New Category in Show Off for Forum Owners to Help Each Other, please click here.
Close it  
Tên Tài Khoảng  Mật Khẩu

SmileSmileSmile
Hop cho: 
 
 QueAnh's Recent Posts
QueAnh
http://forum4.aimoo.com/aitubinhdien
Rank: Diamond Member  
Status:
Score: 2576
Posts: 2576
From: USA
Joined: 04/03/2009
Administrator of: ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN
Member of: Help Forum


Posted on 01/11/2012 3:46 AM

Thong Nguyen" tnguyen6740@yahoo.com





CHÀO MỪNG HỘI NGỘ GIA ĐÌNH ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN LẦN THỨ 6
ĐƯỢC TỔ CHỨC TẠI DENVER-COLORADO.

Vào các ngày 7,8,9 / 7 / 2012







Gia đình ATBĐ-Denver họp lần thứ 27













Posted on 01/11/2012 3:22 AM

"Tho Nguyentan" thonguyentan@yahoo.com


Hình ảnh họp BCH ATBĐ bàn việc tổ chức Tiệc Tân Niên Nhâm Thìn Chủ Nhật 8 Jan 2012



























Posted on 11/13/2011 1:17 PM

"xuan nguyen" balamathue@gmail.com


AÍ TỬ BÌNH ÐIỀN HOA-KỲ

NHẬN ÐƯỢC TIN TRỂ BẠN NGUYỄN MINH PHÚ
( T3 ÁI TỬ T3 BÐ)
ÐÃ TỪ GIẢ BẠN BÈ VỀ MIỀN MIÊN VIỄN
NGÀY 08 THÁNG -11-2011

LỄ HOẢ TÁNG VÀO NGÀY THỨ 7 12-THÁNG -11-2011
TẠI ARLINGTON /DALLAS /TX

HOME(817) 275- 8627
TRƯỚC SỰ MẤT MÁT LỚN LAO CUẢ TANG QUYẾN ,
TOÀN THỂ ANH EM BẠN BÈ " AÍ TỬ BÌNH ÐIỀN
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA ÐÌNH BẠN NGUYỄN MINH PHÚ ..
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH BẠN : NGUYỄN MINH PHÚ

ÐƯỢC VỀ VÙNG TRỜI AN LÀNH

ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN HOA-KỲ













Posted on 11/08/2011 10:48 PM

Cuộc hội ngộ của thế kỷ

Hoa Kỳ tái ngộ Ðông Á - và Trung Quốc - như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa - Monday, November 07, 2011

Sau thượng đỉnh G-20 bẽ bàng tuần qua vì không có kết quả cho cuộc khủng hoảng Âu châu, tuần tới, Tổng Thống Barack Obama lại phải bay qua Châu Á.

Trong hai ngày 12-13, ông sẽ chủ tọa Thượng đỉnh APEC thứ 19 của Diễn Ðàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương tại Honolulu gồm 21 quốc gia/kinh tế từ Ðông Á qua Tây Bán Cầu. Về Mỹ tiếp tục tranh cử, ông lại qua Bali của Indonesia trong hai ngày 18-19 dự Thượng đỉnh EAS (East Asian Summit) của 18 nước Ðông Á. Ðây là lần đầu mà cùng Liên Bang Nga, Hoa Kỳ được mời vào thượng đỉnh, kỳ thứ sáu kể từ kỳ đầu tiên vào năm 2005.

Hai thượng đỉnh là cơ hội tái xác định bằng đề nghị cụ thể những phát biểu hùng hồn của giới chức ngoại giao, an ninh và kinh tế về chiến lược đã thông báo từ năm 2009: Mỹ trở lại Ðông Á.

***

Về bối cảnh, sau khi Obama nhậm chức vào đầu năm 2009, các nước Ðông Á chờ đợi là Hoa Kỳ còn mất vài năm mới tạm giải quyết hồ sơ ưu tiên là Iraq, A Phú Hãn, và cả đối sách với Nga khi ấy đã chiếm lại ảnh hưởng trong khu vực địa dư cố hữu của Liên Xô. Rồi mới khả dĩ ứng phó với thách đố ở nơi khác. Một trong những thách đố là sự lớn mạnh của Trung Quốc tại Ðông Á.

Thời hạn ấy đã tới.

Nếu nhìn lại thì từ 30 năm nay - từ 1983 khi luồng giao dịch qua Thái Bình Dương đã lần đầu vượt trọng lượng buôn bán qua Ðại Tây Dương - Hoa Kỳ chưa hề “rút khỏi Ðông Á.” Trong thập niên chú ý vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi Giáo và an ninh từ Ðịa Trung Hải tới rặng Hindu Kush - từ Bắc Phi qua Nam Á - 75% lượng hàng hóa do hàng hải Hoa Kỳ chuyển vận vẫn nằm trên Thái Bình Dương. Dù có gây ấn tượng xao lãng, quyền lợi Hoa Kỳ vẫn gắn bó với Châu Á.

Nhưng 10 năm bận rộn của Mỹ - trùng hợp với việc Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO và phát triển mạnh nhờ hội nhập vào luồng trao đổi toàn cầu - có dẫn đến hai thay đổi lớn, từ Trung Quốc.

Về kinh tế, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài với mức độ chưa từng có trong lịch sử. Là cường quốc lục địa có ảnh hưởng, mà chỉ có ảnh hưởng tại Ðông Á, lần này, Trung Quốc lại bị bên ngoài chi phối vì phải kiểm soát được thị trường và các nguồn tiếp vận nguyên nhiên vật liệu, khoảng sản và thậm chí cả lương thực.

Nếp văn hóa duy chủng, kiêu căng và hình thức, là “minh minh đạo” - làm sáng cái đức sáng của Hán tộc - không thỏa mãn được yêu cầu sinh tử của Thiên triều. Xứ này cần sức mạnh, thể hiện dưới màu sắc Trung Hoa, nhờ nhờ màu hồng của hệ thống độc tài cộng sản theo kinh tế thị trường. Vì vậy mới có sự thay đổi thứ hai, từ nội bộ ra ngoài: quân đội có tầm ảnh hưởng quan trọng hơn trong hệ thống chính trị, với hậu thuẫn của xu hướng cực hữu - hay cực tả, tùy cách nhìn vào hay nhìn ra.

Xưa kia, lãnh đạo xứ này phải bảo vệ vùng sinh hoạt truyền thống của Hán tộc tại Trung Nguyên là khu vực duyên hải tương đối trù phú. Rồi kiểm soát các tỉnh kẹt trong lục địa của các dị tộc, và cần khống chế được “vùng trái độn quân sự” với bên ngoài, từ cao nguyên Thanh Tạng qua Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và Mãn Châu. Ngày nay, và vì nhu cầu kinh tế mà họ coi là chính đáng, lãnh đạo Bắc Kinh phải mở rộng “vùng trái độn” ra ngoài biển.

Quân đội Trung Quốc có thẩm quyền và được cung cấp phương tiện kiểm soát vùng biển cận duyên quanh lãnh thổ, là biển xanh lục từ Ðông Hải đến vùng Ðông Nam Á: “Vùng đặc quyền kinh tế.” Nhưng mục tiêu sâu xa hơn vẫn là xây dựng khả năng tung hoành viễn duyên - biển xanh dương - để bảo vệ luồng giao lưu kinh tế của mình.

Ðấy là lúc sẽ có cuộc gặp gỡ của Thế kỷ 21, với siêu cường hải dương là Hoa Kỳ.

Vì quyền lợi, thì quốc gia nào cũng có thể có nhu cầu đó.

Không có tài nguyên và cần buôn bán, Nhật đã cố bảo vệ vùng biển rộng lớn từ Ðông Bắc Á qua Ðông Nam Á tới Ấn Ðộ dương vào tận Ðông Phi và Trung Ðông. Ấn Ðộ là xứ bán đảo cũng cần bảo vệ sự chuyển vận từ eo biển Malacca xuống Úc châu, qua Phi châu lên tới Saudi Arabia và Iran. Hoa Kỳ thì có khả năng viễn duyên trùm lên ngần ấy khu vực chiến lược của cả ba nước Tầu-Nhật-Ấn, chưa nói đến biển Viễn Ðông hay khu vực Baltic và Viễn Tây của Nga...

Nhưng, các quốc gia theo chế độ dân chủ và tôn trọng quy tắc quốc tế, như Nhật, Ấn hay Úc và Mỹ, thì chủ trương bảo vệ quyền tự do thông thương của mọi người trên hải phận quốc tế. Trung Quốc lại không. Lãnh đạo xứ này dùng cả ngoại giao, tuyên truyền, mua chuộc và dọa nạt bằng quân sự để thể hiện quyền kiểm soát đó.

Vì vậy, các nước đều cần sức mạnh của Mỹ để bênh vực lý lẽ ngoại giao của họ trước diễn đàn quốc tế. Họ mong rằng một khi có thể gỡ chân ra khỏi hai ổ kiến lửa là Iraq và A Phú Hãn, Hoa Kỳ sẽ có thêm trọng lực thực tế - và khả tín - về quân sự để hỗ trợ ngôn ngữ ngoại giao!

***

Nói về chiến lược, xưa kia, Hoa Kỳ vẫn hợp tác với các đồng minh truyền thống tại Á châu, như Nhật, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Singapore, Thái Lan và Úc. Ra khỏi Ðông Nam Á, Mỹ đã đảo ngược quyết sách và giao kết khắng khít hơn với Ấn Ðộ - để bảo vệ an ninh từ khu vực Hindu Kush tới Malacca. Nhìn từ Bắc Kinh thì đấy là một vòng cương tỏa.

Từ 2010, Hoa Kỳ nâng cấp đối tác quân sự với Indonesia, xứ Hồi giáo đông dân nhất, năm nay sẽ tổ chức Thượng đỉnh Ðông Á. Song song, đã tăng cường hợp tác với Hiệp hội ASEAN của 10 nước Ðông Nam Á. Còn tiến vào lưu vực Mekong với dự án viện trợ cho bốn nước ở hạ nguồn là Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam, nạn nhân của Trung Quốc trên thượng nguồn. Với chế độ độc tài quân phiệt Miến Ðiện có lập trường thân Bắc Kinh trong khối ASEAN, Mỹ cũng có đối sách mềm dẻo hơn, và đạt một số kết quả ban đầu làm Bắc Kinh giật mình.

Từ năm 2008, Hoa Kỳ còn hưởng ứng sáng kiến xây dựng đối tác chiến lược kinh tế xuyên Thái bình dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership). Với sự sốt sắng tham gia và xây dựng của Mỹ, vành cung bao gồm cả chục nước từ Ðông Á qua Trung Nam Mỹ có hy vọng thành hình. Với Bắc Kinh, đây là cánh cung nhắm vào quốc gia không có mặt: Trung Quốc.

Diễn đàn APEC là cơ hội cho tổng thống Mỹ đưa ra đề nghị mới để thúc đẩy sáng kiến này.

Cũng thế, Thượng đỉnh Ðông Á được Malaysia khởi xướng năm 1991 để lập thế liên kết Á Châu, gồm cả Trung Quốc, làm lực đối trọng với Tây phương. Nay Hoa Kỳ không đứng ngoài quan sát mà là thành viên trọn vẹn, với khả năng tác động vào nghị trình nhờ sáng kiến về an ninh. Vì vậy, tháng này, ta nên xem tổng thống Mỹ đề nghị những gì trước hai diễn đàn APEC và EAS.

***

Người ta cứ e là Hoa Kỳ bị suy trầm kinh tế, vất vả với chuyện nội bộ trong một năm tranh cử. Nhưng Trung Quốc cũng tơ vò ngổn ngang. Kinh tế xã hội có vấn đề, và tranh luận về giải pháp lại dội vào Ðại Hội 18 của cuối năm tới, với nhiều mâu thuẫn quan điểm từ lớp lãnh đạo sắp đi như Ôn Gia Bảo, hay sẽ lên như Bạc Hy Lai.

Bí thư Trùng Khánh là Bạc Hy Lai ca tụng Mao Trạch Ðông, đụng với bí thư Quảng Ðông là Uông Dương và đả kích tình trạng thỏa hiệp của đảng. Rất ồn! Ôn tồn hơn, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo chưa về hưu đã kêu gọi cải tổ chính trị và vừa rồi còn giảng cho sinh viên Ðại Học Nam Kinh rằng tổ phụ ông là nhà giáo nạn nhân trong vụ “Trăm Hoa Ðua Nở” và chiến dịch “Phản hữu phái” của Mao. Bắc Kinh đang có sự lạ!

Thiên triều sẽ phản ứng thế nào trước những thách đố trong ngoài như vậy? Rất nên tìm hiểu...

