uống và quà cáp trong các dịp lễ. Mức thu nhập của dì tôi tương đương với mức lương trung bình của 4 kỹ sư điện toán giỏi tại Sài gòn hiện nay.

- Truyền thông Mỹ hôm nay (18/12/2005) xôn xao đưa những chỉ trích và đánh giá gay gắt về việc Tổng thống Bush đã có lần cho phép cơ quan an ninh quốc gia theo dõi điện thoại và email của nghi phạm khủng bố trong nước Mỹ. Cũng trong thời gian này, ở Việt Nam xảy ra một chuyện ngược lại: Công an tống giam biệt tích hai anh em nhà ở đường Nguyễn Kiệm vì tội tham gia diễn đàn Paltalk nhưng không có một dòng tin nào xuất hiện trên 500 tờ báo hiện có tại Việt Nam.

Chỉ cần nhìn sơ qua, bạn cũng có thể thấy, những điều mà bạn chưa hài lòng ở nước Mỹ là những điều mà đồng bào của bạn dù nằm mơ cũng không thấy được. Chỉ cần lướt qua vài hình ảnh và số liệu, bạn cũng có thể thấy cái bất công trong xã hội Mỹ này chỉ bằng một viên bi trong một giỏ bi bất công dưới chế độ cộng sản. Ở trên trái đất này, không hề có thiên đường. Điều mà anh và tôi tìm kiếm không phải là một xã hội hòan hảo, mà là một xã hội có ít sự bất công hơn, có ít sự lừa dối hơn, và có ít cái xấu hơn. Trong ý nghĩa này, thì nuớc Mỹlà một mô hình tốt hơn vạn lần so với cái xã hội Việt Nam cộng sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối đang thống trị xã hội.

Quí vị “Thành phần thứ ba” giống như những đứa bé nhà giàu đang sống êm ấm trong một lâu đài nhưng luôn nhìn qua cửa sổ, mơ tưởng được làm một chú bé mò cua trên cánh đồng đàng xa, dưới bầu trời đầy nắng, và bên cạnh một khu rừng nhiệt đới bí ẩn… Nhưng khi nào quí vị trở thành chú bé nhà nghèo kia, thì quí vị sẽ thấy công việc mò cua hoàn toàn không có mảy may của sự lãng mạn, nhưng là một sự khốn khó đến cùng cực vì lạnh, vì đói, vì nắng, và những những cơn sốt nghiệt ngã do cánh rừng kia mang lại.

Tóm lại

“Thành phần thứ ba” là những người có thừa nhiệt huyết và dũng khí để đấu tranh quyết liệt chống những chính quyền của những xã hội dân chủ nhưng thiếu sự can đãm tối thiểu để bảo vệ một sự công bằng căn bản nhất dưới những chế độ độc tài. Và như thế, dù không chủ ý, “thành phần thứ ba” đã bắt một nhịp cầu cho các chế độ độc tài như cộng sản Việt Nam .

Khánh Hưng

Nguồn: maito70@yahoo.com



Posted on 05/14/2013 8:01 PM

Quyền lật đổ chính quyền

Lê Dủ Chân

Nếu nói đến dân chủ hoặc dân quyền mà không nói đến QUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN của dân thì đó là một thiếu sót sai lầm nghiêm trọng, bởi vì quyền lật đổ chính quyền là quyền lực chính trị cao nhất của người dân, được thực thi để thay đổi nhà cầm quyền với mục đích bảo vệ những quyền lợi tự nhiên cơ bản của mình khi những quyền này bị nhà cầm quyền xâm phạm hay tước đoạt.

1. Nguồn gốc

Ba yếu tố ắt có và đủ để thành lập một quốc gia là: DÂN, LÃNH THỔ VÀ CHÍNH QUYỀN, trong đó "DÂN" là yếu tố quyết định. Thật vậy nếu không có dân sẽ không có lãnh thổ, không cần chính quyền. Ngược lại nếu có dân, dân sẽ chiếm hữu lãnh thổ để sinh tồn và lập nên chính quyền để phục vụ cho mình.

Quá trình lập quốc của các quốc gia trên thế giới, điển hình là sự ra đời quốc gia Israel của người Do Thái vào thế kỷ 20 sau hơn 2000 năm có dân nhưng không có lãnh thổ và chính quyền, đã chứng minh được luận điểm trên là đúng đắn.

Từ đó có thể xác định được rằng quyền lật đổ chính quyền của người dân có ngay từ ngày đầu khi một quốc gia được thành lập và quyền này không những phải được công nhận như một quyền tự nhiên của người dân mà còn được xem như là một phương pháp tối ưu để xây dựng quốc gia mỗi ngày một giàu mạnh người dân mỗi ngày một hạnh phúc.

Hiểu một cách đơn giản và thực tế thì chính quyền là một tổ chức do người dân của một nước lập nên, tổ chức này gồm một nhóm người, họ cũng là dân nhưng được đa số người dân khác tín nhiệm chọn ra để lãnh trách nhiệm điều hành xã hội phục vụ cộng đồng.

Do vậy bản chất của chính quyền là phi giai cấp và phi thời gian, không lệ thuộc, không phục vụ cho một giai cấp đặc thù nào trong xã hội và chỉ tồn tại khi nó đáp ứng được nguyện vọng của những người tạo ra nó tức là dân.

Một chính quyền không phục vụ cho người dân, ngược lại chỉ phục vụ cho chính bản thân những người cầm quyền, hoặc vì bất cứ lý do gì đã mất đi khả năng lãnh đạo làm cho đất nước suy vong, xã hội suy trầm, nhân dân đói khổ thì người dân phải hủy bỏ để lập nên một chính quyền khác.

Quy luật này không những là quyền mà còn là trách nhiệm và bổn phận của người dân trong một nước, hoàn toàn không bị ràng buộc bởi hiến pháp và luật pháp hiện hành do nhà cầm quyền đương nhiệm đặt ra.

Nhìn vào lịch sử Đông - Tây chúng ta thấy được rằng sự sụp đổ một triều đại, một chính phủ hay một chế độ đều phát xuất từ dân, quyền lực đó chính là quyền lật đổ chính quyền của dân.

Tuy nhiên trong thời đại phong kiến cũng như trong cuộc cách mạng vô sản của người cộng sản, do trình độ chính trị của người dân chưa được khai phá, nhận thức về tự do, quyền làm chủ của dân còn bị hạn chế nên quyền này đã bị tư tưởng phong kiến và tà thuyết cộng sản lèo lái, sử dụng như một phương tiện phục vụ cho tham vọng riêng tư của bọn họ. Thế cho nên sau khi đạt được mục đích cướp chính quyền, thâu tóm quyền lực, hai tập đoàn này đã dùng hệ thống tư tưởng thần quyền hoang tưởng, lý thuyết giai cấp thống trị phản động kết hợp với bạo lực để vô hiệu hóa quyền lật đổ chính quyền của dân với mục đích kéo dài vĩnh viễn thời gian cai trị cho chế độ.

Riêng tại các quốc gia có nền văn minh tiên tiến theo chế độ dân chủ, quyền lật đổ chính quyền của người dân đã được dân và nhà cầm quyền thể chế hóa và luật hóa ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ qua các văn bản gốc như:

- Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (The Unanimous Declaration of the Thirteen United States of America) ra đời ngày 4 tháng 7 năm 1776;

- Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp (Déclaration des droits de l'Homme et du citoyen) ngày 26 tháng 8 năm 1789;

- Và sau khi thế chiến lần thứ hai kết thúc, đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận qua bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) tuyên bố ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

2. Hình thức

Tùy theo chế độ và mức độ ngoan cố của nhà cầm quyền, người dân các quốc gia trên thế giới lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ bằng những hình thức sau:

- Bầu cử:

Tại các quốc gia dân chủ người dân thực thi quyền lật đổ chính quyền của mình một cách hòa bình và công khai, quyền này được cụ thể hóa minh bạch bằng luật ứng cử và bầu cử đúng theo hiến pháp của mỗi nước quy định.

Ngược lại để lật đổ một chính phủ trong chế độ độc tài, thông thường người dân phải dùng các hình thức sau mới mong đặt được mục đích của mình:

- Bất tuân dân sự:

Henry David Thoreau (1817-1862) cho rằng người dân có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền bất chính, bất công và sai lạc. Và nếu không khai trừ, giải thể được chế độ này thì ít ra cũng không a tòng, tương trợ hay gần gũi kẻ phạm pháp.

Vào thế kỷ trước, bằng phương pháp biểu tình ôn hòa bất tuân dân sự, từ chối tuân thủ những luật lệ, chính sách, chủ trương, đường lối của chính phủ Anh mang tính bất công chống lại người dân và làm suy yếu đất nước, tẩy chay các sản phẩm, các cơ quan giáo dục và pháp tòa Anh cũng như từ chức không làm cho chính quyền, từ chối không đóng thuế và hủy bỏ những danh hiệu, huy chương của đế quốc Anh. Với con đường này Mohandas Karamchand Gandhi thường được gọi là Thánh Gandhi (1869-1948) đã dẫn dắt người dân Ấn Độ đến độc lập tự chủ.