Nguon: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=139702&z=97



Posted on 11/08/2011 9:52 AM

"Hue Pham" phamhuuhue@yahoo.com

Nhớ về Cao Xuân Huy “Tháng Ba gãy súng”

(Nhân giỗ đầu ngày Huy mất 12-11-2010)

Phạm Văn Tiền


Huy em! Anh vừa nhận được email Trần Như Hùng gởi cho anh từ Úc. ”Anh Tiền ơi! Còn mấy ngày nữa là giáp năm Huy rồi. Em nhớ nó quá”. Hùng lại viết tiếp “Lần đầu tiên đi Đại Hội TQLC tại Houston 2004, em đến chào anh, anh mặc civil, em xin anh nhớ mặc quân phục để em chụp tấm hình. Mỗi lần xem lại Huy nói “Tối đó tao say quắc cần câu mà lại mặc đồ thường, tao không dám tới chào ổng sợ ổng chửi!” Anh tin là Hùng nói rất thật. Đó đúng là cách cư xử của Huy đối với anh từ trước đến giờ vẫn vậy. Huy thường bảo với anh rằng trong binh chủng em là người thương anh nhất. Điều nầy có thể xác nhận nhiều lần với các Sao Mai Tài và Gắt hiện ở Seatle và Mai Văn Hiếu ở Kansas. Hùng và Huy thân nhau như thế nào anh không được biết, nhưng những gì mà Hùng đã làm được cho Huy lúc cuối đời quả là điều đáng nể, ở đời mấy ai có được tình bạn như Hùng.

Huy em! Mới đó mà đã đến ngày giỗ một năm ngày em mất rồi, thời gian nhanh như chớp, em ra đi đã yên nhưng những ray rứt luôn ám ảnh cho người còn lại. Gia đình, bạn bè, chiến hữu luôn nhắc đến em, đến Huy Râu tác giả tập hồi ký để đời về cuộc lui binh lịch sử “Tháng Ba gãy súng”! Trước mặt anh bây giờ là quyển sách em tặng anh ngày 15-7-1992 với lời tựa “Bản của Bạch Yến 324” cùng nét chữ cẩu thả nhưng thật bay bướm của em. Làm sao anh quên em được Huy ơi! Năm ngoái vào những ngày cuối tháng 9 em gởi anh quyển tập truyện “Vài mẩu chuyện”, tác phẩm cuối cùng của em và nói rằng em sẽ về Houston, rồi Dallas để ra mắt quyển sách nầy. Để anh đọc trước em đã gởi cho anh với lời tựa “Kính tặng Bạch Yến 324 Phạm văn Tiền. Cali ngày 20-9 Cao Xuân Huy”! Nhưng sau đó em bảo cơn bệnh tái phát nặng, hiện đang xạ trị và em đã ra đi gần 2 tháng sau đó. Anh em mình đã mất cơ hội gặp lại nhau vì nghiệp duyên em đã hết.

Năm 2004, đó lần đầu tiên anh gặp lại Huy sau đúng 27 năm xa cách trong ngày Đại hội TQLC tại Houston. Lần gặp sau cùng là lúc anh đang ở trong tù khi lao động dã trại tại thung lũng quận Ba Lòng Quảng Trị vào năm1977. Lúc đó Huy ở trại 5 còn anh thuộc trại 1. Buổi chiều với vác củi nặng trĩu trên vai, quần áo rách rưới thật thê thảm, anh em mình tình cờ gặp nhau, Huy hô to “Ông Thầy” và đã khóc. Em lúc nào cũng vậy, trông cao to gầy ốm râu ria như vậy mà rất dễ động lòng. Anh còn nhớ hồi trận đánh Cửa Việt khi thằng Vạn mang máy của em tử trận, em cũng khóc như mưa! Hôm đó, em ôm anh và nói sao ông ốm quá vậy “Địt mẹ mấy thằng VC tàn nhẫn quá”. Anh thích lối chửi thề vô thưởng vô phạt nầy của em, ngay ngày còn trong đơn vị. Và cũng từ đó anh em mình không có dịp gặp nhau nữa, sau nhiều lần chuyển trại. Anh được biết em ra tù vào khoảng tháng 9 năm 1979 và vượt biên đến Mỹ tháng 10-1983 như vài dòng tiểu sử trong quyển sách của em, còn anh đến tháng 11-1987 mới được bọn chúng thả về.

Anh về tá túc bên gia đình vợ cùng 2 con tại quận Cai Lậy Tiền Giang. Lúc đó đã có nhiều tin đồn là tất cả sĩ quan cải tạo sẽ được Mỹ rước. Anh không tin điều nầy có thật nhưng rất vui, vì sao mình cũng còn tí hy vọng để mà sống. Một ít bạn tù thỉnh thoảng cũng có dịp gặp nhau để cùng tâm sự và chia sẻ những buồn vui cho qua ngày đoạn tháng, dầu sao ai cũng hãnh diện mình cũng đã có một thời vàng son đáng nhớ, một thời liệt oanh nơi chiến trận để mà tự hào. Tình cờ, anh được một trong số những người bạn đó hỏi anh “Ông ở binh chủng TQLC mà ông có biết nhà văn Cao Xuân Huy không?” Trong trí anh mò mẫm tìm về kỷ niệm cũ, ở tiểu đoàn 4 Kình Ngư mình có 2 Huy, Huy mập và em là Huy ốm râu ria giống anh, chứ không có Huy nào là nhà văn cả. Ông ta bảo đã nghe đọc trên đài VOA về quyển hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng” trong đó có nhắc đến tên Thiếu tá Phạm Văn Tiền thuộc Tiểu đoàn Hắc Long vào những ngày tháng sau cùng về cuộc lui binh lịch sử của TQLC tại cửa biển Thuân An Huế. Quyển sách tự truyện quá hay và cảm động đã được đọc liên tiếp trong nhiều tuần làm rơi nước mắt nhiều người. Lòng mừng rỡ đượm chút ngạc nhiên đầy xúc động và hãnh diện về em, về đơn vị và binh chủng mình!

Hình ảnh những ngày đó đã được hiện lại trong trí nhớ anh như mới hôm nào. Tất cả nguyên một Lữ Đoàn 147 gồm 4 tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng trên dưới bốn ngàn người đã bị thượng cấp bỏ rơi không thương tiếc. Dầu vậy chúng ta vẫn còn đội ngũ đàng hoàng, vẫn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cho đến khi kiệt sức. Nhiều anh em đã nối vòng tay lớn cùng nhau bung chốt lựu đạn tự sát trong tình thế tuyệt vọng hoàn toàn. Tác phẩm đầu tay của em ra đời thật đúng lúc vào tháng 6 năm 1985, đúng vào thời điểm mà mọi người đang thắc mắc vì sao TQLC đã rút lui rời bỏ Quảng Trị, Huế một cách quá nhanh như vậy, trong khi thừa khả năng bảo vệ dù cộng sản có cố gắng ra sức tấn công bằng hàng chục sư đoàn. Lương thực còn, súng đạn còn , dân chúng còn, tinh thần binh sĩ còn, các tiểu đoàn 3,4,5,7, 2 Pháo binh thuộc Lữ đoàn 147 còn, có sứt mẻ gì đâu. Không hiểu vì sao có lệnh tử thủ, rồi sau đó vài ngày có lệnh di tản để rồi xảy ra thảm cảnh pháp trường cát tại cửa biển Thuận An.


Những lời bàn tán về chuyện cũ trong quyển sách của em vẫn cứ được nhắc đi nhắc lại từ quán cà phê nầy đến quán cà phê khác, ngay trong những lúc ngày kỵ, giỗ đông người. Ai cũng nhìn anh với niềm thiện cảm về binh chủng TQLC mình, còn gì sung sướng bằng phải không em, anh nở lỗ mủi lắm chứ em. Thì ra những thằng lính TQLC cũng có thể cầm viết để trở thành nhà văn nổi tiếng chứ không phải chỉ có biết có cầm súng đấm đá mà thôi. Tháng 7 năm 1991 gia đình anh được định cư đến Mỹ theo diện HO 5 tại thị trấn nhỏ bé Pineville tận cùng phía Nam tiểu bang Louisiana, nơi rất hiếm công ăn việc làm, đa số sống nhờ vào tiền trợ cấp chính phủ. Tuy nhiên sau đó nhờ sự giúp đỡ của văn phòng tỵ nạn anh cũng tìm được chỗ tốt ở các vườn ương cây “Nursery”. Đây là những ngày tháng hạnh phúc sung sướng nhất đời mình, đêm nằm ngủ không còn lo sợ bọn công an rình rập khám xét. Nhiều đêm nằm mơ không biết mình đang ở đâu, khi thức giấc nhìn đèn sáng ngoài đường mò mẫm tứ tung mới biết mình đang được bình yên tại Mỹ.

Một tối cuối tuần sau một ngày lao động vất vả, có một người gõ cửa đến thăm anh và mang theo một quyển sách. Dáng người sang trọng cao to, ông ta tự giới thiệu là Bác Sĩ Tô Phạm Liệu thuộc binh chủng Nhảy Dù, ông là một trong rất ít người còn sống sót của Tiểu đoàn 11 Dù trong trận chiến trên đỉnh đồi Charlie. Ông ta vừa mới về sau một chuyến họp hành tại Oklahoma và tình cờ biết được địa chỉ của anh qua lời giới thiệu của chiến hữu Nguyễn Văn Gừng. Ông nói đây là quyển sách “ Tháng Ba Gãy Súng” có nhắc đến ông, ông cứ đọc cho biết. Cuối tuần hôm đó anh bắt đầu đọc, đọc một mạch từ đầu đến cuối không sót chữ nào, lối hành văn của em thật hấp dẫn dễ lôi cuốn mọi người. Mặc dầu có những điều em hơi quá đáng chỉ có người trong cuộc mới hiểu, nhất là đoạn nói về Trung úy Võ Văn Gắt, Đại đội trưởng của em. Sau đó một vài tuần điện thoại nhà anh reo tới tấp và những check gởi về cho anh thật nhiều trong đó có em là một trong những người cho tiền anh sớm nhất. Và cũng từ đó tháng nào anh cũng nhận đều đặn tạp chí Văn Học mà em là Tổng thư ký ban biên tập. Em, Lương, Ngô Hồng Hà, Phạm Văn Thành trong gia đình “ Kình Ngư” của mình cứ nằng nặc đòi đem xe rước gia đình anh về Cali để sống, anh thấy không tiện nên đã từ chối nhưng dầu sao cũng nhớ và mang ơn các em.

Ở binh chủng TQLC anh đã qua 3 tiểu đoàn đoàn tác chiến, trong đó Tiểu đoàn 2 Trâu Điên là lâu nhất từ ngày mới ra trường khi còn là Thiếu úy trung đội trưởng, đến lúc lên được Thiếu tá Tiểu đoàn phó tiểu đoàn nầy sau trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị năm 1972. Nhưng nếu có ai hỏi anh, thời gian nào là thời gian đẹp nhất trong đời quân ngũ của mình, anh sẽ trả lời ngay không suy tư, không tính toán đó là thời gian phục vụ ở Tiểu Đoàn 4 “Kình Ngư TQLC”. Bởi vì ở nơi đó anh đã tìm ra được một tình thương thật sự của những người lính tác chiến mũ xanh, nơi đó mới có những người anh, người em biết nhường cơm xẻ áo cho nhau rất thân thiện trong tình huynh đệ chi binh, nơi đó không có sự thù ghét ganh tỵ, anh ra anh, em ra em trong sự tương kính nhau thật sự. Anh về đây chẳng qua là một cơ duyên đưa đẩy, anh được thượng cấp thuyên chuyển về đơn vị nầy vào tháng 11- 1972 trong một buổi chiều mưa buồn thảm. Súng nổ đì đùng khắp nơi và mặt trận phía Bắc còn đang rất sôi động. Trung tá Nguyễn Đằng Tống thay thế Trung tá Nguyễn Xuân Quang và anh thay thế Đại úy Trịnh Hữu Phước ngay tại mặt trận sau trận “đập Long Quang”.

Đơn vị mình trong đó anh, có em, có rất chiến hữu khác, đã may mắn mang lại được nhiều chiến thắng trong một thời gian ngắn sau đó. Ngày đó em Thiếu uý làm Đại đội phó cho Trung úy Dương Tấn Tước còn Nguyễn Văn Gắt thì làm phó cho Trung úy Mai Văn Hiếu. Đơn vị đóng quân dọc theo chiều dài của bờ biển vùng Gia Đẳng, Mỹ Thủy. Em là người mà anh để ý trước nhất khi về đơn vị mới, dáng cao lều khều, nghe đâu em từ binh chủng không quân ba gai sao đó để rồi bị đưa về binh chủng TQLC, trong số đó có Sáng, Du Hồ, Ngô DZu, Long, Huy mập.., tất cả còn rất trẻ chịu chơi, uống rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình! Lần đầu tiên do sự tình cờ anh lên thăm tuyến đầu Đại đội, thấy anh, em đã biến mất từ đâu rồi. Sau nầy được nghe Tước kể lại vì hắn không cạo râu nên tránh gặp Bạch Yến. Anh cũng giống y hệt như em khi đơn vị từ Hạ Lào được điều động về bảo vệ BCH Sư đoàn tại Hương Điền râu ria xồm xoàm lâu ngày không cạo, khi Lạng Sơn đi thăm tuyến , anh cũng trốn không dám gặp, sợ quá chỉ một ngày sau đó anh cạo liền. Qua lời kể của Trung Tá Phúc Tiểu đoàn trưởng là Lạng Sơn bảo nó cứ để râu trông cho oai mắc mớ gì phải cạo, và cũng từ đó anh được có một cái tên mới “ Tiền Râu”.

Cái tốt của em là không bao giờ biết cờ bạc ăn thua với lính và rất thương thuộc cấp của mình, nhưng bù lại thì sống bụi đời, ăn nhậu và hút thuốc số một không ai bằng. Anh không giống như em nhưng anh lại đam mê một thứ khác, cái thứ mà theo anh chẳng bao giờ thấy em để ý. Một lần gặp em “ dù” ra Huế trong lúc đơn vị đang đóng ở làng TQLC tại Hải Lăng, em say sướt mướt và chính anh đã chở em về. Anh thông cảm và chẳng có một lời nào khiển trách em, có lẽ đây là lý do mà em thương anh nhiều nhất.

Chiều nào cũng vậy, những ngày tháng đóng quân dọc theo mé biển, anh em mình ra sân đá banh trên cát. Em cũng chạy như ai, nhưng chẳng bao lâu thì ngồi thở dốc, uống rượu nhiều quá làm sao có sức phải không em. Em là một trong những tay nhậu cự phách nhất so với nhiều kiện tướng thuộc tiểu đoàn. Sao Mai Trần Kim Tài và Dương Công Phó còn phải chào thua em. Với em tinh thần đơn vị là số một không ai bằng. Anh nhớ sau trận Cửa Việt Tiểu đoàn mình được về “hấp hơi” tại Trung tâm huấn luyện Đống Đa Huế. Thời gian nầy Thiếu tá Toàn đã về thay Trung tá Tống rồi. Đơn vị mình được vào chung kết tranh cúp bóng đá với đội banh của trung tâm. Mình thua với tỷ số 2-1, vì họ gian lận mướn cầu thủ nhà nghề từ Huế vào. Sau khi bị thua đau, một số anh em quyết ăn thua đủ, rượt họ chạy có cờ quanh sân vận động, trong đó Cao Xuân Huy là người dẫn đầu chạy hăng nhất. Anh còn nhớ lời em nói “Địt mẹ tức chớ ông thầy!”

Em được về phép trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, chiến trận xảy ra khắp nơi, hết nơi nầy đến nơi khác lần lượt lọt vào tay địch. Ban Mê Thuột, Pleiku, Quân đoàn 2 ồ ạt rút về Nha Trang trong cảnh hỗn loạn. Sàigòn vẫn còn ăn chơi nhưng rất nao núng về những tin bất lợi nầy. Những kẻ chức trọng quyền cao, sẵn tiền bạc trong tay đang tìm cách cao bay xa chạy, thế mà em vẫn nài nỉ van xin để được có mặt trên những chuyến bay cuối cùng, em nóng lòng về đơn vị nơi đó có các bạn bè chiến hữu của em đang ngày đêm đánh đấm với kẻ thù. Đồi 51 đã bị địch tràn ngập thất thủ, Thiếu úy Sáng tử trận cùng gần hết trung đội của mình. Em biết, nhưng em vẫn sốt ruột để xin ra trận cùng anh em chiến đấu, sống chết có nhau, em không đào ngũ mặc dầu biết mình sắp xung phong vào chốn gian nguy, em không hề nao núng. Bạn bè chiến hữu mến phục em và anh cũng thế. Lúc đó đơn vị mình thay đổi hoàn toàn, anh về làm Tiểu đoàn trưởng Hắc Long, còn niên trưởng Toàn 816 chuẩn bị về Tiểu đoàn 16 tân lập, Thiếu tá Đinh Long Thành sẽ về thay thế làm Tiểu đoàn trưởng Kình Ngư, NguyễnTrí Nam thế anh làm phó.

Anh thích nhất trong một vài điều trong quyểnTháng Ba Gãy Súng mà anh cho là rất thật và cảm động vô cùng, chỉ xảy ra trong đơn vị TQLC mình “Gặp tôi đi tới, đại úy Tài hỏi -Đụ mẹ, đại đội mầy đâu? -Loạn xà ngầu hết rồi anh Hai -Chúng tôi vẫn gọi Tài là anh Hai, anh Hai Tài. Anh Tài cầm roi nhắp nhắp về phía tôi - Đụ mẹ 5 roi nhen mầy! -Tôi cười ngượng –lên tàu rồi sẽ đánh, anh Hai. Em đi trước nghe -Ờ, tới Huế gom đại đội lại đi thằng láu cá.” Đọc qua đoạn nầy mọi người đều cảm thấy thương yêu em hơn, rất bình dị nhưng thể hiện được sự tôn kính cấp chỉ huy của mình. Hình ảnh của một Đai đội trưởng Trần Kim Tài đã nói lên được lòng tận tụy và thương yêu binh sĩ thuộc quyền của một cấp chỉ huy TQLC ngay trong những giờ phút gian nan tuyệt vọng nhất.

Huy em! Thời gian nầy năm ngoái em đã hết sức chiến đấu từng giây phút với lưỡi hái tử thần, nhưng dù cố gắng nhưng sức không kham nổi đoạn đường, cuối cùng thì em cũng phải chào thua định mệnh Những gì đã xảy ra trong ngày tang lễ của em đã nói lên được sự thương tiếc của mọi người đã ưu ái dành cho em trong giấc ngủ cuối đời. Quá nhiều giọt nước mắt để tiếc thương em ngay cả những người không hiện diện. Sau nầy và mãi mãi khi nhắc đến cuộc chiến Việt Nam, mọi người sẽ nhớ đến em, tác giả Cao Xuân Huy và tác phẩm để đời Tháng Ba Gãy Súng.

Huy em! Em đang ở đâu đó trên khắp bốn phương trời , hãy vui chơì thong thả vì em đã rũ sạch nợ trần. Nếu có gặp lại Long, Sáng, Trí Nam,Thanh Chiêu và nhất là ông anh cả Nguyễn Đằng Tống ..và nhiều chiến hữu khác trong đơn vị Kình Ngư mình, cho anh gởi lời thăm hỏi và chắc rằng một ngày nào đó anh cũng sẽ gặp lại em. Vì ai cũng một lần ra đi…phải không em?

Anh của em
Arlington , Texas ngày 10-11-2011
Bạch Yến 324 Phạm Văn Tiền



Posted on 11/07/2011 6:54 PM

Nhìn lại quá khứ, ngước về tương lai

Hành Khất

Công cuộc Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) của csvn trong giai đoạn 1949 -1956 là một kinh nghiệm quý giá cho những ai chưa hiểu chế độ cộng sản. Dù vấn đề nầy đã quá xa xưa, nhưng dường như đa số thường dân Việt Nam (VN) không có nhận thức về những gì đã xảy ra trong quá khứ, vì csvn cố tình che giấu và xảo ngôn qua cách mà họ gọi là chính trị. Đây là một vấn đề về an sinh, luân lý, và đạo đức xã hội, mà chúng là nền tảng trong suốt lịch sử dựng nước của dân tộc VN, nhưng csvn đem cái chính trị ngoại lai của Tàu cộng, Nga cộng trộn lẫn trong đó và phá vỡ tất cả, tạo nên một hậu quả trầm trọng không ít cho đến hôm nay. Ngước nhìn về tương lai sẽ thấy gì, nếu chúng ta không dám nhìn lại quá khứ ?

Đã có rất nhiều bài viết về CCRĐ, từ phân tích, nhận định cho đến những bài phỏng vấn từ con cháu nạn nhân may mắn được sống sót, từ nhân chứng từng giữ vai trò lãnh đạo trong nhà cầm quyền cs, và bằng chứng sử liệu, thêm vào những hình ảnh của nhà báo Liên Xô. Qua bài viết nầy chỉ tóm lượt sơ qua về những sự kiện chính, để dành lại cho những nhận định thực trạng hôm nay, và tầm nhìn tương lai có thể đến.

A-Công Cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Miền Bắc 1949 - 1956

Có tất cả 5 giai đoạn (theo "Cuộc Cải Cách Ruộng Đất", Sử Gia Trần Gia Phụng) :

1-Giai Đoạn Sơ Khởi : 14/07/1949 - 11/02/1950 (khoảng 6 tháng rưởi)

Khoảng giữa năm 1949, vì nhu cầu cung ứng cho quân đội mới thành lập không lâu, nên Việt Minh (VM) thực hiện CCRĐ một cách tương đối nhẹ nhàng, và ưu đải tá điền (nông dân) bằng cách tịch thu ruộng của các điền chủ Pháp, và những người Việt bị kết tội thân Pháp ("Việt gian") đem phân chia "tạm thời" cho nông dân. Đồng thời qua Hội đồng Giảm tô, VM ấn định mức giảm tô (thuế mướn đất mà tá điền phải đóng cho điền chủ) từ 25% - 35% qua sắc lệnh 78/SL ngày 14/07/1949.

* Trong thời gian đầu của giai đoạn sơ khởi nầy, VM còn hoàn toàn hành động theo kế hoạch mình, chưa có bàn tay Bắc Kinh nhúng vào sai khiến, vì Mao Trạch Đông cũng mới vừa chiếm được lục địa Trung Hoa (1/10/1949). Ngày 15/1/1950, VM đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu sư trợ giúp (theo bbc.co.uk, "Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952)", 18/03/2004)

Tháng 2/1950, Hồ Chí Minh (HCM) qua Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa xin viện trợ. Stalin đã ra lệnh cho HCM phải thực hiện ngay hai việc : tái công khai đảng cộng sản và đẩy mạnh CCRĐ, và phải cử người sang Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) quan sát, học tập phương pháp CCRĐ đang tiến hành.

(Những ngày đầu của CCRĐ ở miền Bắc)                                 (Nông dân sung sướng được làm chủ ruộng đất)

2-Giai Đoạn Thứ Hai : 12/02/1950 - 19/04/1953 (khoảng 3 năm 2 tháng)

Trong năm 1950, nhằm đẩy mạnh sản xuất vì sự thiếu hụt lương thực cho bộ đội, nên VM tổng động viên nguồn nhân lực (người), vật lực (gia súc, nông cụ), và tài lực (tiền bạc) qua sắc lệnh 20/SL ngày 12/02/1950. Và sắc lệnh 89/SL ngày 22/05/1950, xóa bỏ những hợp đồng vay nợ cho tá điền trước 1945, cũng là một ưu đải khác để họ có thể ra công cực lực, và dành dụm tiền bạc, gạo thóc nhằm hoàn toàn phục vụ cho VM. Những đất đai bị bỏ hoang đều được quốc hữu hóa và tận dụng, đem chia cho nông dân tạm thời làm chủ trong vòng 10 năm, qua sắc lệnh 90/SL ngày 22/05/1950; đồng thời bắt buột điền chủ không được bỏ ruộng hoang.

* Đây là giai đoạn kéo dài nhất và nhiều sắc lệnh được đưa ra. Ngày 17/4/1950, nhóm cố vấn Trung cộng (TC) gồm 79 người, và một số trợ lý được thành lập. Lương thực, và số lớn vũ khí (chiếm được của Trung Hoa Dân Quốc, Tưởng Giới Thạch, mà họ được Hoa Kỳ trợ cấp lúc trước) được chuyển vào miền Bắc trong khoảng tháng 4 đến tháng 9/1950. Vị tướng quân sự TC nổi danh Trần Canh cũng đã có mặt ở miền Bắc, ngày 7/7/1950, và vào tháng 8/1950, Đại sứ TC, La Quý Ba đưa phái đoàn cố vấn 79 người qua.

Phong trào "Chỉnh huấn" năm 1950 trong nội bộ VM bùng nổ, sau cuộc gặp gỡ giữa các lãnh tụ cs. Đó là phương thức thanh lọc đảng viên theo ý kiến của cố vấn TC, qua việc tự phê, tự kiểm nhằm mục đích thách đố, kiểm tra lại sự trung thành tuyệt đối với tư tưởng chuyên chính vô sản, để hoàn toàn lột xác trở thành con người cộng sản thuần hóa trước khi bước vào những giai đoạn CCRĐ kế tiếp.

Sau những khóa học tập nhồi sọ tư tưởng vô sản, thử thách kiểm nghiệm đầu tiên của cố vấn TC là bản án tử hình Mẹ nuôi Nguyễn Thị Năm, còn được gọi là Bà Cát Hanh Long (người đã từng che chở, đóng góp tài vật, và nuôi dưỡng những cán bộ, bộ đội cs, trong số đó có cả Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, nhà thơ Hữu Loan, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Quang Dũng, v.v.) năm 1952 trong thí điểm CCRĐ tại 6 xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. "Trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bàiĐịa Chủ Ác Ghê”. Bài viết này đã được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 và phổ biến lại trong tập liệu này" (trich từ "Cuộc Cải cách Ruộng đất: Bà Cát Hanh Long, Nguyễn Thị Năm và ông Hồ Chí Minh", 19/07/2010, Nguyễn Duy Quanh).

Bà Cát Hanh Long, Nguyễn Thị Năm) * (Địa Chủ Ác Ghê : "…Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la…"

Giai đoạn nầy bị kéo dài vì VM quá bận rộn với những chiến trường như Vĩnh Yên (01/1951, cách Hà Nội 37 km), Mạo Khê, (gần Hải Phòng) với những tổn thất nặng nề, và hoàn toàn thất bại; kế tiếp là chiến dịch Tây Bắc (14/10/1952 - 10/12/1952) với kế hoạch và sự chỉ đạo của La Quý Ba, và Vy Quốc Thanh (theo bbc.co.uk "Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên", 24/03/2004), VM đã thành công chiếm giữ Lai Châu, Sơn La, Mộc Châu, Nghĩa Lộ, Yên Bái. Mở rộng hoạt động trong vùng Tây Bắc bao gồm Lào Cai. Đó là những vùng nằm trong CCRD sau nầy.