Cách Mạng Nhung Tiệp Khắc diễn ra từ ngày 16 tháng 11 năm 1989 đến ngày 29 tháng 12, 1989dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước này. Hai ngày sau khi cảnh sát đã đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên tại thủ đô Praha, ngày 19 tháng 11 năm 1989, hàng loạt những cuộc biểu tình của người dân Tiệp Khắc đã diễn ra trên khắp đất nước, số lượng người tham gia biểu tình tại Praha có ngày lên đến nửa triệu, tiếp đó ngày 27 tháng 11, một cuộc đình công phản đối đồng loạt trên toàn quốc đã diễn ra trong hai giờ đồng hồ. Trước sức ép ngày càng càng lớn, vào ngày 28 tháng 11 đảng cộng sản Tiệp Khắc đã tuyên bố từ bỏ quyền lực và giải tán chế độ độc tài độc đảng đương quyền. Đến tháng 6 năm 1990, một cuộc bầu cử tự do, dân chủ, đa đảng đầu tiên kể từ năm 1946 đã được tổ chức để thành lập chính phủ mới mở ra kỷ nguyên tự do dân chủ cho người dân Tiệp Khắc.

Từ năm 1987 cho tới 1991 tại Cộng Hòa Sô Viết Estonia nhân dân Estonia biểu tình tụ tập mỗi lúc cả ba trăm ngàn người tại công trường Tallinn, tung hô khẩu hiệu tranh đấu đòi quyền tự quyết, hát những bài quốc ca, dân ca từng bị Liên-Sô cấm đoán. Khi quân đội Liên-Sô đem xe tăng đến uy hiếp, dân chúng biểu tình lấy thân làm hàng rào chống đỡ, nhờ đó chính quyền Estonia kịp trở tay giải tán quốc hội và tuyên bố độc lập.

Tại Nam Phi, với chủ trương bất tuân dân sự qua những cuộc biểu tình vĩ đại "Trong Mưa Tím" (Purple Rain Protest) và Diễn Bước Hòa Bình (Cape Town Peace March) Nelson Mandela và Tổng giám mục Desmond Tutu đã dẫn dắt nhân dân Nam Phi chấm dứt chế độ kỳ thị Apartheid năm 1994.

Cuối năm 2004 tại Công Trường Độc Lập, thủ đô Kiev nước Ukraine gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, phản đối chính quyền bằng các hình thức biểu tình ngồi, đình công, bãi thị, đòi tự do dân chủ, xóa bỏ gian lận bầu cử v.v... Họ đã thành công trong công cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị, xây dựng một xã hội dân sự, tự do, dân chủ cho đất nước này.

- Đối đầu bất bạo động:

Đây là hình thức đấu tranh đặt nền tảng trên quyền lực, ý chí và sự hy sinh của dân, không dùng vũ khí nhưng dùng số đông quần chúng làm sức mạnh nhằm đạt đến mục tiêu là lật đổ những chính quyền đi ngược lại nguyện vọng của mình. Bất bạo động không phải là không hành động mà chính là hành động nhưng không dùng bạo lực. Nó đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm cao độ và chính nghĩa để có được sự ủng hộ bền bỉ của đại đa số quần chúng.

Từ việc đối đầu bất bạo động, quyền lực của nhà cầm quyền bị đặt vào vị trí thử thách, làm yếu đi sức mạnh của bạo lực đồng thời tăng sức mạnh cho dân cho đến khi bạo lực của nhà cầm quyền bị triệt tiêu chính quyền sẽ phải sụp đổ.

Đối đầu bất bạo động gồm hàng loạt chuỗi đấu tranh bằng hình thức vận động nhân dân đồng loạt xuống đường biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa... thể hiện ý chí phản đối, không tuân lệnh, không cộng tác, bất chấp các định chế của chế độ đương quyền.

Công Đoàn Đoàn Kết là tổ chức then chốt trong việc lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại Ba Lan, được thành lập vào tháng 9 năm 1980 với chủ trương đình công, biểu tình đòi tăng lương, phản đối chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước trên khắp lãnh thổ Ba Lan. Phải mất đến 10 năm với cả ngàn cuộc đình công, biểu tình, 10.131 người bị bắt, 3.616 bị án tù, 9 chín công nhân bị bắn chết và nhiều người bị thương, người dân Ba Lan mới đạt được mục đích của mình là lật đổ chính quyền đương nhiệm thành lập chính quyền mới, tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường tự do, đưa Ba Lan vượt qua những khó khăn bước đầu và dần dần trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển cao.

Cuối năm 2004, tại Công Trường Độc Lập, thủ đô Kiev nước Ukraine gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, phản đối chính quyền bằng các hình thức biểu tình ngồi, đình công, bãi thị, đòi tự do dân chủ, xóa bỏ gian lận bầu cử v.v... Họ đã thành công trong công cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị, xây dựng một xã hội dân sự, tự do, dân chủ cho đất nước này.

Vào đầu thế kỷ 21 người dân tại các nước Trung Đông và Bắc Phi đã kiên trì áp dụng hình thức đấu tranh bất bạo đông để lật đổ các chế độ độc tài lâu đời tại Tunisia, Egypt, Yemen, Sudan...

Gần đây nhất nhân dân Miến Điện sau hơn 50 năm (1962 - 2012) bị cai trị dưới chế độ độc tài quân phiệt đã thành công trong nỗ lực chuyển hóa từ một chế độ độc tài quân phiệt sang chế độ tự do dân chủ. Từ cuộc nổi dậy ôn hòa 8888 chống lại chế độ nhà nước độc đảng được khởi đầu bởi sinh viên tại thành phố Ngưỡng Quảng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, mặc dầu bị đàn áp dã man nhưng từ đó về sau tinh thần này đã lây lan trên khắp đất nước với hàng trăm ngàn người biểu tình đòi cải tổ chính trị, kinh tế và xã hội.... Sau gần 25 năm kiên trì đấu tranh bất bạo động với hàng ngàn người thiệt mạng do sự đàn áp của quân đội, hàng chục ngàn người chịu cảnh tù đày mất mát, người dân Miễn Điện đã thức tỉnh được lương tri của tập đoàn lãnh đạo, làm cho họ chấp nhận thay đổi chế độ để xây dựng tự do dân chủ và kiến thiết đất nước.

- Đối đầu bạo động:

Đối với những chính quyền ù lỳ ngoan cố quyết tâm bám trụ quyền lực chống lại nguyện vọng chính đáng của người dân bằng hành động khủng bố và đàn áp đẫm máu, đưa đến một tình thế một mất một còn giữa hai phe, với tình huống này người dân bắt buộc phải khởi động một cuộc nổi dậy, hoặc tổng nổi dậy để lật đổ nhà cầm quyền dù phải dùng đến biện pháp đối đầu có vũ trang.

Năm 1789 Nhân dân Pháp đã dùng những cuộc biểu tình bạo loạn trên toàn lãnh nước Pháp, phá ngục Bastille, giết vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette để chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế lâu đời tại nước Pháp.

Vào đầu thế kỷ 21 người dân Libya đã phải dùng hình thức vũ trang nổi dậy để lật đổ chế độ độc tài sắt máu của Muammar Al Gaddafi.

Giữa tháng 2 năm 2011, các cuộc biểu tình ôn hòa bắt đầu nổ ra. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan đến thủ đô Tripoli. Chính quyền phản ứng bằng cách ra lệnh cho quân đội và cảnh sát bắn thẳng vào những người biểu tình. Hổn loạn và bạo động diễn ra khắp nước bắt buộc người dân phải xử dụng vũ khí và tổ chức thành đội ngũ để chống lại sự đàn áp tàn bạo của quân đội. Gaddafi thuê chiến binh ngoại quốc tàn sát người biểu tình và ra lệnh cho quân đội sử dụng xe tăng, đại bác, hỏa tiễn, máy bay tấn công quân nổi dậy, xử tử những người biểu tình đang nằm điều trị trong bệnh viện, các sĩ quan quân đội bắn bỏ những quân nhân nào từ chối bắn vào người biểu tình. Càng đàn áp sức kháng cự của nhân dân càng mãnh liệt và cuối cùng với sự hổ trợ của thế giới nhân dân Libya đã chiếm được thủ đô Tripoli, Gaddafi bị lật đổ và bị giết vào ngày 20 tháng 10 năm 2011, sau 42 năm cầm quyền.

Syria là một quốc gia theo chế độ toàn trị do Đảng Baath nắm giữ quyền hành, Hiến pháp 1973 ban cho Tổng thống Assad quyền lực gần như tuyệt đối. Thủ tướng và nội các do Tổng Thống chỉ định mà không cần bất kỳ sự phê chuẩn nào. Bất kỳ ai muốn thành đạt trên con đường hoạn lộ đều phải thông qua Đảng và phải thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Assad. Những công việc béo bở trong chính quyến thường được trao cho thành viên trong gia đình Tổng thống hoặc cho người trong nhóm thiểu số Alawite hay đồng hương với Tổng thống Assad. Chính quyền Assad giam giữ độc đoán, tra tấn dã man, thủ tiêu những người bất đồng chính kiến, kiểm duyệt các websites, cản trở các bloggers, áp đặt các lệnh cấm di chuyển, kiểm soát cư trú và hạn chế đi lại, thành lập Tòa án An ninh Nhà nước Tối cao (SSSC), là một tòa án đặc biệt tồn tại bên ngoài hệ thống pháp lý thông thường để xét xử những người bị cho là gây nguy hiểm tới chế độ.

Ngày 26 tháng 01 năm 2011, hưởng ứng cuộc nổi dậy của các quốc gia trong vùng, dân chúng Syria xuống đường biểu tình đòi chính phủ cải cách chính trị, tôn trọng quyền công dân và bãi bỏ Luật Khẩn Cấp. Chính quyền thẳng tay đàn áp, hàng ngàn người bị bắt và một số người bị bắn chết ngay trong ngày đầu tiên. Để chống lại sự đàn áp của nhà cầm quyền, nhân dân Syria đã liên kết với binh lính đào ngũ thành lập những tổ chức phản kháng bằng vũ trang bởi vì họ biết rằng với chế độ độc tài Assad không thể lật đổ mà không có bạo lực và đổ máu. Do sự ngoan cố của chính quyền Assad, đến nay đã có ít nhất 70.000 người chết. Trong những ngày tới có thể dân Syria sẽ phải hy sinh nhiều hơn nữa nhưng có một đều chúng ta có thể khẳng định được là không sớm thì muộn chế độ độc tài Assad sẽ sụp đổ, Assad và đồng bọn phải đền tội và nhân dân Syria sẽ thành công trong sứ mạng lật đổ chính quyền phản động này.