Chiến dịch Tây Bắc (14/10/1952 - 10/12/1952

3-Giai Đoạn Thứ Ba : 20/04/1953 - 18/12/1953 (khoảng 7 tháng)

Qua sắc lệnh ngày 20/04/1953 nhằm củng cố, cải tổ thêm vào chi tiết cho những sắc lệnh trước đó, đồng thời thành lập Ủy ban Nông nghiệp từ cấp xã trở lên, để giám sát sự thu hoạch, trưng thu cho VM, và đẩy mạnh tiến trình tịch thu tài sản "địa chủ ác ôn, Việt gian". Trong đó, theo chỉ đạo của TC, năm thành phần được phân biệt như sau :

a- Địa chủ: có nhiều ruộng đất mà không trực tiếp canh tác, và được chia ra ba hạng :

1. Địa chủ thường : có khoảng dưới 5 mẫu, đủ ăn, không phạm tội ác ôn.

2. Địa chủ cường hào ác bá : hiếp đáp, ngược đãi bần nông và bần cố nông.

3. Địa chủ phản động : quan lại phong kiến, Việt Quốc, Đại Việt, hay thân Pháp.

b-Phú nông : có khoảng 3 mẫu đất, một con trâu, trực canh và thuê mướn tá điền.

c-Trung nông : có dưới 3 mẫu, trực canh, đủ sống, và được chia ra hai hạng :

1. Trung nông cấp cao : có dưới 3 mẫu, một con trâu hay bò.

2. Trung nông cấp thấp : có dưới 1 mẫu.

d-Bần nông : có ít sào đất, không đủ sống, phải đi làm thuê hay thuê đất của địa chủ.

e-Bần cố nông: hoàn toàn không có đất, gia súc, nông cụ, làm thuê đủ thứ nghề để sống.

* Sau chiến dịch Tây Bắc, những cố vấn TC mới rảnh tay lên kế hoạch thúc đẩy CCRĐ, như trong đoạn trích đã viết : "Mùa xuân 1953, Zhang Dequn trở thành lãnh đạo ban củng cố đảng và Cải cách Ruộng đất (thuộc nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc). Để tăng lực lượng, Bắc Kinh gửi thêm 42 chuyên viên" (theo bbc.co.uk "Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên", 24/03/2004).

Hoạch định tiến hành CCRĐ đã chuẩn bị đầy đủ. Tổ đội gồm 7,8 cán bộ của Ủy ban Nông nghiệp túa về làng xã nhằm tuyên truyền, dẫn dụ, và khích động tâm lý quần chúng chống lại các điền chủ qua phương thức "tam cùng" (hay "tam đồng" là cùng ăn, cùng ngủ, và cùng làm) với bần nông để "thăm nghèo hỏi khổ" moi móc lý lịch mọi người, và sau đó "bắt rễ, xâu chuỗi" tạo những hạt nhân bần cố nông chuyên chính vô sản cho những cuộc đấu tố trước Tòa án Nhân dân, với nhiệm vụ là tố cáo nông dân theo chủ ý phân loại thành phần của Ủy ban Kháng chiến. Bản án của Tòa án Nhân dân luôn có tính cách chung thẩm (nạn nhân không được kháng án, chống đối hay khiếu nại với ai).

Tòa án Nhân dân đang khai diển * Chính thật là hai Ông Bà… địa chủ già ?

Trong bài viết "Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên" cho biết thêm:

"Trong chiến dịch Củng cố Chính trị, nhiều người có nguồn gốc nông dân và công nhân được thăng chức. Chiến dịch đã giúp tăng tinh thần cho quân đội, chuẩn bị họ cho cuộc quyết chiến với Pháp tại Điện Biên Phủ"

Và tác giả Qiang Zhai của “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” đã có nhận xét như sau :


"Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng, nhưng nó cũng để lại các hậu quả."

4-Giai Đoạn Thứ Tư : 19/12/1953 - 20/07/1954 (khoảng 7 tháng)Đảng Lao Động của VM sau kỳ họp đầu tháng 12/1953, cho ra một kế hoạch được soạn thảo kỹ lưỡng dựa theo Trung cộng và Hàn cộng, và phát động phong trào "Ruộng Đất cho Người Cày" qua sắc lệnh 197/SL ngày 19/12/1953 cho Luật Cải Cách Ruộng Đất ngày 4/12/1953, trong đó bao gồm:

a-Tịch thu và bãi bỏ quyền sở hữu đất đai của "thực dân Pháp" (Điều 1)

b-Ngoại kiều và gia đình họ có thể yêu cầu được phần chia (Điều 25, Phần 10)

c-Ngoại kiều được quyền sở hữu ruộng đất nếu làm mọi bổn phận như người Việt Nam (Điều 19)

d-Trưng dụng đất đai của những thành phần "tiến bộ" hợp tác với VM, và sẽ được bồi thường bằng công phiếu với lãi suất 1,5% mỗi năm (Điều 4)

e-Chia theo nhân khẩu, không theo sức lao động (Điều 26)

f-Người được phân chia có quyền sở hữu, chuyển nhượng, cầm, bán (Điều 31)

g-Những cơ sở tôn giáo có thể yêu cầu được phần chia ruộng đất (Điều 25, Phần 6)

h-Thiết lập Tòa án Nhân dân Đặc biệt để xét xử tranh chấp (Điều 36)

i-Quyết định về thành phần giai cấp phải do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính (Điều 34)

j-Nghiêm cấm mọi hành động chống lại (Điều 35)

Điều 19, và 20 nhằm miễn trừ đất đai của người ngoại quốc, đặc biệt là người Hoa Kiều dưới sự bảo trợ của CHNDTH.

* Vì giai đoạn thứ tư nầy nằm trong sự sống chết của VM trong trận chiến Điện Biên Phủ (13/03/1954 - 7/05/1954), nên sắc lệnh 197/SL trong tháng 12/1953 cho thấy csvn theo ý kiến của cố vấn TC Qiang Zhai đã tháo mở ra hơn nhằm dẫn dụ lôi cuốn giai cấp bần cố nông, và đánh lạc hướng tâm lý nông dân. Đó là mục đích của sắc lệnh trên, với những ưu đãi về quyền sở hữu, sử dụng đất đai, sang nhượng, mua bán, ngay cả với những tổ chức tôn giáo. Nhưng chỉ kéo dài được 7 tháng hơn, trước khi bước vào giai đoạn tranh đấu tận tuyệt sau cùng. Tuy nhiên, đảng Lao Động của VM vẫn không quên công ơn người Tàu với đặc quyền miễn nhiễm về đất đai mà đáng lý ra họ phải bị đấu tố từ lâu nếu sống trên đất TQ.

"Tình Hữu Nghị… Muôn Năm"… không sai ‼! * Tình Anh… Em vẫn mặn nổng !

Dân chúng hồ hỡi đi xem… văn công ?                                       Địa chủ… già "đền-nợ-máu-cho-nhân-dân" ?

5-Giai Đoạn Thứ Năm : 14/06/1955 - 30/07/1956 (khoảng 1năm)

Cuộc CCRĐ tạm đình hoãn vì sợ tiếng đồn lan truyền khắp nơi, khiến dân chúng sợ hãi di cư vào Nam sau Hiệp Định Genève 20/07/1954, nhưng cũng đã có khoảng 1 triệu người bỏ đất Bắc, đa số là giáo dân chiếm hơn 79%. Ngăn bởi vĩ tuyến 17, VM đã hoàn toàn nắm lấy chình quyền miền Bắc nên với sắc lệnh 233/SL ngày 14/06/1955 là quyết sách bần cố nông hóa mọi người dân, ngoại trừ giai cấp lãnh đạo của đảng. Sắc lệnh đó bày tỏ bản chất cộng sản chuyên chính qua sự khước từ quyền tư hữu của nông dân, truất hữu đất đai của các tổ chức tôn giáo, và trưng thu tài sản không cần bồi thường; đi ngược lại phong trào "Ruộng Đất cho Người Cày" trước đó, thay vào đó là Hợp tác xã, Quốc hữu hóa. Tất cả công dân được Tòa án Nhân dân quy định thành phần xã hội, phán xét, và cấm phản đối. Đây là giai đoạn sắt máu nhất từ năm 1955 đến 1956. Sắc lệnh 233/SL năm 1955 bổ sung thêm cho sắc lệnh 197/SL năm 1953, không những thành lập Tòa án Nhân dân đặc biệt qua đề nghị của Ủy ban Hành chính tỉnh, mà một Ủy ban CCRD Trung Ương cũng được hình thành để điều động, ra chỉ thị trực tiếp, và nhận chỉ đạo từ cố vấn Trung cộng, và HCM. Đứng đầu trong Ủy ban CCRĐ là Tổng bí thư Trường Chinh (Trưởng ban chỉ đạo trực tiếp), kế đến là 3 phụ tá đắc lực (theo wikipedia "Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam" ) :

-Hoàng Quốc Việt (Ủy viên Bộ Chính trị) : Trưởng ban chỉ đạo thí điểm.

-Lê Văn Lương (Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị) : Trưởng ban chỉ đạo thí điểm,

-Hồ Viết Thắng (Ủy viên dự khuyết Trung ương đảng) : Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch,

Và trong khoảng thời gian 23/10/1954 đến 30/7/1956 có tất cả 4 đợt CCRD khắp miền Bắc, chỉ sau khoảng 3 tháng từ cuộc di dân quy mô từ Bắc vào Nam.

* Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7/05/1954, qua kế hoạch của tướng TC

Vy Quốc Thanh, trưởng cố vấn quân sự (theo "Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên"), cùng số vũ khí dồi dào do TC viện trợ cho VM từ kho súng đạn Hoa Kỳ (kể cả những khẩu pháo 105, và 75 ly) của Tưởng Giới Thạch để lại, và dàn cao xạ của Liên Xô cung cấp, VM tạm thời tiến hành CCRĐ một cách trì hoản, nhẹ nhàng ở những vùng thí điểm trước đó. Trong khoảng nửa năm sau từ ngày chiến thắng, VM đã đẩy mạnh CCRĐ như cơn lốc làm đảo lộn niềm tin vào đảng, một số đảng viên tự động trả lại thẻ đảng viên nhưng vẫn bị theo dõi thường xuyên vì tình nghi có tư tưởng phản động, và số đảng viên còn lại tranh đấu nhau ngấm ngầm để khỏi bị vướng vào lao tù hay mang bản tử án.

Ngày 31/10/1955, đích thân ông Hồ Chí Minh sách động Ủy ban Cải Cách Ruộng Đất

Sau đây là một số hình ảnh đấu tố qua Tòa án Nhân dân đặc biệt, do nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912 - 1990) chụp vào năm 1955 tại miền Bắc Việt Nam.

B-Nguyên Nhân, Hậu Quả, và Kết Quả của CCRĐ

Đảng Lao Động (LĐ), tiền thân của đảng csvn, được thành lập ngày 19/02/1951, sau khi HCM gặp gỡ Stalin. Theo chiều hướng phục vụ vì cs quốc tế, đảng LĐ tuyệt đối tuân theo chỉ thị của hai lãnh tụ cs Stalin và Mao, và tuyệt đối trung thành, tin tưởng những lý thuyết, chính sách cs như một giáo điều vô sản, nên VM đã đem CCRĐ của Tàu vào miền Bắc thực thi mà không cần đắn đo suy nghĩ qua vai trò thừa hành theo ý của những cố vấn Trung cộng với quyền lực trên những tướng lãnh csvn. Điều nầy có thể chứng minh qua công cuộc đẩy mạnh CCRĐ sau khi giai đoạn sơ khởi chấm dứt vào khoảng tháng 02/1950, và mãnh liệt hơn vào khoảng giữa gian đoạn hai năm 1952, bắt đầu cho những cho màn đấu tố bằng đấu lý, rồi đấu lực, đến đấu pháp đối với người sống, và bằng đấu ảnh dành cho người tự tử trước khi bị xét xử vì không chịu nỗi hình ảnh bị sỉ nhục, đày đọa, và tra tấn hay người đã mất từ lâu trước khi có CCRĐ xảy ra.

(Một hình ảnh đấu tố bên Tàu nhưng gần như quen thuộc trên đất Bắc VN)

Vấn đề còn lại là nguyên nhân nào khiến csvn thành công trong việc dẫn dụ người dân, và đó là hậu quả trầm ngấm đớn đau cho dân tộc hay kết quả thành tích của đảng sau khi CCRĐ chấm dứt vào ngày 30/0 7/1956 ?

1. Nguyên Nhân

a-Dân trí quá thấp vì cuộc sống cơ cực, bần hàn nơi thôn quê vốn chịu nhiều thiệt thòi trong chiến tranh nhưng không được chính quyền nào trợ giúp.
b-Thỏa lòng đố kỵ, ganh ghét người có tài sản.
c-Thỏa lòng trút sự oán hờn cuộc sống mình trên kẻ khác.
d-Thoả mãn sự trả thù cá nhân khi có dịp.
e-Lợi dụng cơ hội hà hiếp, cưỡng bức người mà họ thầm ưa thích, ham muốn.
f-Được hả hê trong vai trò đấu láo không tội vạ qua sự khuyến khích bởi cán bộ cs.
g-Ảo tưởng hóa trong vai trò công cụ mới với những hứa hẹn, và lý tưởng cách mạng.
h-Được tâng công, ban bố chút tài vật, lương thực mà cs chiếm được từ địa chủ.

2. Hậu Quả

a-Phá vỡ nền luân lý gia đình, xã hội VN.
b-Gây chia rẻ, ngờ vực trong làng xóm, gia đình ngay cả người thân nhất.
c-Nỗi đau thầm lặng không được bày tỏ, biện minh của con cháu người còn sống sót.
d-Lòng nhân đạo được thay thế bằng hận thù dù không còn giai cấp địa chủ nào sau đó.
e-Mỗi cá nhân tự nhốt mình trong khung hẹp của mọi tư duy, hoạt động.
f-Sự chai lì tình cảm khiến người ta ưu ái cá thể mình hơn.

Thần tượng vô sản giáo của thế hệ nhóc) (Thế hệ mới toanh trong giai đoạn đấu tố

3. Kết Quả

a - Hàng triệu người di cư vào Nam trước giai đoạn thứ 5 (1955), khi Hiệp định Genève 54 vừa ký kết.
b - Con số khiêm nhường 172,008 người bị án tử trong đấu tố có 123,266 người bị oan trong 72% tỷ lệ (theo "Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945 - 2000", tập 2, ấn bản tại Hà Nội, năm 2004-mà Sử gia Trần Gia Phụng cho biết).
c - Cào bằng xã hội nông thôn trở thành bần cố nông toàn diện, để đi vào Hợp tác xã, Quốc hữu hóa, không còn giai cấp nào khác ngoại trừ giai cấp lãnh đạo của đảng csvn.
d - Thanh lọc hàng ngủ đảng viên, cán bộ cs để cốt ráo trong tư tưởng vô sản chuyên chính.
e - Loại trừ những đoàn thể có khuynh hướng dân chủ, quốc gia không thuộc cs quốc tế.
f - Biểu tượng bản án treo cho những ai chưa trở thành tín đồ vô sản hoàn toàn.
g - Tạo nên chế độ độc tài toàn trị duy nhất do đảng csvn lãnh đạo.

"Ông HCM nức nở trước khi đọc lời "sám hối"                                Lời "trần tình" cùng quốc dân của ông HCM

Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá 1 (29/12/1956 - 25/1/1957 đảng csvn tán dương về thành tích tổng kết trong giai đoạn cuối của CCRĐ

C. Hôm Nay và Ngày Mai

Tội ác của đảng csvn trong CCRĐ không thể chối cải đó dù được bi kịch hóa qua những bài diển văn trong quốc hội của HCM. Luật sư Nguyễn Mạn Tường, cựu thành viên Ủy ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã nhắc lại nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban CCRĐ là câu khẩu hiệu : "Thà chết mười người oan còn hơn để sót một địch." ("Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất - Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo").

Tuy nhiên, với cái nhìn của đảng LĐ, đó là một thắng lợi to lớn trong CCRĐ. Văn thư ngày 1/7/1956 gởi cho đoàn cán bộ CCRĐ (theo Sử gia Trần Gia Phụng), HCM đã tuyên bố :

"Bác thay mặt Đảng và chính phủ gởi lời an ủi gia đình những cán bộ đã hy sinh vì nhiệm vụ, đợt 5 cải cách ruộng đất rất gay go, phức tạp. Song nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và chính phủ, nhờ nông dân hăng hái đấu tranh nên chính sách cải cách ruộng đất đã thu được thắng lợi to lớn."

Trường Chinh cũng hân hoan trong "Sửa Sai và Tiến Lên": "Củng cố công nông liên minh, giữ vững và phát triển thắng lợi của Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc"

Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, và Hồ Viết Thắng là những tội đồ của dân tộc hay là những đảng viên suất sắc của đảng csvn ? Câu trả lời đó được nhận định rõ ràng đối với đảng csvn qua những vai trò lãnh đạo khác nhau của họ sau CCRĐ trong một thời gian tạm ngừng chức để nghĩ ngơi. Nhưng với những oan hồn uất ức, xin dành cho dân tộc Việt Nam tự hỏi lòng mình !

1. Hôm Nay

Trong tác phẩm nghiên cứu "HỒ CHÍ MINH. Nhận Định Tổng Hợp" của nhà Biên khảo Minh Võ, xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2003, có đoạn nhắc đến khoảng cuối giai đoạn hai như sau :

"Sắc lệnh 149/SL qui định về chính sách ruộng đất và sắc lệnh 151/SL qui định về trừng trị địa chủ do Hồ Chí Minh ký ngày 12-4-1953 là thời gian đang tiến hành chiến dịch giảm tô mà ý nghĩa đã được diễn tả như sau: “Nhà Nước Việt Nam đã quyết định đưa đấu tranh phản phong tiến lên một bước mới, tiếp thu kinh nghiệm của Trung Quốc đã sử dụng bạo lực chính trị của quần chúng đấu tranh đòi địa chủ phải giảm tô, giảm tức.”"

Có phải chăng cũng là một sự "tiếp thu kinh nghiệm của Trung cộng đã sử dụng bạo lực" được công an, an ninh csvn hôm nay thể hiện một cách rất nhuần nhuyễn trên người dân dù họ hoàn toàn vô tội hay chỉ phạm phải một lỗi nhỏ không đáng kể ? Và "chính trị của quần chúng", có phải chăng cũng chỉ là qua những bản tin luôn xảo trá một cách điêu luyện, sửa sai sự thật bằng sự lố bịch, trơ trẻn mà không bao giờ cảm thấy hổ thẹn với lương tâm, dù trên cùng một sự kiện? Những hình ảnh là sự thật không lời nói, vì lẽ chúng tự nói lên trong lương tâm của người nhìn thấy. Và đây là một vài tiêu biểu trong ngàn sự thật, trong thời gian không xa:

Tính đến năm 2009, VN có khoảng 6.000 luật sư (theo bbc.co.uk, "Việt Nam cần nhiều luật sư giỏi", 9/12/2009), hay theo như mong muốn của Thủ tướng Dũng là 20.000 vị trong năm 2020, nhưng có được bao nhiêu luật sư dám đứng ra đảm trách việc tố tụng cho dân oan ? Ngoại trừ một số không quá 10 luật sư như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật, hết lòng vì đám dân ngu, nghèo hèn, nhận lấy vụ kiện để rồi bị sa thải bởi Đoàn luật sư qua chỉ đạo quyền lực của đảng csvn. Đến nỗi một cụ bà 77 tuổi đã về hưu, phải đứng ra làm công việc luật sư dùm cho dân oan (theo bbc.co.uk, "Cụ bà 77 tuổi quyết chống tham nhũng" , 6/07/ 2007) mà cũng còn bị đe dọa. Cụ bà cho biết :

''Hiện nay đang giải quyết một vài cá nhân đến đe dọa tôi, trấn áp tôi, bảo tôi đừng làm cái việc chống tiêu cực nữa."

Và cho biết thêm rằng : ''Cả Việt Nam có 64 tỉnh thành phố thì trong tay tôi đã có hơn 50 tỉnh thành phố bà con nhân dân đã tìm tới tôi, ở gần thì đến tôi, ở xa thì gửi đơn thư."

Không biết cụ bà đã giúp được bao nhiêu vụ kiện được giải quyết thỏa đáng, ngoài trừ nhận đơn từ dân khiếu kiện rồi gởi đến cơ quan nhà nước nào đó theo sự hiểu biết của bà. Dĩ nhiên cụ bà cũng chẳng hơn kém gì một người dân bình thường, không quyền lực gì cả dù trước đây bà cũng là một người lính chiến đấu vì hai chữ "tổ quốc" mà đảng csvn thường phóng to ra.

Vì theo lời cụ bà thì : ''Hiện nay tôi đang băn khoăn, day dứt rất nhiều với những vấn đề là người ta không nghiêm túc giải quyết. Người ta tránh, người ta không muốn giải quyết. Họ nói họ bận họp, bận này, bận kia, chỉ tôi tới chỗ này, chỉ tôi tới chỗ khác. Tôi không biết là do sự bênh vực hay vấn đề gì khác nhưng có những sự việc tôi báo cáo hàng năm nay rồi mà vẫn không được giải quyết.''

Cụ bà thố lộ trong "Bà Lê Hiền Đức nói về tham nhũng và đất đai", 24/9/2008, như sau:

"Riêng về vụ người Công giáo đòi đất ở Tòa Khâm sứ Hà Nội, bà Đức, người nói rằng bà liên tục quan tâm đến các vụ kiện đất đai, lại nói bà không để ý quan tâm mà chỉ nghe trên truyền thông nhà nước." Với chiều hướng "chỉ nghe trên truyền thông nhà nước" kiểu đó, nên cụ bà mãi mãi vẫn "băn khoăn, day dứt" và "không biết là do sự bênh vực hay vấn đề gí khác". Dù sao đó cũng là một tấm lòng đáng ngợi khen ngàn lần hơn so với những 5.990 luật sư còn lại ở Việt Nam. Tuy nhiên khi được đề cập đến vấn đề "nhột nhạt" (nhạy cảm) của chính quyền đối với giáo dân Thài Hà, thì cụ bà cũng đành xin "hai chữ bình an".

Hôm nay lực lượng công an, an ninh đang đóng lại vai trò "bần cố nông" để quy hoạch, cưỡng chiếm đất cho nhà cầm quyền mà không cần dùng đến hình thức đấu tố lỗi thời, và quá nhiều lời nguyền rủa. Chúng dùng luật pháp cs để hành xử, quy tội thay Tòa án Nhân Dân. Một luật pháp được viết ra với mục đích bảo vệ quyền lực đảng, ngoài ra tất cả những quyền cơ bản dành cho công dân chỉ là văn bản của từ ngữ muốn bóp méo, hay hiểu sao cũng được, mà đa số luật sư không dám than phiền hay đứng ra lên tiếng. Trong cái gọi là hình thức dân chủ hóa đó, cũng có quốc hội, hiến pháp, luật pháp, nhưng hoàn toàn chỉ là theo mô hình biến đổi từ Tòa án Nhân Dân trong CCRĐ ngày nào. Vì một khi nhà cầm quyền vung tay luật, là bắt buột mọi người phải tuân theo, cấm chống đối (như trong sắc lệnh 150/SL, 12/04/1953, Điều 2; sắc lệnh 151/SL, 12/04/1953, Điều 1) nếu không muốn bị quy là phản động, Việt gian (như theo sắc lệnh 133/SL, 20/01/1953).

Cho dù Hà Nội có "ban hành quyết định trợ cấp cho một số trường hợp có tài sản bị trưng thu, trưng mua trong thời kỳ cải cách ruộng đất với mức 3 triệu đồng/trường hợp" (trích từ "Hà Nội: trợ cấp những người bị trưng thu tài sản", 07/10/2004, tuoitre.vn), nhưng phải thỏa mãn đòi hỏi của sự hợp thức hóa như : "đơn đề nghị, có xác nhận của chính quyền địa phương và của người làm công tác cải cách ruộng đất hoặc những người đã sử dụng tài sản của gia đình trong thời kỳ đó"

Với tình trạng xã hội năm 2004, nếu dân oan trong thời kỳ CCRĐ muốn được đền bù 3 triệu đồng, phải qua giai đoạn "xác nhận của chính quyền địa phương và của người làm công tác CCRD" thì đó quả là một chặn đường gian nan khó tưởng, trừ khi 3 triệu được chia đều cho cả 3 phía để công việc xác nhận giấy tờ chứng minh là dân oan và tìm người làm công tác CCRĐ được thuận tiện thông qua dễ dàng hơn. Và nếu là trường hợp địa chủ bị oan thì "phải có chứng nhận của cấp có thẩm quyền sửa sai"! Thời gian hạn định chỉ trong vòng nửa năm (07/10/2004 - 31/03/2005) để chạy đôn chạy đáo xin tờ chứng nhận cho 200 đô (theo hối suất năm 2004).

Danh dự không thể đánh giá bằng tiền bạc, mà tiền bạc chỉ có giá trị tượng trương cho danh dự, nên người ta thường đòi hỏi sự đền bù bằng "một đồng danh dự". Tuy nhiên, có lẽ nhà cầm quyền cs có cái nhìn thực tế hơn trong tư tưởng vô sản khi nghĩ rằng 3 triệu đồng đáng giá hơn 1 đồng danh dự! Giả như đem 3 triệu đồng đổi ra tiền đơn vị nhỏ nhất, chắc cũng có thể dán đầy 4 bức tường hầu che lấp những vết nhơ tội lỗi, ngoại trừ những cửa sổ tâm hồn không bao giờ che khuất được. Đó là giá trị cơ bản của con người, nếu bị chối bỏ họ sẽ không khác gì những loài hạ cấp khác.

2. Ngày Mai

Ngày mai là ngày có thế rất gần, mà cũng có thể rất xa. Như trong một sáng thức dậy, Mẹ nuôi của đảng Lao Động (tiền thân của đảng csvn), Bà Cát Hanh Long cao sang tự nhiên biến thành kẻ tử tù của đảng. Hoặc một ngày mai, không còn được nhìn thấy những tháp nhà thờ cao vút, hay nghe tiếng kệ kinh từ thiện từ ngôi chùa nào gần đó mà thay vào đó những lời ê a đầy "minh triết chính trị vô sản" vang loa đài từ những biệt thự chùa quốc doanh dát vàng tráng lệ. Tất cả nhân dân VN và TQ sẽ có cùng một tôn giáo là "Minh Triết Hồ Mao" (Hồ Mao = lông chồn).