3. Kết luận cho Việt Nam

Chế độ cộng sản tại Việt Nam như một phiên bản hoàn hảo của các chế độ độc tài trên thế giới gom lại. Con đẻ của nó, nhà nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hậu thân của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa, là một nhà nước độc tài toàn trị tồn tại lâu đời nhất nhì trên thế giới, tính đến nay đã hơn nữa thế kỷ (68 năm).

Sự ra đời cũng như bản chất của nhà nước này là một nghịch lý đối với văn minh tiến bộ của loài người, nó không bắt nguồn từ dân mà do đảng cộng sản Việt Nam dựng lên, không phục vụ cho dân trung thành với tổ quốc mà phục vụ cho đảng trung thành với tư tường Marx-Lê-Mao, không tồn tại bằng thực lực và sự tín nhiệm của dân mà tồn tại bằng bạo lực và giả dối.

Điều 4 trong bản hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và các đều 88, 79 trong bộ luật hình sự của chế độ là những quy định phi nhân, phi pháp chống lại quyền Lật Đổ Chính Quyền là quyền lực chính đáng và cũng là trách nhiệm cao cả của người dân đối với quốc gia và dân tộc.

Ngày nào nhà cầm quyền độc tài, độc đảng này còn tồn tại thì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và toàn vẹn lãnh thổ chỉ là những từ sáo rỗng. Để đạt được những ước mơ đó người dân Việt Nam không còn có lựa chọn nào khác ngoài việc thực thi quyền LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN của mình như các dân tộc trên thế giới đã làm.

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com



Posted on 05/14/2013 8:35 AM

Cuong Nguyen ncuongdieu@yahoo.com

G/Đ A.T.B.Đ VÀ PHIÊN HỌP MỞ RỘNG PHẦN I

G/Đ A.T.B.Đ VÀ PHIÊN HỌP MỞ RỘNG PHẦN II



Posted on 05/11/2013 4:12 PM

The Woman In Black - Sương Phụ Áo Đen

Hoàng Nhất Phương

https://www.youtube.com/watch?v=7lReemWmO5o

Từ ngày vợ qua đời, Arthur Kipps (Daniel Radcliffe) trở thành người lặng lẽ. Thế giới thật sinh động còn tồn tại, hay thế giới đầy màu sắc đã biến mất chẳng ảnh hưởng gì đến chàng luật sư trẻ sớm góa vợ, có đứa con trai bốn tuổi tên Joseph. Arthur thường có cảm giác Stella - vợ của anh - vẫn quấn quýt bên cạnh. Điều lạ lẫm này cùng với công việc mỗi lúc một bế tắc, tiền bạc cạn kiệt dần, khiến anh lúc nào cũng buồn bã, ủ rũ, dáng vẻ phất phơ hoang tưởng như người không còn thuộc về cõi thế. Chính trong lúc này, anh được cử đến một thị trấn ở bờ biển phía đông Crythin Gifford khá xa nhà, để giải quyết việc bán trang viên Eel Marsh House của người phụ nữ đã qua đời tên Alice Drablow. Nhiệm vụ này cũng là cơ hội cuối cùng, để Arthur chứng minh khả năng làm việc của anh với ông chủ. Nếu không thành công, anh sẽ bị mất việc.

Quang cảnh khác thường, sự lạnh nhạt của cư dân sống ở Crythin Gifford khiến Arthur ngạc nhiên. Người ta tỏ vẻ sợ hãi, không muốn giao tiếp khi biết anh đến để tìm cách bán trang viên Eel Marsh House. Một vài người thì thầm khuyên anh hãy "biến" cho nhanh, đừng ở lại đây. Anh cũng nhận ra một điều rất kỳ lạ, thị trấn vắng tanh không hề thấy bóng những đứa trẻ. Chúng bị nhốt trong nhà như tù nhân. Trong lúc gần như thất vọng vì không thể tìm được chỗ trọ qua đêm, Arthur may mắn gặp Sam Daily (Ciarán Hinds) và vợ ông là Elisabeth (Janet Mc Teer), họ đã đón nhận và giúp đỡ anh. Qua câu chuyện trao đổi, Arthur biết con trai của họ bỗng nhiên qua đời. Cái chết bí ẩn của con khiến ông Sam trở thành người hoài nghi, khiến tâm trí bà Elisabeth luôn phiền muộn hoảng loạn.

Arthur không hiểu, vì sao thị trấn lại đắm chìm trong những điều quái lạ như vậy. Cho đến khi anh đi qua vùng đầm lầy quanh năm phủ sương mù tới Eel Marsh House, một trong những bất động sản của dòng họ Drablow. Ngay lập tức Arthur nhìn và nghe thấy những điều dị thường. Ngôi nhà xếp đầy đồ chơi đáng sợ. Những con búp bê bằng sứ lúc nào cũng sẵn sàng thay đổi hình thù, thay đổi vị trí. Tự nhiên ghế rung chuyển như có người đụng đến, tiếng bước chân vang vọng khắp nơi, khi chung quanh không có một bóng người. Và điều đáng sợ hơn cả là sự xuất hiện thần bí của sương phụ áo đen. Người phụ nữ mặc y phục màu tang này lúc xuất hiện trong cửa sổ, lúc thoắt ẩn thoắt hiện ở xa. Cố gắng tìm hiểu mối quan hệ giữa dân làng cùng gia đình Drablow, Arthur tìm thấy bằng chứng về một điều xấu có tác hại lớn lao đã ngự trị trong Eel Marsh House, kể từ khi chủ nhân qua đời.

"The Womanin Black - Sương Phụ Áo Đen" là bộ phim kinh dị dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên, xuất bản năm 1983 của nữ văn sĩ Susan Hill. Tác phẩm của bà Hill từng được chuyển thành kịch diễn trên sân khấu, thành phim chiếu trên đài truyền hình do Herbert Wise đạo diễn, Central Television và ITV Network sản xuất năm 1989. Bộ phim thành công ngoài sức tưởng tượng của mọi người, trở thành một trong những phim truyền hình danh giá của thập niên 1980. Giờ đây, dưới bàn tay phù thủy của đạo diễn James Watkins, "The Woman in Black" được tái hiện trên màn bạc, làm sống dậy cảm giác sợ hãi rùng rợn trong một thị trấn dư dầy không khí ma quái, nơi qủy dữ chiếm đóng, quyết giết trẻ em để trả thù. Cuộc viếng thăm bất ngờ của Arthur đã làm sống dậy chiến dịch "oan oan tương báo" khủng khiếp này.

Công ty Hammer Films của Anh Quốc rất nổi tiếng vì đã sản xuất những bộ phim kinh dị mang phong cách Gothic "Hammer Horror" như loạt phim "Frankenstein," "Dracula," "The Mummy," trong thập niên 1950, 1960, 1970. Khán giả không ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng tối âm u của “Frankenstein,” của "Dracula" trong "The Womenin Black," vì Hammer Films đóng vai trò sản xuất. Jame Watkins - người từng đạo diễn thành công "TheDescent 2," "Eden Lake" - đã mang thế giới kinh dị đầy bóng tối của ma qủy dàn trải trong "The Women in Black," khiến khán giả phải lạnh sống lưng, nổi da gà. Nhất là khi vai chính do Daniel Radcliffe - cậu bé phù thủy Harry Potter - đảm nhiệm. Bỏ lại đằng sau hình ảnh cậu bé phù thủy Harry Potter đeo cặp kính tròn thật hồn nhiên thật dễ thương của tuổi thơ, Daniel Radcliffe đã thành công khi hoá thân làm luật sư Arthur Kipps, nhân vật có bối cảnh cá nhân và tuổi đời rất chênh lệch với số tuổi 18 của anh.

Với ngân sách dàn dựng khiêm tốn chỉ có $15 triệu, tính đến nay tổng doanh thu của "The Woman in Black" là $127.730.736 mỹ kim, con số không nhỏ cho thấy thương hiệu Hammer Films vẫn được khán giả ưa thích, và ở chừng mực nào đó chứng tỏ Daniel Radcliffe đã thực hiện tốt vai diễn của anh. Thành công lớn nhất của "The Woman in Black" chính là bối cảnh dàn dựng cho trang viên Eel Marsh, nơi chốn đi về của hồn ma bóng quế. Trong khói sương mù, ngay cả giữa ánh sáng ban ngày, ngôi nhà trông rất quái đản. Có thể nói đây là ngôi nhà ma ám hãi hùng nhất của thể loại phim kinh dị. Khán giả bị cuốn hút vào cuộc ân oán khó hiểu giữa kẻ chết và người còn sống, giữa hệ lụy đời thường và cõi âm. Câu chuyện-thời gian-không gian thật điêu tàn…Khiến nỗi bất hạnh của vay trả trả vay, trở thành nhân quả không bao giờ dứt trên bến luân hồi thương cảm. Sống như thế nào, để khi xuôi tay nhắm mắt có thể buông xả tất cả mọi buồn-vui-sướng-khổ là điều mà "The Woman in Black" muốn nói, khi đưa lên màn bạc một phận người đến chết vẫn chưa nguôi nỗi hận.

Hoàng Nhất Phương

Nguồn: danluan.org



Posted on 05/10/2013 10:44 AM

Giáo dục – nền tảng phát triển xã hội

Charlie Nguyễn

Điểm qua những phát minh khoa học, nghiên cứu kinh tế, và sáng tác văn chương nổi tiếng từ hơn thế kỷ qua, hầu hết các giải thưởng Nobel đều thuộc về Âu-Mỹ. Cộng thêm vào đó là cả hàng trăm nếu không nói là hàng ngàn tác phẩm về những nghiên cứu xã hội, chính trị, giáo dục … được in ấn hàng năm. Tại sao? Có nhiều yếu tố như môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất, đầu tư của chính phủ … là những yếu tố quan trọng, nhưng chắc chắn môi trường và phương cách giáo dục đã góp phần rất lớn.

Triết gia người Mỹ John Dewey đã nhận định về giáo dục: “Giáo dục là một quá trình sống chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai;” hay nói khác hơn: “Giáo dục không phải là để chuẩn bị vào đời, nhưng giáo dục chính là cuộc đời.” Ở hầu hết các nước văn minh của thời đại, cuộc sống con người hàm chứa những giá trị nhân phẩm và quyền con người như đã được xác định trong bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Chính vì thế, ngay từ bé trẻ em ở Âu-Mỹ được dậy sống bản Tuyên ngôn Quốc Tế về con người. Mỗi con người là một cá thể độc lập phải được tôn trọng; mỗi con người cần sống và thể hiện quyền dân chủ của mình. Trẻ em được khuyến khích suy nghĩ độc lập và nói lên suy nghĩ của mình; tham gia vào các cuộc bàn thảo, tranh luận với các thầy cô và bạn bè. Ngay từ phổ thông cấp I, các cháu đã được tập làm những bài luận phê bình một sự kiện hay một tin sốt dẻo trình chiếu trên đài truyền hình. Các trường trung học đều có ban báo chí do học sinh đứng ra điều khiển dưới sự hướng dẫn của một giáo viên. Không ngạc nhiên khi chúng ta thấy các bài viết phê bình rất thẳng thắn về các môn học, về nhà trường, và ngay cả phê bình các ứng cử viên Quốc hội và cả Tổng Thống nữa. Hẳn nhiên là các bài viết có sự kiểm duyệt của giáo viên hướng dẫn để tránh lời lẽ khiếm nhã nhưng nội dung các bài viết đều là của học sinh.

Học sinh được dậy sống dân chủ ngay trong nhà trường, điển hình cụ thể nhất là các cuộc bầu cử chọn lựa ban chấp hành đại diện cho học sinh toàn trường. Em nào ra ứng cử đều phải tổ chức các buổi nói chuyện để vận động cho chính mình. Những ứng viên đạt đủ số phiếu sau vòng đầu sẽ phải tranh luận với nhau trước ngày bầu cử – rất sôi nổi, thể hiện rõ tinh thần dân chủ.

Trong tinh thần giáo dục của triết gia Dewey, không có trường Đại học nào ở Mỹ phân biệt tuổi tác hoặc Tôn giáo, màu da, chính kiến. Đặc biệt là các trường Đaị học Cộng đồng luôn có rất nhiều chương trình dành cho những người lớn tuổi, giúp họ tiếp tục tìm hiểu, đào sâu thêm về nghệ thuật, ngôn ngữ, âm nhạc, triết học, điện toán … những môn học mà họ không có điều kiện tìm hiểu khi còn nhỏ. Bởi vì giáo dục là cuộc sống, mọi người được khuyến khích học hỏi như Mahatma Gandhi nói: “Hãy sống như ngày mai ta sẽ chết, và học như ta sẽ sống muôn đời.”

Trẻ em được dậy sáng tạo. Không hề có chuyện phải học thuộc lòng từng câu từng chữ. Quan điểm giáo dục ở nhà trường Âu-Mỹ là giúp trẻ em hiểu đề tài và có thể diễn tả đề tài đó theo sự hiểu biết của mình chứ không phải lập lại những gì đã được viết ra. Mục đích giáo dục không phải là học thuộc lòng vì như Jiddu Krishnamurti nhận định những gì ta nhớ do học thuộc lòng, đọc hoặc nghe chỉ là thông tin (information) thôi, những gì chúng ta suy luận và khám phá ra từ những thông tin đó mới là kiến thức. Và nói như Steve Jobs, cố giám đốc công ty Apple, một trong những nhà tiên phong, cha đẻ của thế giới điện toán hôm nay “Sáng tạo là nối kết các sự kiện với nhau. Nếu bạn hỏi người sáng tạo làm thế nào để sáng tạo, họ sẽ hơi xấu hổ vì họ thực sự không làm gì cả, họ chỉ thấy nó như thế. Sáng tạo là điều hiển nhiên với họ bởi vì họ có thể nối kết và tổng hợp những trải nghiệm họ có.” Nói tóm lại sáng tạo là điểm đích nối kết của những kiến thức đã được trải nghiệm. Như thế, sáng tạo cũng như giáo dục – cần phải được trải nghiệm, phải được sống.

Khác hẳn với Âu-Mỹ, nền giáo dục VN vẫn đặt nặng vấn đề học thuộc lòng, và vâng lời là điều quan trọng. Vô lớp không được ý kiến ý cò, thầy cô nói sao thì phải nghe vậy. Quan điểm “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” là tốt nhưng có phần thái qúa. Trẻ em ở VN chắc chắn sẽ được bố mẹ cho ăn đòn nếu cãi thầy cô, không cần biết lý do.

Trong những năm qua đẻ ra tệ nạn học thêm lan tràn khắp nước vì không học thêm chắc khó có thể lên lớp được. Giáo dục trở thành thương mại. Là cha mẹ chúng ta phải sửng sốt khi con em mình học ngày học đêm, đúng là một cực hình so với thời chúng ta còn cắp sách đến trường. Thực sự con em chúng ta học những gì và điều chúng học có đem lại lợi ích gì cho chúng và cho xã hội không?

Thay vì dậy trẻ em cách suy tư và sáng tạo, nền giáo dục Việt Nam chỉ toàn nhai đi nhai lại mớ kiến thức đã cũ. Không có một tí sáng tạo nào bởi vì đó là mục đích của đảng CS. Viết một bài văn phải viết theo tinh thần cách mạng, theo đường hướng của ban giáo dục đề ra, chỉ có tư tưởng của đảng CS mới là đỉnh cao trí tuệ … Thế thì lấy đâu ra sáng tạo khi trẻ em phải viết thuộc lòng, bị đóng khung suy nghĩ của mình như thế? Viết khác với đường hướng tư tưởng của đảng là phản động, là thế lực thù địch, là ngồi tù; sống như thế làm sao có sáng tạo? Nếu để ý đến các bài phát biểu của các cán bộ lãnh đạo, chúng ta sẽ ghi nhận ngay lối giáo dục thuộc lòng đã ăn xâu trong não trạng của đảng – từ TBT, CTN, TT đến chủ tịch UBNN quận, phường, họ phát biểu xôi nổi cả tiếng, thao thao bất tuyệt … nhưng hầu hết là những luận điệu y như nhau, những từ ngữ giao to búa lớn, những giáo điều như nhau.

Nếu sự tưởng tượng là khởi điểm của suy tư sáng tạo như Albert Einstein nói thì con em chúng ta đã và đang bị nền giáo dục đảng trị bóc lột một cách tàn nhẫn. Làm sao con trẻ có thể tưởng tượng khi chúng không được phép nói lên suy nghĩ của chúng; khi chúng bị gò ép phải nhớ những gì đảng ghi chép trong sách giáo khoa cho dù đó là những điều xuyên tạc. Đối với người lớn cũng thế. Làm sao chúng ta có thể tưởng tượng khi chúng ta không được nói; không được viết suy nghĩ của mình cách công khai; không được đọc, nghe, xem những gì ngoài sự quản lý của đảng.

Một xã hội không thể có dân chủ thực sự nếu dân trí còn thấp kém. Muốn phát triển dân trí chúng ta cần một nền giáo dục nhân bản và dân chủ tốt. Giáo dục và dân chủ luôn đi đôi với nhau, cùng chung một mục đích là đào tạo những con người toàn diện, điều không thể thiếu cho sự phát triển xã hội. Trong khi đó chủ trương của đảng CSVN là tạo dựng một nền giáo dục phi dân chủ với mục đích duy trì vị thế đảng trị của họ. Giáo dục phi dân chủ biến sự giả trá thành sự thật, cái rất bất thường trở thành cái rất bình thường – tham nhũng sẽ không còn là tham nhũng nhưng là một loại bổng lộc được xã hội chấp nhận; làm hàng giả, ăn cắp nhãn hiệu của người khác là chuyện bình thường; đè đạp nhau bất chấp mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang xã hội không còn là việc làm gian sảo nhưng là việc làm của người khôn ngoan trong xã hội; cướp đất của dân không còn là tội phạm nhưng là sự nghiệp lãnh đạo làm giầu.

Giáo dục phi dân chủ không chỉ bóp chết sự sáng tạo cần thiết cho công cuộc phát triển xã hội đất nước, nhưng nguy hiểm hơn nữa, nó bóp chết luôn nền tảng đạo đức nhân bản, và tạo nên những thế hệ ù-lỳ chỉ biết chấp nhận, vâng phục.

© Charlie Nguyễn

Nguồn: http://www.danchimviet.info



Posted on 05/09/2013 11:57 AM

Chính nghĩa và phi chính nghĩa của những cuộc biểu tình

Võ Long Ẩn

Hai chữ “biểu tình” được Paul Huỳnh Tịnh Của trình bày trong Việt Nam Quốc Âm Tư Vị như sau: Biểu: Biểu dương lực lượng; Tình: Tình nguyện hợp sức; nghĩa là biểu dương sức mạnh đồng tình hợp lực để đối kháng với chính quyền áp đặt chính sách cai trị hà khắc với dân chúng, hay với chủ nhân các tập đoàn tài phiệt bóc lột công nhân, v.v.