Ngày nào đảng cs đã làm cuộc cải cách ruộng đất, rồi cải cách tất cả hệ thống giáo dục, xã hội, luật pháp v.v. thì dĩ nhiên cũng có thể sẽ có cuộc cải cách ruộng… trời (!?). Đó mới thật là thiên đàng cộng sản ! Dân sẽ được cấp phát thánh kinh "Minh Triết Hồ Mao" để tu luyện học hỏi mỗi ngày nhằm cùng nhau bước vào thiên đàng cộng sản đang được xây dựng. Nếu nhìn quanh những gì đang diển tiến hôm nay, điều nầy không hẳn là cách nói đùa ! Sự thật là cs rất lo sợ mất lòng dân, như nhà thờ không có tín đồ, nên cs sẽ dần phá bỏ tất cả những tôn giáo khác bằng mọi cách hay biến dạng giáo thể, giáo quy theo chiều hướng một tôn giáo cộng sản riêng biệt. Vì chỉ có cách đó, cs mới có thể dẫn dụ, cai trị muôn đời trên những vùng đất lấn chiếm được.

Có bao giờ người ta tự hỏi tại sao những nơi nào thuộc về cộng sản, tất cả dân chúng phải học nhồi đường lối chính trị đảng, tư tưởng nhân vật lãnh đạo cs, từ những tuổi còn lớp tiểu học đến suốt một đời người qua những nhóm họp hội đoàn, phố phường, làng xã, v.v. , thêm vào đó là những buổi bồi dưởng, thảo luận, học tập chính trị v.v nơi làm việc ? Có quốc gia tự do nào như chủ nghĩa cộng sản, bắt buộc mọi người phải học và học lấy học để một thứ tư tưởng chính trị nào đó không ? Và tại sao lại cứ mãi vẫn là chính trị, rồi tư tưởng đảng ? Phải chăng có điều gì mờ ám, không ổn, lẩn gian xảo trong đó mà cs luôn lo ngại bị khám phá ra, nên cứ bắt buộc toàn dân tộc nhồi nhét mớ chính trị cs, như trò thôi miên thần trí bằng cách chong mắt theo những vòng xoáy tròn, hay sự nhấp nháy của vài ngọn đèn sáng chói ?

Nếu tư tưởng cs thực sự tốt đẹp và hữu ích cho nhân loại, như hằng được tuyên truyền là minh triết, thì tại sao đảng lại lo sợ người dân bị dẫn dụ theo tư tưởng khác ? Có phải chăng tư tưởng cs được tạo ra từ một con người rất phàm tục (tham lam danh vọng, tiền của; ham muốn nhục dục; ưu thích được sung sướng; biết đào sâu hận thù, gian xảo; v.v.) như chính cuộc đời của những lãnh tụ cs quốc tế ? Như vậy đó có phải là minh triết cs không ? Hay chỉ toàn là đấu tranh giành lấy chính quyền, đấu tranh triệt tiêu những ai đối lập v.v. rồi lại phấn đấu đạt thắng lợi, phấn đấu tiến mau, tiến mạnh v.v. Trong đó chỉ toàn là những tham vọng thấp hèn mà không một nhà tư tưởng thế giới nào xem là minh triết. Đó là một điều tất nhiên, rất khẳng định ! Hoặc nếu có chăng, khi những kẻ a dua đua nịnh theo chế độ cs, đem vài tư tưởng học thuật của những nhà tư tưởng lớn trên thế giới, rồi sửa đổi vài chữ, nhồi nắn vài câu, sau đó tộng nhét vào cái minh triết cs.

Và lần nữa xin hãy đọc lại một dòng nhận định của Sử gia họ Trần về số người bị can lụy trong CCRĐ qua phương châm ""trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn" như sau :

"Chỉ riêng với số 172,008 người bị giết, nếu tính trung bình một gia đình Việt Nam gồm có 5 người (vợ chồng và 3 con), thì số người bị liên lụy trong cuộc CCRĐ có thể lên đến 172,008 X 5 = 860,040 trong tổng số khoảng 10 triệu dân ở các làng xã đã thực hiện CCRĐ đợt thứ 5" Xin nhắc lại lần nữa, con số 172,008 nầy chỉ là một con số được ước lượng tối thiểu nhất mà cuốn sách "Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945 - 2000", tập 2, ấn bản tại Hà Nội năm 2004, thông báo. Dĩ nhiên, con số thực sự có thể gấp 2 hoặc ba lần như thế ! Hãy nghe Bùi Tín, một nhân vật từng là Phó tổng Biên tập của báo Nhân Dân, và là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, kể lại trong "Nhìn lại cuộc Cải cách ruộng đất: Những bài học còn nóng hổi" , 10/2006, theo thống kê nội bộ của đảng cs (chưa được công khai hóa), ở những vùng đã làm CCRĐ :

"Như vậy là đã có hơn 80 ngàn gia đình địa chủ đã bị bắt bớ, đấu tố, hành hạ; mỗi gia đình có trung bình 4 đến 5 người, bị liên quan, nên số bị nạn lên đến 400 ngàn người. Họ mất nhà, mất tiền của, một số tự sát, còn sống cũng đói khổ, ốm đau, suy kiệt; khá đông gia đình bị tan vỡ, con cái thất học, bơ vơ…

Số "cường hào ác bá’’ (bị coi là oan hay không oan) bị tù đầy, đánh đập, tra tấn rồi bị bắn lên đến hơn 26 ngàn, tính cả gia đình bị điêu đứng theo thì con số bị nạn có thể lên đến hơn 100 ngàn. Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người.

Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này - nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố - đã được giữ rất kín"

"… Tại cuộc mít tinh tối 29-10-1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi!"

Đó là những con số dựa theo tài liệu mà cs lưu giữ, và có lẽ ông Bùi Tín cũng đã biết được từ tài liệu cs nào đó, nên cho ra hai con số tổng kết gần như nhau. Điều đáng chú ý là con số không nhỏ của 84.000 đảng viên cs cũng bị xử lý. Đó có thể chính là kết quả của sắc lệnh 133/SL, 20/01/1953.

D. Bình Kết

Thực chất của CCRĐ trong giai đoạn cuối là thanh lọc đảng bộ nhằm loại bỏ thành phần trí thức địa chủ đã từng theo kháng chiến chống Pháp năm 1954, vì con số địa chủ cường hào ác bá đã bị tận diệt từ những giai đoạn trước đó từ lâu rồi, nên Ủy ban CCRĐ đã đôn thành phần trung nông lên để đạt chỉ tiêu đề xuất là 5% cho mỗi tỉnh. Trong khi phần đông số đảng viên trí thức địa chủ đều nằm trong thành phần đó. Họ là những người có trình độ, được học hỏi, hấp thụ cái hay, cái đẹp của nền văn minh Pháp quốc; vì thế đó là một sự đe dọa cho sự phát triển của đảng csvn với thâm ý dùng giai cấp bần cố nông, hạn hẹp kiến thức, dễ sai khiến, nên dễ nhòi nắn tư tưởng cho vai trò lãnh đạo bù nhìn, chỉ một mực trung thành đến sống chết, làm theo chỉ đạo mà không cần thắc mắc, và bất chấp tất cả thủ đoạn để hoàn thành công tác. Ngoại trừ một số trí thức biết cách uốn nắn tư tưởng theo sự đòi hỏi của đảng, mới được tồn tại trong vị trí. Điểu nầy được chứng minh qua những cuộc thanh trừng đồng chí mình sau khi CCRĐ kết thút năm 1956, vì tư thù, ghen ghét, tranh chức, giành công v.v.

CCRĐ hình thành một bản án treo vô hình chung trên đầu mỗi đảng viên cs, mà họ không sao quên được con số 72.000 (84.000 - 12.000) đảng viên bị tử hình nhiều hơn gần gấp ba lần con số địa chủ ác ôn bị bắn chết (26.000), trong giai đoạn cuối đó. Đây chính là chỉ đạo của TC mà HCM phải tuân hành!

Qua những ký kết mới đây của Nguyễn Phú Trọng với TC cũng có thể có những chỉ thị kèm theo sau đó khi mà chiếc máy chém Bắc Kinh lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu những cán bộ đảng viên csvn vì phần đông đảng viên hôm nay có sự tiếp cận với thế giới tự do khá nhiều để di chuyển tài sản, gởi con cháu du học, xây dựng xui gia v.v. Đó là những chiều hướng có thể ảnh hưởng đến tư tưởng cs quốc tế, trong mầm mống ung bại có lợi cho kẻ thù số một của Trung cộng là Hoa Kỳ.

Hành Khất (Cùng sự đóng góp của những thành viên Hội Cái Bang và Bị Gậy 9-túi)

danlambaovn.blogspot.com

Phụ Chú :

1-"HỒ CHÍ MINH. Nhận Định Tổng Hợp", đây là toàn bộ cuốn sách được soạn rất công phu và sâu sắc của nhà Biên khảo Minh Võ.

2-"CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC 1949-1956" : gồm tập 1, tập 2, và tập 3, (dưới dạng pdf) được khối 8406 bỏ công ra thâu thập những bài viết, phỏng vấn của nhiều tác giả khác nhau.

3-"Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952)" dựa theo những sự kiện trong “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” của Qiang Zhai, xuất bản 2000, bản tiếng Anh. Đồng thời trong cuốn sách đó có nói đến những trợ giúp về quân sự, lương thực, và nhất là vai trò của cố vấn TQ quyết định cho chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954. (Tuy nhiên, sự trợ giúp quân sự và sự có mặt của cố vấn Liên Xô cũng góp phần không nhỏ trong trận chiến đó)

4-Một số nguồn mạng được tham khảo : www.bbc.co.uk ; www.viethuc.org ; www.vi.wikipedia ; www.talawas.org; chinhphu.vn ; dantri.com.vn ; moj.gov.vn ; tuoitre.vn

Hỡi những người cộng sản
Mỗi thức dậy sáng mai
Có bao giờ sợ hãi
Hương cách mạng hoa lài ?



Posted on 11/07/2011 4:50 PM

Giáo xứ Thái Hà và khát khao Công lý

Phạm Hồng Sơn


Hà Nội chắc chắn sẽ chẳng có những không gian xanh quí hiếm giữa lòng Thủ đô như Vườn hoa Hàng Trống và Vườn hoa 1-6 như hiện nay nếu không có những đêm dài thắp nến trong mưa gió, giá rét, nếu không có những ngày tù, những giọt mồ hôi và hơn cả mồ hôi của hàng ngàn người Công giáo vào những năm 2007, 2008 tại phố Nhà Chung và Thái Hà. Nhưng ban đầu chắc không có nhiều người (ngoài Công giáo) quan tâm hay ủng hộ những đêm thắp nến đó vì nghĩ rằng những giáo dân của giáo xứ Thái Hà và người Công giáo đấu tranh với chính quyền về vấn đề sở hữu đất đai, nhà cửa chỉ nhằm cho mục đích tín ngưỡng riêng của người Công giáo. Hoặc ngay cả khi nhìn thấy những khẩu hiệu “Công lý và Sự thật” được giơ lên từ những bàn tay của người Công giáo, chắc cũng không có nhiều người tin vào mục đích cao đẹp đó. Tuy nhiên, sự nghi kỵ, hẹp hòi đó (nếu có thực) cũng là điều thường tình trong các xã hội đã phải sống lâu dưới một chế độ luôn kêu gọi “đấu tranh giai cấp” và coi “tôn giáo là thuốc phiện”.

Nhưng ngay cả khi người Công giáo đấu tranh chỉ nhằm để bảo vệ, đòi hỏi quyền lợi (chính đáng) cho người Công giáo thì sự đấu tranh đó cũng đã mặc nhiên đóng góp cho việc bảo vệ hay lập lại Công lý cho tất cả mọi người. Vì xã hội loài người sẽ không thể có Công lý nếu không có người dám đấu tranh cho sự công bằng của chính bản thân mình. Sự đạt được Công lý của người này chính là tiềm năng Công lý cho mỗi người khác.

Cuối tháng Mười vừa qua các linh mục, tu sĩ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà lại tiếp tục đề đạt nguyện vọng chính quyền phải trả lại cho Dòng Chúa Cứu thế (DCCT) Hà Nội một số bất động sản (tu viện và đất đai liên quan) đã bị Nhà nước “mượn”. Nhưng, đề đạt đó của Giáo xứ Thái Hà, cho đến nay, vẫn chỉ nhận được những phản hồi thiếu tích cực và rất thiếu văn minh từ phía chính quyền như “quần chúng tự phát”, ngày 03/11/2011, ùa vào nhà thờ Thái Hà với nhiều hành vi khiếm nhã, xúc phạm thánh thất, tu sĩ hay các bài viết, phóng sự thiếu trung thực, thiếu công bằng, nhân ái đối với Linh mục chánh xứ, tu sĩ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà.