Những cuộc biểu tình chính nghĩa đã đạt được thành công, theo ý nguyện của nhân dân, lật đổ được chính quyền. Gồm có các cuộc biểu tình chống chế độ tài của tổng thống Phi Luật Tân cai trị đất nước trên 30 năm.

Những cuộc biểu chống lãnh đạo độc tài của Nam Dương, TT Suharto cai trị trên 32 năm và gần đây các cuộc biểu tình của các quốc gia trong phong trào “Cách Mạng Hoa Lài” thuộc các quốc gia Trung Đông, Bắc Phi v.v.

Những cuộc biểu tình phi chính nghĩa đã trở thành trò hề, trò bạo động gây bất an cho cuộc sống yên lành cho dân tộc cho nhân loại nói chung. Đó là những cuộc biểu tình đập phá ở, đốt nhà cửa xe cộ tài sản của người dân vô tội như ở Anh quốc ở Pháp v.v. Hay cuộc biểu tình ở đội quân Áo Đỏ ở Thái Lan các cuộc biểu tình này luôn bị dập tắt.

Quay lại lịch sử biểu tình tại miền Nam Việt Nam, trong thời gian chiến tranh khốc liệt, quân dân miền Nam chống sự xâm lăng của quân đội CS Hà Nội thì tại hậu phương, những tên vô loại đã làm tay sai cho cộng sản phát động những cuộc biểu tình không ngoài mục đích lật đổ chính quyền của Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà cho tới ngày 30-4-75.

Từ vĩ tuyến 17 trở vào không một tỉnh thành nào không bị khuấy phá liên tục: biểu tình, xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu ký giả đi ăn mày, tổ chức báo nói của nhóm dân biểu phản động “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản” gồm: Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Võ Long Triều, Ngô Công Đức, Phan Xuân Huy (đảng viên cộng sản nằm vùng) …

Các cuộc biểu tình được phát động như sau.

Năm 1963



Biểu tình ủng hộ tướng lãnh đao chánh; đòi xử tử hai ông Diệm Nhu.
Nguồn: Douglas Pike Photograph Collection – Vietnam Center and Archive.

Ngày 8-3- Phật tử biểu tình trước đài phát thanh Huế, đòi phát thanh bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang

Ngày 30-5, Phật tử biểu tình trước trụ sở Quốc Hội ở Saigon chống đàn áp Phật Giáo. Cũng trong ngày Phật tử biểu tình và tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ tại Huế, chống đàn áp Phất Giáo.

Ngày 31 tháng 5 tăng ni phật tử biểu tình tại Quảng Trị, chống đàn áp Phât Giáo

Ngày 2-6 Tăng Ni Phật tử biểu tình tại Nha Trang, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 3 -6 Tăng Ni, Phật Tử biểu tình la hét ném đá trước toà đại biểu chính phủ tại Huế, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 4-6 Phật tử biểu tình bạo động tại Huế, Chống đàn áp Phật Giáo

Ngày 7-6, phật tử biểu tình bạo động tại Đà Lạt chống đàn áp Phật Giáo

Ngày 11-6, tăng ni quỳ tụng kinh tại ngã tư Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt Saigon, Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, Chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 16-6, tăng ni Phât tử xuống đường bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 30-6 tăng ni Phật Tử xuống đường bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 3 tháng 7, tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình tại Saigon, Đà Lạt,Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, chống đàn áp Phật Giáo và kỷ niệm thất tuần của Hoà Thương Thích Quảng Đức tự thiêu.

Ngày 13-8 tăng ni Phât tử biểu tình tại Huế đòi đưa quan tài của Đại đức Thích Thanh Trực đi tuần hành ngoài đường phố. (Chính quyền địa phương muốn rằng đám tang của Đại Đúc tự thiêu được cử hành trong chùa).

Ngày 23-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon chống đàn áp Phật Giáo. (Sau vụ Cảnh sát Dã Chiến và Lực Lượng Đăc Biệt tấn công các chùa đên 20-8)

Ngày 25-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo. Và đòi thả những sinh viên, học sinh bị bắt. (tuớng Đính ra thông báo : (Tướng Tôn Thất Đình, tổng trấn Saigon họp báo lên án sinh viên học sinh làm loạn, và cho biết khoảng hơn 1,300 sinh viên học sinh đã bị bắt giữ)

Ngày 7-9 Phật tử, sinh viên xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon chống đàn áp Phật Giáo. (tuớng Đính ra thong báo : “Sinh viên học sinh bị bắt trong các vụ xuống đường bạo động, nếu vị thành viên thì cho vào trại cải huấn,nếu thành viên thì cho vào trại Quang Trung làm binh nhì”)

Ngày 9-9 Phật tử sinh viên xuống đường biểu tình bạo động chống đàn áp Phật Giáo, và chống đàn áp sinh viên học sinh.



Biểu tình sau cuộc đảo chánh 1/11/1963.
Nguồn: Douglas Pike Photograph Collection – Vietnam Center and Archive.

Năm 1964. Này 16 tháng 8 hiến chương Vũng Tàu được công bố.

Ngày 19-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường tại Saigon chống đốc tài Nguyễn Khánh, chống dư đảng cần lao

Ngày 20-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao.

Ngày 21-8 phật tử và sinh viên Phật tử xuống đường biểu tình tại Huế chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao.

NGày 22-8 Phật tử sinh viên xuống đường biểu tình tại Saigon, chống độc tài Nguyễn Khánh, chống dư đảng Cần Lao đòi tự do dân chủ.

Ngày 23-8 Phật tử và sinh viên học sinh xuống đường biểu tình trước đài phát thanh Saigon, chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao, đòi hủy bỏ sắc luật tuyên bố tình trạng khẩn trương (ban hành ngày 7-8)

Ngày 23-8 tăng ni, Phật tử xuống đường biểu tình trước viện Hóa Đạo Saigon, đòi tự do hành đạo, đòi loại bỏ những phần tử chống Phật Giáo trong chính quyền, và đòi tân diệt dư đảng Cần Lao.

Ngày 24-8 Phật tử và sinh viên, học sinh xuống đường tại Saigon chống độc tài Nguyễn Khánh, và tố cáo Mỹ can thiệp vào nội bộ VN.

Ngày 24-8 Phật tử và sinh viên xuống đường tại Huế chống độc tài Nguyễn Khánh, đả đảo Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (hội đồng này là hậu thân của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mang năm 1963).

Ngày 25-8 Phật tử sinh viên học sinh tụ họp tại bùng binh chợ Bến Thành (còn được gọi là công trường Quách Thị Trang) chống độc tài Nguyễn Khánh. Sau đó đám đông kéo đến phủ chủ tịch ở đường Thống Nhất, đả đảo độc tài Nguyễn Khánh, đả đảo hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng và đòi Nguyễn Khánh từ chức. Đám đông kéo đến đài phát thanh, tràn vào bên trong, định phát thanh tuyên ngôn chống Nguyễn Khánh nhưng đã bi nhân viên công lực giải tán.

Ngày 25-8 một đám người tấn công làng Thanh Bồ, Đà Nẳng môt làng đa số người công giáo. Hai bên xô xác có người chết và bị thương.
(Ngày 26-8 Hội Đồng Quân Đội Cách thu hồi bản hiến chương Vũng Tàu)

Ngày 27-8 Tam đầu chế Nguyễn Khánh, Trần thiện Khiêm, Dương Văn Minh ra đời thay thế cho Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng

Ngày 27-8 Công Giáo biểu tình trước cổng bộ Tổng Tham Mưu, chống cộng sản, chống trung lập và chống những phần tử phá rối.

Ngày 28-8 Phật tử và sinh viên xuống đường chống độc tài Nguyễn Khánh. Thanh niên Công Giáo, cũng xuống đường chống những kẻ phá rối trật tự an ninh và yêu cầu chính quyền tại lập trật tự, hai bên xô xát, có người chết và bị thương.

Nggày 21-9 Phật tử và sinh viên xuống đường bạo động tại Huế và Quy Nhơn, đả đảo độc tài và lùng bắt dư đảng Cần Lao, đám đông chiếm đài phát thanh.

Ngày 26-9 Phật tử xuống đường tại Quy Nhơn chống độc tài Nguyễn Khánh và chống Mỹ.

Ngày 4-10 Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc của Thượng toạ Trí Quang do bác sĩ Lê Khắc Quyến chủ tịch, nhóm họp đầu tiên tại Huế. Ngày 30-10 cụ Trần Văn Hương được chỉ định làm thủ tướng. Nội các Trần Văn Hương ra mắt ngày 4-11.

Ngày 6-11 Phật tử xuống đường tại Saigon chống chính phủ Trần Văn Hương

Ngày 10-11, Phật tử xuống đưòng bạo động tại Saigon chống chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 13-11 Phật tử xuống đường tại Saigon, đòi thủ tướng Trần Văn Hương từ chức.

Ngày 22-11 Phật tử và sinh viên xuống đường tại Saigon, tố cáo chính phủ Trần Văn Hương phản cách mạng và dung dưỡng “bọn Cần Lao ác ôn”

Ngày 24-11,Phật tử và sinh viên xuống đường chống chính phủ Trần Văn Hương

Ngày 25-11 Phật tử và sinh viên xuống đường đả đảo chính phủ Trần Văn Hương và kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ chính phủ Trần Văn Hương. Khoảng 2000 Phật tử dựng chướng ngại vật trước trụ sở Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, dùng đá gậy cầm cự với cảnh sát. Một thanh niên bị bắn chết.