Dĩ nhiên trong một chế độ chính trị dù đã theo “kinh tế thị trường” nhưng vẫn còn kiên định “tiến lên CNXH” thì người cầm quyền vẫn chưa quen với những “yêu cầu, yêu sách” và khó chấp nhận phải trả lại tài sản “đã mượn” cho chủ sở hữu là dân thường hoặc tổ chức phi nhà nước. Nhưng chắc chắn tất cả những người cầm quyền hiện nay không bao giờ lại muốn người thân và con cái họ - những người đang là chủ sở hữu các bất động sản tại Mỹ, Pháp hay Thụy Sĩ, lại bị rơi vào tình cảnh của những cá nhân hay tổ chức như Giáo xứ Thái Hà hiện nay. Người ta có thể bất chấp Công lý khi có quyền hay quên mất phải đấu tranh mới có Công lý khi sống lâu trong kìm kẹp. Nhưng khát khao Công lý luôn thường trực trong mỗi con người.

Như vậy, hành trình đi tìm Công lý của Giáo xứ Thái Hà sẽ còn dài và có thể còn gặp nhiều hiểu lầm, khó khăn, khổ nạn. Nhưng chắc chắn hành trình đó không đơn độc. Vì Công lý đang là khát khao chung của mọi người Việt còn lương tri, dù là Công giáo, Phật giáo, cộng sản hay không cộng sản. Khát khao Công lý không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn đang là đòi hỏi bức thiết cho sự tồn vong của cả xã hội, dân tộc Việt. Như thế, đàn áp hay bất chấp Công lý vào lúc này chỉ làm cho khát khao Công lý càng khao khát, càng lan rộng và gắn kết thêm hơn.

Phạm Hồng Sơn
07/11/2011

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/



Posted on 11/07/2011 1:29 PM

Phụ nữ Mỹ gốc Việt đặt các quy tắc nghiêm ngặt đối với quý ông trở về quê hương

John Boudreau
Tạ Dzu dịch

Thủy thủ HK nói chuyện với phụ nữ Việt trong một quán bar ở Đà Nẵng. Ảnh: Hoàng Đình Nam

SAI GÒN, Vietnam — Mỗi khi ông chuẩn bị trở về quê hương, Henry Liêm bắt đầu gặp các rắc rối.

Nhận được thị thực từ chính phủ Việt Nam thật mát như một làn gió biển. Nhưng cái “thị thực thứ nhì” – từ người vợ lo lắng rằng ông sẽ đi lạc bên đó – mới đòi hỏi kỹ năng ngoại giao.

“Vợ tôi luôn luôn cáu kỉnh mỗi khi tôi đi”, ông Liêm, một giảng viên triết tại đại học San Jose City, người mỗi năm về hai lần dạy học tại một trường đại học [VN] nói như vậy. “Bởi thế hiếm khi tôi cho biết chuyến trở về kế tiếp cho đến giây phút cuối. Nó giảm thiểu sự bực bội. Bả càng biết sớm bao nhiêu, tôi càng phải chịu đựng sự bực mình lâu bấy nhiêu.”

Ba mươi sáu năm sau khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, viên chức chính quyền cộng sản cởi mở đón chào người Mỹ gốc Việt trở về, ngay cả những người từng chiến đấu chống lại họ. Nhưng cuộc Nội chiến khác đã nổ ra, lần này đàn bà Mỹ gốc Việt chống lại những ông chồng và người tình của họ quay lại quốc gia Đông Nam Á này. Qúy bà yêu dấu của quý ông cho rằng phụ nữ Việt Nam thường chờ sẵn, phục kích như trong trận chiến mong đem đến một sự ổn định tài chánh.

“Tất cả các cô gái ở Việt Nam mạnh bạo. Họ tấn công!” Hà Tiên, 38, người sở hữu một văn phòng kế toán tại San Jose nói thế. Cô cho biết cô bị mất người đàn ông của mình vì vụ du kích tình yêu như vậy vài năm trước đây.

Quý bà rất lo sợ

Sự căng thẳng về vấn đề này đã đạt đến con số lịch sử trong cộng đồng Việt Nam ở Bay Area và các vùng khác. Các tiểu phẩm hài Việt ngữ diễu cợt sự xung đột gia đình này và các diễn viên cũng hát diễn về điều đó. Nó là đề tài số 1 đối với quý bà, Tiên nói. Mỗi lần người đàn ông du lịch về đó một mình, cô thêm, được hiểu rằng ông ta không chỉ về thăm Chú Vũ hay Cô Thuý, nhưng còn là đi chơi với cả đám gái trẻ đẹp.

“Không gia đình Việt Nam nào (ở Sillicon Valley) không biết một người đàn ông nào đó đã từng làm như vậy,” Tiên cho biết.

Hiên Nhan, chủ nhân Polo Bar ở trung tâm nhộn nhịp của thành phố Hồ Chí Minh, cho biết rằng phụ nữ Mỹ gốc Việt có nhiều lý do để lo ngại.

“Vấn đề là, phụ nữ Việt ngày càng đẹp hơn và đẹp thêm,” Nhan nói, ngồi lên chiếc ghế tại cơ sở ấm cúng của ông ta phục vụ bia tươi, bánh mì kẹp thịt và nữ nhân viên trong các chiếc váy ngắn cũn cỡn vuốt ve tán tỉnh nam khách hàng nào mà họ thích. “Họ trang điểm kỹ lưỡng. Họ ăn uống đầy đủ. Họ luyện tập cơ thể.”

Và họ không ngần ngại cho người ngoại quốc biết rằng họ rất cởi mở cho một quan hệ vui đùa, qua đường hay nghiêm chỉnh.

“Theo truyền thống thì trai đuổi theo tán tỉnh gái,” Liêm cho biết. “Bây giờ ở Việt Nam thì ngược lại.”

Một viên chức kỹ thuật ở Sillicon Valley không cho biết tên vì sợ rắc rối đến thị thực thứ nhì nói rằng: “Bạn luôn bị tấn công. Ngay cả ở khách sạn. Vừa làm thủ tục vào khách sạn là bị liền. Tôi không thể đi VN quá mười ngày mỗi lần. Nếu không là gặp rắc rối.”

Những người cần có thị thực thứ nhì thường bị chế tài nghiêm ngặt, Peter Nguyễn tại San Jose, người mới có bạn gái ở thành phố HCM cho biết. Cách đây không lâu, bạn của anh ta đã ở lâu hơn hai tuần mà thị thực thứ nhì của cô bồ cho phép. “Khi hắn ta trở lại, cô đã quẳng tất cả đồ đạc của hắn ra đường.”

“Hắn ta quá vui,” Nguyễn nói thêm. “Các cám dỗ thật tuyệt vời. Đàn ông 50 hoặc trên có thể cua gái trong lứa tuổi 20 nhìn y như người mẫu. Không thể bỏ qua cơ hội quá tốt.”

Tính vui đùa thấm nhập vào văn hóa VN khiến quý ông viếng thăm từ các quốc gia khác không thể cưỡng lại được.

“Có một nét duyên dáng nhất định ở đây mà bạn không tìm thấy ở Singapore hay Trung Quốc,” Chung Hoàng Chương, một giảng viên trong phân khoa nghiên cứu người Mỹ gốc Á tại City College of San Francisco, người dành nửa thời gian ở VN nói vậy. “Nếu bạn gạ gẫm một cô gái, cô sẽ không đuổi bạn đi. Cô ta sẽ trả lời với một nụ cười.”

Vai trò tán tỉnh truyền thống của đàn ông bị đổi ngược lại, một phần là vì sự phổ biến của văn hóa Tây phương và các điều kiện kinh tế nghèo nàn tại Việt Nam. Thật vậy, ông Nguyễn 40 tuổi, người làm dịch vụ phục vụ khách hàng nhưng bây giờ thất nghiệp, cho biết bạn gái tại Việt Nam đã bỏ anh vì anh không tìm được việc làm tốt ở VN.

Chỉ vì tiền bạc

Việt Nam là một xã hội với dân số trẻ trung – 70% của 90 triệu dân số quốc gia trẻ hơn 35 – và người trẻ từ thôn quê đổ về những thành phố lớn tìm kiếm cơ hội. Việt kiều, danh từ dành cho người Việt sinh sống ở nước ngoài, và người ngoại quốc, được xem như những đuổi bắt lý tưởng đối với một số phụ nữ, bởi họ có thể hỗ trợ những phụ nữ này và gia đình.

“Lương cao, việc tốt, rất khó kiếm,” ngay cả với người Việt Nam tốt nghiệp đại học, Nhan nói vậy.

Nguyễn Lệ, 29, một người điều hành quán cà phê vệ đường ở thành phố HCM, nói rằng cô và nhiều phụ nữ khác rất yêu thích Việt Kiều và người nước ngoài vì nhiều lý do, đầu tiên là bảo đảm tài chánh.

“Họ có nhiều tiền, thu nhập nhiều hơn”, Nguyễn nói thế. “Và họ chu đáo, dịu dàng hơn và chăm lo cho phụ nữ của họ. Dưới mắt người nước ngoài, tình yêu rất quan trọng đối với họ, hơn là đàn ông VN đối với tình yêu.”

Không tìm ra sự ngờ vực

Dẫu sao, một số quý ông nói rằng sự ngờ vực hầu hết đàn ông Mỹ gốc Việt về nước ăn chơi là quá đáng. Rất nhiều Việt kiều trở về chỉ vì công việc hoặc thăm viếng gia đình.

“Chúng tôi yêu sự vui thú nhưng chúng tôi không dại,” Khanh Trần, một giáo viên nghỉ hưu sống tại San Jose nói vậy. “Tôi vẫn khoẻ, nhưng tôi sẽ không làm (điều xằng bậy ở VN), để đánh đổi gia đình tôi, vợ tôi. Chúng tôi sống với nhau hơn 40 năm.”

Dù vậy, vợ ông, không muốn tạo cơ hội, từ chối cấp cho cựu sĩ quan trong quân đội miền Nam Việt Nam một thị thực thứ hai. “Tôi mong muốn quay trở lại,” ông nói với giọng buồn bã.

Ngày càng tăng, một số người Việt cho biết, sự hấp dẫn của người nước ngoài nhạt dần vì sự xuất hiện của tầng lớp giầu có mới, bao gồm nhiều triệu phú. Và một số nam Việt kiều mang tiếng xấu vì họ hành xử như những playboys phung phí tiền bạc và thuyết phục phụ nữ rằng họ rất chân thành – nhưng rồi trốn biệt khi quay trở lại Mỹ.

Nhưng có những lúc Việt kiều kết cuộc trong thua lỗ. Một số cưới và đem cô dâu mới về Mỹ, khám phá ra rằng những phụ nữ này đã hình dung một cuộc sống khá giả mà quý ông không thể cung ứng, dẫn đến xung đột rồi ly dị.

Nam Việt kiều nhận được rất ít sự cảm thông từ các nữ Việt Kiều về tình cảm lăng nhăng của họ, dù nó dẫn đến tình yêu hay đau khổ. “Chúng tôi đổ lỗi cho đàn ông vì các yếu điểm của họ, vì họ thiếu trách nhiệm,” Hạnh Lê, 31, cư dân San Jose nói thế.

Trở về Việt Nam không hấp dẫn mấy đối với phụ nữ như cô ấy: “Có câu nói, ‘Nếu một cô gái quay về VN thì cũng y như chở củi về rừng.’”

Nguồn: Mercury News
http://www.danchimviet.info/archives/45389



Posted on 11/07/2011 1:06 PM

"xuan nguyen" balamatusa@gmail.com


VỀ MEMPHIS THĂM PILOT NGUYỄN VĂN HOÈ


CẦU CHÚC CHIẾN SĨ NGUYỄN VĂN HOÈ.
ÐẦY ÐỦ NGHỊ LỰC VÀ MAY MẮN VƯỢT QUA CĂN BỆNH HIỂM NGHÈO.
PILOT HOÈ
CỐ GẮNG LÊN, KHÔNG GIAN VẪN CÒN THÊNH THANG
MONG 1 NGÀY CÒN TÁI HỘI-NGỘ VỚI ANH EM "AÍ TỬ BÌNH ÐIỀN"








Posted on 11/06/2011 9:42 PM

Tại sao tôi sẽ bỏ phiếu ‘No’ nếu tôi là người Hy Lạp?

Lê Phan - Saturday, November 05, 2011

Tờ Financial Times vừa cho lên web một bài mang cái tựa đề như vậy.

Ở lời mào thì tác giả, Samuel Brittan, một trong những ký mục gia của tờ báo về kinh tế, nhắc đến lời của Sir Winston Churchill khi ông nói là ông muốn thấy “Tài chánh đừng quá kiêu căng và kỹ nghệ an toàn hơn.” Nhưng khi mở vào bài thì trống trơn không thấy gì cả.

Ở dưới, trong mục ý kiến bạn đọc, mọi người ngơ ngác. Có người bảo bộ ông bạn này muốn mình viết thay cho ông ta hả. Người khác ngây thơ hơn hỏi có phải tại lỗi kỹ thuật không. Thú thật tôi không hiểu ông Brittan bị mất bài hay là cố tình chọc tức thiên hạ, nhưng có điều tôi đồng ý với ông Brittan. Nếu tôi là người Hy Lạp tôi sẽ bỏ phiếu “no.”