Ngày 18-11 Tăng ni Phật tử sinh viên xuống đường bạo động tại Saigon, đám đông khiên quan tài thanh niên “bị bắn chết ngày 25-11) hò hét đả đảo Trần Văn Hương. Cảnh sát bắt được 20 người có khí giới trong mình. Đám tang bèn ngồi bệt xuống đường để phản đối dư đảng Cần Lao trong chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 10-12 các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất ra thông bạch sẽ chống chính phủ Trần Văn Hương cho tới cùng và cảnh cáo Mỹ can thiệp vào nội bộ VN. Thông bạch còn lên án Thủ tướng Trần Văn Hương về bốn tội sau đây: Dùng những phần tử của chế độ Diệm, triệt hạ những tờ báo của Phật Giáo, bắt công chức phải khai rõ tôn giáo của mình nhằm mục đích loại bỏ Phật tử ra khỏi guồng máy chính quyền, phỉ bang Phật Giáo. Thủ tướng Trần Văn Hương đã có lần gọi những nhà sư xuống đường là “bọn đầu trọc làm trò khỉ”

Ngày 12-12 thủ tướng Trần Văn Hương lên đài phát thanh tuyên bố lý do tại ông bị phật giáo chống đối: “Phật Giáo đưa danh sách một số tổng bộ trưởng, bắt tôi phải chấp nhận vào nội các của tôi. Tôi không chấp nhận. Bởi vì, tôi không thể chấp nhận một quốc gia trong một quốc gia”

Năm 1965



Phật tử biểu tình ở Huế, 1966.
Nguồn UPI, Nguyễn Thanh Tài

Ngày 17-1, Phật tử xuống đường bạo động bạ tại Huế, Đà Lạt đòi lật đổ chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 20-1 Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Thượng toạ Thích Tâm Châu, Thượng tọa Trí Quang đồng tuyệt thực đòi lật đổ chính phủ Trần Văn Hương. Ba vị lãnh đạo tuyên bố sẽ tuyệt thực cho đến chết, nếu thủ tướng Trần Văn Huơng không từ chức…

Những nhân vật lãnh đạo các cuộc xuống đường, bạo động, nổi loạn, biểu tình không ngoài mục đích “lật đổ tất cả các chính Phủ của VNCH”. Nhưng những cuộc biểu tình phi chánh nghĩa đã không lật đổ nổi chính phủ của hai nền Cộng Hoà của miền Nam.

Nền đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ do tập đoàn tướng lãnh tay sai nhận tiền của Mỹ, vì háo danh, ham tiền (3triệu đồng tiền VN) để chia chác với nhau. Tranh nhau quyền lực đó là thời kỳ hỗn quan, hỗn quân đen tối nhất tong chính trường miền Nam.

Nền đệ nhị Cộng Hoà sụp đổ vì Dương Văn Minh, tay điệp viên nằm vùng; dinh Hoa lan là mật khu an toàn chứa chấp những cán bộ, điệp viên cao cấp, Việt cộng nằm vùng…

Những trí thức Phật tử lãnh đạo các cuộc biểu tình một số đã qua đời, số đông hiện còn sống hiện đang ẩn trốn. Trong lúc đất nước lâm nguy đã và đang bị tập đòan cộng sản, thái thú, dâng hiến cho Tàu cộng.

Những trí thức Phật tử, những người có thừa kinh nghiệm xuống đường trên các đường phố của miền Nam nay ở nơi đâu? Sơn hà đang nguy biến.



Phụ nữ biểu tình chống chính phủ quân nhân (Nguyễn Cao Kỳ) và phản đối Mỹ không cho triệu tập quốc hội, 1966.
Nguồn AP.16-3-2013

Nguồn: © 2013 DCVOnline

Tham Khảo:
- Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử, nhà xuất bản Alpha, 6771 Wilson BLVD Fall Church Hoa Kỳ.
-Lý Quý Chung, Hồi ký Không Tên, nhà xuất bản Trẻ phát hành tháng 12 năm 2004 tại Saigon



Posted on 05/09/2013 11:35 AM

Tiểu Psy và giấc mơ mọi loài xác thịt

Đào Tuấn

Có khi nào bạn nổi giận khi trên báo chí nước ngoài, những cô gái đồng bào của bạn được quảng cáo như những con thú cảnh, “lẳng lơ và cực rẻ”



Hwang Min-Woo, tiểu Psy.

Sau khi nổi như cồn với sự xuất hiện trong Video Gangnam Style, cậu bé 8 tuổi Hwang Min Hoo đang phải đối mặt với sự bôi nhọ ác ý chưa từng thấy. “Một đứa con lai thấp kém”, “Đừng nghĩ rằng một người như nó có thể sống ở đây”…

Các bạn sẽ hỏi tôi rằng vì sao một ngôi sao nhí của K pop, người được gọi là “Tiểu Psy” lại bị kỳ thị nặng nề đến như vậy? Câu trả lời: Tiểu Psy có mẹ là một người Việt Nam.

Câu chuyện của Tiểu Psy không chỉ là sự kỳ thị mang tính chất cá biệt của một nhóm người, như những người Hàn thanh minh. Cũng hoàn toàn không phải là chuyện của cá nhân cậu bé. Chắc chắn thế. Bởi không thiếu những từ ngữ dành cho người Việt. “Bẩn thỉu”, hay “Negrito”, những từ ngữ xúc phạm đến nỗi chúng ta không dám tra nghĩa. Bởi không thiếu những ánh mắt “hình dấu hỏi” khi bạn trình một tấm hộ chiếu Việt Nam.

Tôi nhớ lại sự kỳ thị mà cậu bé 8 tuổi đang phải chịu đựng khi hôm nay đọc trên VietNamNet lời tâm sự của một người lao động Nghệ An đã phải hàng tháng giời rong ruổi qua hết công ty nọ đến công ty kia để tìm việc làm. Ước mơ có được một việc làm giản dị đến nỗi rất nhẫn tâm nếu gọi đó là một ước mơ. Nhưng điều mà anh nhận lại, chỉ là những cái lắc đầu, những cái nhìn thiếu thiện cảm, những khuôn mặt ban đầu tươi cười sau đó “biến sắc lạnh lùng”. Tốt hơn một chút thì là những lời khuyên, chân thành nhưng đầy ngậm ngùi: “Công ty này không nhận người Nghệ An con ơi!” Sự kỳ thị nặng nề đến mức những ông giám đốc người nước ngoài đang điều hành doanh nghiệp trên đất Việt cũng bị ảnh hưởng, cũng dị ứng ngay cả với những từ ngữ đơn thuần “Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh”.

Có khi nào bạn bị tổn thương trước một tấm biển cấm chó, và cấm người Việt?



Guaranteed virgin!

Có khi nào bạn nổi giận khi trên báo chí nước ngoài, những cô gái đồng bào của bạn được quảng cáo như những con thú cảnh, “lẳng lơ và cực rẻ”?

Có khi nào bạn phẫn nộ vì một ông chủ nhà hàng ở Vũng Tàu hay chính giữa Thủ đô, “đóng sập cửa trước mũi” chỉ vì bạn là người Việt?

Có khi nào bạn tự hỏi vì sao người Việt lại bị kỳ thị ở khắp nơi?

Nếu bạn thấy bị tổn thương, giận giữ, phẫn nộ trước những điều chướng tai gai mắt mà thực chất chính là sự kỳ thị đối xử bất công đó, bạn sẽ hiểu được tình cảm của những lao động Thanh – Nghệ – Tĩnh đang bị chính những đồng bào của họ đối xử ngày hôm nay, ngay trên đất nước mình.

Hôm qua, thưa các bạn, hai lao động người Việt, quê ở Hà Tĩnh đã chết sau một vụ tai nạn thảm khốc trên đất Thái. Do Việt-Thái chưa có hiệp định hợp tác lao động, những lao động Việt Nam đang phải kiếm cơm chui với một thị thực du lịch phải đổi sau mỗi 30 ngày.

Có khi nào vì bị kỳ thị trên quê hương mình, nặng nề đến nỗi họ phải phiêu bạt, chui nhủi xứ người cũng chỉ là để, một cách lương thiện, kiếm miếng ăn nuôi vợ dại con thơ?

Trong bài diễn văn “tôi có một ước mơ” phát biểu những năm 60 của thế kỷ trước, có một từ là “Mọi loài xác thịt”. Và vì ai cũng chỉ là một “loài xác thịt” bình đẳng như ai, cho nên, Mục sư Luther King đã nói đến một ngày “con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ”. Lẽ nào, ước mơ bình đẳng của Luther King giờ đây vẫn còn phải nhắc đến trước những câu chuyện đau lòng về kỳ thị giữa những người chung bọc xứ này?

Nguồn: Tiểu Psy và giấc mơ mọi loài xác thịt. Đào Tuấn



Posted on 05/09/2013 10:44 AM

Tôi không chống Cộng

Nguyễn Hưng Quốc - Theo VoA blog

Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản. Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốn Communism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin, cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm. Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay, có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng, chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước. Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm. Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia. Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết - tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy, chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trịtất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định. Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả - sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?” Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ - những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ - những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán. Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore). Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước. Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.


Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm: Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

1-Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
2-Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
3-Như trên.
4-Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
5-Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”, Annu, 1999, tr. 329.
6-Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
7-Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
8-Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
9-Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Opposition số 37, 2002, tr. 551-572.

Nguồn: Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc



Posted on 05/03/2013 11:52 PM

Trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?

Nguyễn Gia Kiểng - E ThongLuan

Nhiều nguồn tin cho thấy là đang có dự định bỏ tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp cũng đã ghi nhận đề nghị này như một trong những vấn đề để biểu quyết với nhận xét thuận lợi. Nếu đúng như thế thì chỉ là thay thế một sai lầm bằng một sai lầm lớn hơn.

Bỏ quốc hiệu CHXHCNVN là việc phải làm bởi vì nó loại trừ những người không tán thành chủ nghĩa xã hội, nghĩa là gần như tất cả mọi người Việt Nam hiện nay. Nó là một thách đố xấc xược đối với dân tộc Việt Nam. Hơn nữa chủ nghĩa xã hội, hay chủ nghĩa Mác – Lênin, đã bị thế giới vất bỏ như một chủ nghĩa tội ác. Trên thế giới hiện nay Việt Nam là nước duy nhất còn tự xưng là "cộng hòa xã hội chủ nghĩa" (1).

Tuy vậy, trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chọn lựa khó tưởng tượng.

Cụm từ "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" trước hết là một sai phạm về ngữ pháp ở thời điểm 1945 khi ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc trên tiếng Việt còn quá nặng. Ngày nay cách viết tiếng Việt như vậy là sai, cũng sai như nếu viết "Đức Dân Chủ Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Dân Chủ Đức hay "Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, điều mà chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã nhận ra từ lâu rồi. Cụm từ sai ngữ pháp này là do ông Hồ Chí Minh ở nước ngoài quá lâu nên không còn nắm vững tiếng Việt, cũng như như hai tiếng "đả đảo", có nghĩa là "đánh đổ", chưa từng có trong ngôn ngữ Việt Nam mà ông du nhập từ Trung Quốc cùng một lúc. Duy trì một sai lầm ngữ pháp ngay trong quốc hiệu không khác quệt một vết nhọ trên mặt.

Hơn nữa những thuật ngữ "dân chủ cộng hòa", "cộng hòa dân chủ", "cộng hòa nhân dân" cũng có nghĩa chính trị rõ rệt của chúng. Đó là những thuật ngữ đồng nghĩa được Liên Xô chế tạo ra dưới thời Stalin để chỉ các chế độ cộng sản hoặc thân cộng, để chống lại cái mà họ gọi là "dân chủ tư bản", nghĩa là dân chủ như cả thế giới chấp nhận hiện nay và chúng ta cũng đang muốn tiến tới. Dùng quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là phủ nhận dân chủ ngay trong tên nước. Về nghĩa chính trị "dân chủ cộng hòa" và "xã hội chủ nghĩa" chỉ là một. Điều này cả thế giới biết. Sự kiện một số trí thức dân chủ, điển hình là nhóm Kiến Nghị 72, đề nghị trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một điều rất đáng tiếc.

Nghiêm trọng hơn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là quốc hiệu của một chế độ hung bạo đã phạm nhiều tội ác lớn.

Ngay sau Cách Mạng Tháng 8, nó đã tàn sát thẳng tay hàng trăm nghìn người yêu nước trong các đảng phái không cộng sản, gây đổ vỡ lớn trong dân tộc và khiến cuộc đấu tranh giành độc lập trở thành nhiều lần khó khăn và đẫm máu hơn vì bị đồng hóa với cuộc đấu tranh áp đặt chủ nghĩa Mác-Lênin. Rất nhiều người tham gia mặt trận Việt Minh đã phải quay lưng lại với nó vì tính mạng của họ bị đe dọa và chủ nghĩa đã được đặt lên trên lợi ích dân tộc. Những năm đầu của giai đoạn kháng chiến 1945 – 1954 đã là những năm kinh hoàng. Khẩu hiệu lúc đó "giết nhầm còn hơn tha nhầm". Người ta có thể bị giết vì bị tình nghi là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt và người ta cũng có thể bị giết chỉ vì trong người có cái gương nhỏ để chải đầu hay có miếng vải mầu xanh hay mầu đỏ vì bị kết tội là làm dấu hiệu cho máy bay hay mang cờ Pháp. Không có mục tiêu nào dù cao cả đến đâu có thể biện hộ cho những tội ác này, huống chi đây là cuộc chiến tranh đáng lẽ không có, hay dù có cũng dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, nếu chủ nghĩa Mác – Lênin không được đặt cao hơn tổ quốc. Ngày nay nhiều vị cách mạng lão thành biện luận rằng họ đã chỉ đi theo kháng chiến vì độc lập dân tộc. Họ có thể thành thực nhưng đó không phải là lập trường của những người lãnh đạo cộng sản, nghĩa là những người quyết định tất cả.

Ngay sau Hiệp Định Genève là cuộc tàn sát những người bị coi là thuộc thành phần địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất. Họ bị giết không phải vì đã làm gì bị coi là có tội mà chỉ vì bị xếp loại là thuộc thành phần địa chủ. Ai có thể quên được câu "thơ" Tố Hữu "giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ"? Theo cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam" do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản năm 2009 con số nạn nhân bị thảm sát được ghi nhận là 172.008 người. Một con số kinh khủng. Theo định nghĩa của công pháp quốc tế đây là một tội ác lớn đối với loài người.

Rồi đến chiến dịch đàn áp trí thức văn nghệ sĩ, điển hình là vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, để dập tắt mọi tư duy độc lập, kiểm soát đến cả miếng ăn manh áo để thực hiện theo nghĩa đen và tuyệt đối chế độ toàn trị. Đặng Phúc Lai (1934 – 2003) là một nhà nghiên cứu toán và triết. Ông vừa 20 tuổi năm 1954 khi đất nước bị chia cắt. Ông chọn ở lại miền Bắc thay vì theo gia đình vào Nam vì cảm tình với Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khi sang Paris để trị bệnh ung thư năm 2002 ông kể là đã bị giam giữ suốt 13 năm chỉ vì bị tình nghi là chống Đảng. Nhà văn Trần Hoài Dương (1943 – 2011) mà tôi gặp tại London kể lại cho tôi nghe chuyện anh tới thăm nhà thơ Trần Dần. Trần Dần đang ngồi uống "nước trà không có trà", nghĩa là nước sôi rót vào bình trà dù không có trà để cố tưởng tượng hương vị trà, thì bà vợ đi buôn chợ trời về báo tin mất mấy đôi dép. Hôm đó là ngày 01-9. Trần Dần hỏi vợ đã treo cờ trước cửa nhà chưa vì ngày mai là lễ quốc khánh. Khi vợ trả lời là chưa treo thì ông la lên: "Treo ngay đi! Nhà ai quên thì còn được chứ nhà mình mà quên treo cờ thì khổ lắm". Người ta cũng chưa quên câu nói của Nguyễn Tuân: "Tao mà còn sống được là nhờ biết sợ". Và hai câu thơ nổi tiếng trong giới trí thức văn nghệ sĩ: " bắt phanh trần phải phanh trần, cho may ô mới được phần may ô". Người ta cùng khổ và uất ức nhưng vẫn phải nói dối là rất sung sướng, rất hân hoan, rất phấn khởi hồ hởi. Ai còn muốn sống lại giai đoạn này?


Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chế độ khủng bố. Khủng bố để áp đặt cuộc nội chiến Nam - Bắc 1960 – 1975 kéo dài 15 năm làm đất nước tan hoang và sáu triệu người chết và tàn phế. Một trong những cái giá phải trả để theo đuổi cuộc chiến thảm khốc này là phải tôn sùng "anh cả Liên Xô và anh hai Trung Quốc". Đó là chế độ đã ký công hàm 14/9/1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa và đã im lặng khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Đó cũng là chế độ sau tháng 4-1975 đã ngạo nghễ thi hành chính sách cướp bóc trắng trợn, hạ nhục và bỏ tù tập thể đối với miền Nam, cùng với vô số biện pháp phân biệt đối xử khác, làm tan vỡ tình nghĩa dân tộc. Cũng chính nó, do một sự mê muội khó tưởng tượng, đã chọn tự hóa thân thành CHXHCNVN để rập khuôn theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ. Sự xấc xược tàn bạo đã đi tay trong tay với sự mù quáng.

Người ta còn có thể nhắc lại nhiều điều khác, như chính sách hợp tác xã dẫn cả miền Bắc tới sự đói khổ cùng cực.

Có mọi lý do để quên đi chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trở lại với quốc hiệu VNDCCH là trở lại với quốc hiệu của một trong hai phe nội chiến, với những tội ác và những sai lầm kinh khủng, và ngoáy dao vào những vết thương vẫn còn rướm máu trong lòng dân tộc. Thật khó tưởng tượng có thể còn có những người đề nghị như vậy. Không những thế nó còn là chọn lựa bất lợi cho mọi người. Đối với đảng cộng sản đó là sự thú nhận rằng giai đoạn 37 năm của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã là một sự lầm lạc, nhưng nó cũng không có giá trị của một sự sửa sai mà chỉ là sự trở lại với một chọn lựa còn độc hại hơn và chứng tỏ đảng cộng sản hoàn toàn không hối hận. Đối với nhân dân Việt Nam nó nhắc nhở một giai đoạn của đói khổ, giết chóc, thù hận, dối trá và độc ác. Xét cho cùng giai đoạn Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không tệ hại bằng giai đoạn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Nhưng thực tế là đã có nhiều người đưa ra đề nghị này trong đó có cả những trí thức muốn đổi mới. Và họ đều có cùng một lập luận. Các trí thức đưa ra đề nghị này cũng như Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp đều viện dẫn lý do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là chế độ do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Hình như sự kiện "do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập" tự nó đủ để bảo đảm sự đúng đắn của đề nghị. Trên nhiều vấn đề khác cũng thế, người ta viện dẫn "chủ tịch Hồ Chí Minh" như là một bảo đảm cho lập luận của mình.

Đã đến lúc phải nói chuyện thẳng thắn với nhau.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại : 1/ lý tưởng cộng sản; 2/ thành tích chiến đấu thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước; và 3/ thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa và lên án; các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ ngày càng bị đánh giá là không cần thiết, thậm chí có hại cho đất nước, vả lại đàng nào cũng quá xưa rồi và không liên quan gì với những người lãnh đạo hiện nay. Còn lại thần tượng Hồ Chí Minh, bùa hộ mạng cuối cùng của chế độ. Chính vì thế mà chế độ đánh bóng ông, tô điểm ông và bảo vệ ông. Bộ luật hình sự coi việc xúc phạm lãnh tụ (diễn nghĩa: đả kích Hồ Chí Minh) là một tội nặng. Và người ta đã gán ghép cho Hồ Chí Minh những đức tính mà ông không hề có. Đối với giới trí thức phản biện Hồ Chí Minh cũng là một lá bùa hộ mệnh. Đề cao ông chứng tỏ mình không phải là kẻ thù của chế độ, chỉ muốn cải tiến; phê phán những người lãnh đạo là không làm theo đúng lời dạy của Bác Hồ vừa tương đối an toàn vừa dễ lọt tai khối đảng viên cơ sở đã được nhồi sọ để tôn thờ lãnh tụ. Dần dần sự sợ hãi -sợ bị đi tù, sợ mất quyền lợi hay sợ mất lòng khối đảng viên cơ sở- được coi như một sự sáng suốt thay vì một sự nhút nhát. Một người bạn trong nước nói với tôi một cách tự nhiên: "Nói gì thì nói nhưng không nên đụng tới ông Hồ Chí Minh". Tại sao không? Thóa mạ và bôi nhọ một người đã chết thì dứt khoát là không nên rồi nhưng sự thực thì vẫn có thể nói và không những thế còn có bổn phận phải nói ra để tránh cho quần chúng khỏi là nạn nhân của những xuyên tạc bịp bợm.

Huyền thoại Hồ Chí Minh chỉ là một sự dàn dựng dối trá. Ông chỉ học tới lớp 7 rồi bỏ học sinh sống bằng những nghề lặt vặt như phụ bếp và tô ảnh. Không có bằng chứng nào là ông đã cố gắng tự học. Ông tuyệt đối không có kiến thức nào về khoa học, kỹ thuật, luật pháp, kinh tế, tài chính v.v. nói chung là những kiến thức tối cần thiết cho một người lãnh đạo. Và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách "Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học" mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu ruộng tại Trung Quốc có thể đạt được năng suất 333 (ba trăm ba mươi ba) tấn lúa mỗi năm. Ông cũng không phải là người có đạo đức. Ông bỏ rơi bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, ra lệnh giết hoặc chấp nhận để người ta giết cô Nông Thị Xuân, người phụ nữ trẻ đã có con với ông và bỏ rơi luôn đứa con để giữ hình ảnh giả dối của một người cha già dân tộc giản dị khắc khổ chỉ biết sống cho đất nước. Ông đã để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm bị giết oan về tội "địa chủ gian ác" mặc dù biết rõ bà Năm không những vô tội mà còn có công với Việt Minh.

Và ông phải chịu trách nhiệm chính về hai tội ác lớn nhất tại nước ta trong thế kỷ 20: tội tàn sát những người yêu nước không cộng sản sau Cách Mạng Tháng 8 và tội tàn sát địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất 1955. Không gì có thể biện hộ cho ông vì lúc đó ông thực sự cầm quyền và hơn nữa có toàn quyền.

Thành tích quan trọng nhất không ai chối cãi của Hồ Chí Minh là đã du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nhưng đây chỉ là một tai họa cho nước ta và tố giác sự thiếu văn hóa và tầm nhìn của Hồ Chí Minh vì lúc đó chủ nghĩa Marx đã bị bác bỏ trên chính quê hương của Marx từ 70 năm rồi (2).

Tất cả các trí thức trong nước mà tôi có dịp tiếp xúc đều biết khá rõ về Hồ Chí Minh và chẳng ai thực sự kính trọng ông. Trong chuyện trò riêng tư họ đều đánh giá ông là một người thiếu cả văn hoá và tầm nhìn lẫn đạo đức và tình cảm. Tất cả đều cho rằng về kiến thức cũng như đạo đức Hồ Chí Minh rất dưới mức trung bình. Tuy vậy trong những gì viết và nói công khai họ vẫn tỏ ra tôn kính ông. Nhiều người còn cho đó là một chiến lược khôn ngoan để đấu tranh cho dân chủ. Tôi chưa bao giờ tán thành quan điểm này. Đó chỉ là nói dối với chính mình đồng thời đóng góp lừa dối người khác và sự nói dối nào cũng đáng xấu hổ. Khối đảng viên cơ sở bị tuyên truyền nhồi sọ về thần tượng Hồ Chí Minh cần được soi sáng thay vì được củng cố trong niềm tin sai. Thảm kịch của đất nước, hàng trăm ngàn nạn nhân vô tội bị sát hại và hàng triệu nạn nhân của cuộc nội chiến buộc ta phải nói lên sự thực. Im lặng đã là có tội, hùa theo sự dối trá càng có tội hơn. Tôi không thích nói về Hồ Chí Minh vì đó là công việc của các sử gia, vả lại những sự thực về ông đã được nhiều người phơi bày. Ông đã thuộc về quá khứ và nên được để yên trong quá khứ. Tôi miễn cưỡng nói về ông vì lần này huyền thoại Hồ Chí Minh đang được sử dụng để vận động cho một đề nghị quốc hiệu mà nếu được chấp nhận sẽ là một bước lùi cho tiến trình dân chủ hóa và sẽ chia rẽ dân tộc một cách trầm trọng vào giữa lúc chúng ta đang cần hòa giải dân tộc để cùng hướng về một tương lai chung. Bình sinh ông Hồ Chí Minh đã gây nhiều đổ vỡ, không nên để ký ức ngụy tạo của ông lôi kéo đất nước vào bế tắc một lần nữa. Nhiều trí thức cũng cần nghĩ lại để đừng rơi vào cái bẫy của chính mình. Họ muốn sử dụng biểu tượng Hồ Chí Minh như một vũ khí giai đoạn để thay đổi chế độ nhưng vô tình họ cũng đóng góp củng cố chế độ vì huyền thoại Hồ Chí Minh chính là chỗ dựa còn lại của chế độ.

Trong một cái nhìn sáng suốt về tương lai Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu đúng nhất. Cộng hòa theo từ nguyên Hy Lạp res publicae của nó có nghĩa là "của toàn dân". Các nước có ảnh hưởng Hán văn dịch ra là "dân quốc" hoặc "cộng hòa". Bên hữu thích dân quốc và bên tả thích cộng hòa; hai danh từ này có cùng một nghĩa. Đài Loan là Trung Hoa Dân Quốc và Nam Cao Ly là Đại Hàn Dân Quốc trong khi Hoa Lục, Bắc Cao Ly và Việt Nam tự xưng là những nước cộng hòa. Trường hợp miền Nam Việt Nam trước đây, với quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa (cũng sai ngữ pháp như Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), là một ngoại lệ. Ngày nay danh từ "cộng hòa" đã trở thành thông dụng.

Quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam không chuyên chở một thiên kiến chính trị hay ý thức hệ nào mà chỉ có nghĩa là đất nước của mọi người Việt Nam, không loại trừ một ai. Đất nước là tài sản chung, trách nhiệm chung và tương lai chung. Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu của hòa giải dân tộc, xác nhận chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người Việt Nam. Đó chắc chắn sẽ là quốc hiệu của Việt Nam trong tương lai ngay cả nếu đảng cộng sản từ chối trong lúc này. Chế độ toàn trị sẽ cáo chung và sắp cáo chung. Việt Nam sẽ là một nước dân chủ đa nguyên với quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam. Không thể khác.

Nếu sáng suốt thì chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nên chọn quốc hiệu này ngay từ bây giờ. Họ sẽ tiết kiệm thời giờ cho một chính quyền dân chủ sau này, đồng thời để lại một di sản được gìn giữ và trân trọng, thay vì chỉ được nhớ đến cùng với những sai lầm và tội ác.

Nguyễn Gia Kiểng
(05/2013)

(1) Còn một nước có quốc hiệu gần như thế: Cộng Hoà Dân Chủ và Xã Hội Chủ Nghĩa Sri Lanka. Nhưng đây là một nước nhỏ và bị coi như một "đất nước không thành" (failed state) vì tụt hậu, nghèo đói và nội chiến.(2) Tại đại hội Gotha, tháng 5-1875, phong trào xã hội Đức (do sự thống nhất của Tổng Hội Công Nhân và Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội), xương sống của phong trào cộng sản Châu Âu lúc đó, đã bác bỏ chủ nghĩa Marx và chọn đường lối cải tổ ôn hòa. Marx và Engels đã trả đũa bằng cách viết cuốn Phản bác cương lĩnh Gotha, nhưng cuốn sách này không được hoan nghênh vì những lý luận và dự đoán của Marx đã bị thực tế chứng minh là sai.

Nguồn: danluan.org



Subscribe to aitubinhdien

Powered by us.groups.yahoo.com

Đăng Ký | Tạo | Giới thiệu | Sơ đồ trang web | Những đặc tính | Diễn đàn | Hiển thị Tắt | Fa | Hỗ trợ
Copyright © 2000-2013 Aimoo Free Forum All rights reserved.
Energy effecient LED lights, bulus, lighting fixtures and flashlights from Lighting EVER. Better lighting, Better sense.
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY
LUFFY LUFFY LUFFY