Tại sao ư? Trước hết, là một công dân Hy Lạp tôi đã được hưởng lợi gì trong tư cách là một công dân Âu Châu? Thực ra, ngoại trừ vài năm gần đây, Âu Châu đã chẳng tốt gì với Hy Lạp, mặc dầu lúc nào mở miệng ra họ cũng bảo là họ biết ơn Hy Lạp, hay như lời của cựu Tổng Thống Valerie Jiscard d'Estaing của Pháp, trả món nợ lịch sử cho di sản mà Hy Lạp để lại cho họ, nhưng không mấy khi Âu Châu lo lắng gì cho Hy Lạp.

Dân Hy Lạp chúng tôi thường nói đi sang các quốc gia khác ở Âu Châu là đi Âu Châu, một tâm trạng cho thấy rõ chúng tôi đứng ngoài Âu Châu. Ngay cả từ khi Âu Châu, trong một cử chỉ nửa thương hại, nửa kẻ cả, cho phép Hy Lạp tham gia vào Âu Châu, trước là thành viên của Cộng đồng kinh tế Âu Châu (European Economic Community -ECC) rồi sau là thành viên của Liên Hiệp Âu Châu và sau cùng là thành viên của khối Euro, nhưng lúc nào Hy Lạp cũng bị coi như là con ghẻ.

Mà vào khối Euro dân Hy Lạp nào phải lúc nào cũng có lợi. Như ông tỷ phú truyền thông Kouris của chúng tôi thường nhắc nhở: “Hồi chúng tôi còn đồng drachma, một chai nước chỉ có 50 drachmas. Ngày nay, một chai nước là 170 drachma. Ðó là một tấm thảm kịch.” Nếu ai đã từng là du khách ở Hy Lạp trước và sau đồng Euro thì đều công nhận là Hy Lạp sau khi tham gia đồng Euro đã trở thành quá đắt, một việc làm chúng tôi mất du khách về tay Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhìn lại lịch sử, Hy Lạp kể từ khi tái lập quốc sau cuộc chiến giành độc lập từ năm 1821 đến 1832, đã thường là nạn nhân của Âu Châu hơn là kẻ được hưởng lợi. Ngay khi quốc gia Hy Lạp mới hồi sinh, các đại cường Âu Châu áp đặt lên chúng tôi một quốc trưởng là một cậu hoàng tử người Ðức từ Bavaria. Họ cũng đã đòi chúng tôi phải trả một số nợ khổng lồ nói đó là số tiền họ trợ giúp cho chúng tôi trong cuộc tranh đấu giành độc lập.

Nếu tôi bỏ phiếu “No” thì cùng lắm Hy Lạp bị bà Merkel và ông Sarkozy đuổi ra khỏi khối Euro. Và dĩ nhiên nền kinh tế sẽ phá sản, chúng tôi sẽ xù nợ. Nhưng làm vậy có chết chóc gì đâu. Ngay cả chính hai giáo sư kinh tế học Hoa Kỳ Kenneth Rogoff và Carmen Reinhart cũng công nhận là kể từ ngày độc lập, cứ khoảng mỗi hai năm là chúng tôi lại phải xù nợ một lần. Ngay cả từ thời xa xưa, Ðền Delos đã bị “cắt tóc” đến 80 phần trăm khi 13 thị quốc của Hy Lạp không đủ tiền trả nợ.

Trong lịch sử thiếu gì quốc gia xù nợ. Ngay Hoa Kỳ, trong thời sau lập quốc, đã từng nhiều lần xù nợ. Thời đó, người ta sợ công trái của Hoa Kỳ còn hơn sợ nợ Hy Lạp ngày nay và biết bao ngân hàng Anh vỡ mặt vì nợ Hoa Kỳ. Gần đây hơn Argentina xù nợ cũng có sao đâu.

Ngược lại ra khỏi khối Euro sẽ giúp chúng tôi diành lại được độc lập tài chánh và tiền tệ. Chúng tôi sẽ giành lại được quyền in tiền, và quyền phá giá đồng bạc. Gọi cái đó là ăn mày hàng xóm cũng chẳng sao, hàng xóm giàu có và cay nghiệt quá mà. Hy Lạp rẻ hơn sẽ có thể lôi cuốn được thêm du khách, lấy lại được số du khách mà ngày nay chúng tôi mất cho Thổ Nhĩ Kỳ hay Morocco.

Ngay cả một số các kinh tế gia nổi tiếng của Âu Châu cũng đồng ý là Hy Lạp không thể nào giành lại được khả năng cạnh tranh khi còn tiếp tục bám vào đồng Euro. Hai năm trời nay, các lãnh tụ Âu Châu đòi chúng tôi phải thắt lưng buộc bụng, chịu khắc khổ. Và kết quả là nếu không phải trả nợ, Hy Lạp sang năm có thể tự hào là có thặng dư ngân sách bằng 1.5 phần trăm của GDP. Nhưng nếu cộng thêm vào tiền lời trả nợ thì Hy Lạp sẽ bị thâm thủng ngân sách bằng 8 phần trăm GDP. Như vậy tại sao chúng tôi phải è cổ trả nợ cơ chứ?

Ở một khía cạnh nào đó, Hy Lạp đã nhường nhịn quá rồi. Chúng tôi đã cắn răng nhận những liều thuốc đắng của Âu Châu, nhưng càng ngày có vẻ như đây là thuốc độc chứ không phải thuốc chữa bệnh, bởi càng uống liều thuốc thắt lưng buộc bụng thì nền kinh tế Hy Lạp càng co cụm lại, và càng uống thì triển vọng chúng tôi có thể hồi phục càng xa vời. Ðến một ngày nào đó, liều thuốc của Âu Châu sẽ làm chúng tôi gục ngã.

Họ bảo là lỗi tại chúng tôi mà nền kinh tế Hy Lạp lâm cảnh hiện nay. Họ bảo tại chúng tôi lười biếng, tại chúng tôi ăn bám, nhưng trong những năm kinh tế phồn thịnh, chính Âu Châu đã vung tiền cho nông dân của chúng tôi đừng trồng olive nữa vì sợ làm mất trị giá dầu olive của Ý. Lúc đó họ nào có nói gì đến việc có ngày phải trả nợ. Kể ra chúng tôi cũng ngây thơ bởi trên đời này làm gì có cái gì mà không có cái giá của nó.

Âu Châu, nhất là Ðức, coi mình là tài giỏi và đòi trừng phạt chúng tôi nhưng liều thuốc của họ sẽ đưa Hy Lạp vào cả thập niên trì trệ kinh tế, thất nghiệp gia tăng, thuế má gia tăng mà hứa hẹn duy nhất là mười năm nữa, tỷ lệ nợ so với GDP sẽ bằng con số chẳng tốt đẹp gì năm 2008-2009 thì tại sao chúng tôi phải theo con đường của họ.

Thực ra những người Hy Lạp trẻ tuổi ngày nay lớn lên trong giai đoạn Euro đã bị hư hỏng. Họ đã tưởng họ là người Âu Châu. Họ cũng nghĩ là không thể có cuộc sống bên ngoài khu vực đồng Euro và Âu Châu. Nhưng cứ nhìn Anh Quốc mà xem. Nhờ họ không gia nhập khối Euro nên Anh có thể in tiền. Lạm phát ở Anh cao thật đấy, nhưng lạm phát trong khối Euro nào có thấp.

Là một công dân Hy Lạp, tôi phải bỏ phiếu “No” bởi đó là cách duy nhất để con cái chúng tôi có thể ngóc đầu lên được. Nếu còn tiếp tục trong khối Euro, chúng tôi sẽ ngụp lặn tiếp trong suy thoái, thất nghiệp và tuyệt vọng. Mà điều mỉa mai nhất là ngay cả ở trong khối Euro chúng tôi có lẽ rồi cũng phải xù nợ. Bởi cái gọi là “cắt tóc 50 phần trăm” mà các lãnh đạo Euro bắt các ngân hàng phải chịu đó chẳng qua là xù một nửa nợ cho Hy Lạp. Rồi thì các lãnh đạo khối Euro cũng sẽ ý thức là Hy Lạp sẽ phải xù nợ mới giải quyết được vấn đề. Vậy thì có lý do nào để Hy Lạp tiếp tục ở lại khối Euro nữa đây?

Viết thay một người dân Hy Lạp

Lê Phan

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=139614&z=97



Posted on 11/06/2011 8:39 PM




Chủ nghĩa tư bản làm tha hóa con người?


Nguyễn Hưng Quốc















Quan niệm cho sự vô cảm của con người tại Trung Quốc cũng như Việt Nam là kết quả của quá trình hiện đại hóa với hai xu hướng nổi bật: đô thị hóa và thương mại hóa dường như rất phổ biến tại cả hai nước hiện nay.



Người ta lý giải hiện tượng này như sau: Ngày xưa, trong xã hội nông nghiệp, tình làng xóm thật đẹp, lúc nào cũng “tối lửa tắt đèn có nhau”. Sống với nhau, ai cũng coi trọng tình nghĩa và trách nhiệm đối với cộng đồng. Một nhà gặp khó khăn, cả xóm xúm lại giúp. Bây giờ thì khác. Với xu hướng đô thị hóa, người ta sống rất gần nhau nhưng chẳng ai thân thiện với ai cả. Sáng, mở cửa đi làm. Tối, về nhà, lại khóa cửa im ỉm. Ngay cả khi ở cùng một chung cư, người ta cũng hiếm khi gặp gỡ và chuyện trò với nhau. Tình người cứ thế nhạt dần. Lại thêm sự tác động của xu hướng thương mại hóa nữa. Ai cũng đổ xô đi kiếm tiền. Cái lợi trở thành ưu tiên số một. Chuyện tình nghĩa chỉ là chuyện phụ. Và nhỏ.



Ở đây, dù không nói ra, người ta vẫn cho chuyện vô cảm gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Xưa, con người rất có tình. Ngay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người đối xử với nhau cũng có tình. Chỉ đến thời “mở cửa”, với kinh tế thị trường, quan hệ giữa người với người mới thành vấn đề. Con người mới trở thành vô tâm và vô cảm. Và bị tha hóa.



Một số người đi xa hơn, phân biệt Tây phương và Đông phương theo tiêu chuẩn: Đông phương thì duy tình và duy nghĩa, trong khi Tây phương thì duy lý và duy lợi. Đông phương thì nhắm đến sự hài hòa giữa người với người cũng như giữa con người và thiên nhiên, trong khi đó, ở Tây phương, người ta chỉ tìm mọi cách để khống chế thiên nhiên và ảnh hưởng đến người khác, biến người khác thành một nguồn lợi cho mình.



Nói cách khác, người ta đổ hết cái xấu về phía Tây phương. Theo cách nhìn ấy, những gì xấu xa ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc hiện nay là đến từ... Tây phương.



Tôi có một số bạn ở Việt Nam, vốn là trí thức và thỉnh thoảng có dịp đi nước ngoài, than thở là quan hệ giữa người và người ở Tây phương sao mà lạnh lẽo và lạnh nhạt quá. Trong nhà, con cái đi học hay đi làm về, cứ vào thẳng trong phòng riêng, có khi khóa cửa lại, chẳng có giao tiếp gì với bố mẹ cả. Bạn bè, khi gặp khó khăn, mới nói xa nói gần, người ta đã “sốt sắng” khuyên nên đến vay tiền ở ngân hàng thay vì, như ở Việt Nam, vào lấy tiền trao ngay cho bạn. Phụ nữ bị chồng đánh đập, chạy đến nhà bạn định trú ngụ vài hôm chờ qua cơn sóng gió sẽ trở về; không ngờ bạn đã không thông cảm, còn nằng nặc bảo gọi cảnh sát. Còn chần chừ, không muốn làm, bạn đã bấm số báo cho cảnh sát biết rồi. Thật phiền! Đó là chưa kể một số câu chuyện được đăng tải trên báo chí: một người già nào đó bị chết một cách cô độc trong một căn hộ trong chung cư nhưng chẳng ai biết cả. Có khi một hai tuần sau mới biết, khi nghe mùi hôi thối nồng nặc bốc ra từ căn hộ. Có khi cả mấy tháng hay thậm chí, mấy năm sau, khi thấy thùng thư phía trước cứ đầy nghẹt. Vân vân.



Những sự kiện nêu trên không có gì sai cả. Nhưng có thật người ta làm thế là do vô tình hay vô cảm không?



Những ai sống ở nước ngoài lâu và tiếp xúc nhiều với người nước ngoài dễ thấy ngay những quan niệm như vậy chỉ là những cách nghĩ ấu trĩ xuất phát từ những ngộ nhận văn hóa thường đến từ các xã hội khép kín. Tôi không muốn nói là người Tây phương tốt hơn chúng ta. Không. Chuyện tốt hay xấu đã khó nói. Chuyện hơn thua lại càng khó nói. Nhưng tôi biết chắc chắn mấy điều.



Thứ nhất, những cái khung duy lý hay duy tình dùng để phân biệt Đông và Tây chỉ là một huyền thoại. Việc khuyến khích người bạn bị chồng bạo hành báo với cảnh sát không phải chỉ là chuyện lý. Mà còn là chuyện tình: Đó mới là cách giúp đỡ hiệu quả nhất. Họ chỉ không thích than thở suông. Họ muốn sự quan tâm của họ có kết quả. Ở Tây phương, những người sống hết lòng với bạn bè chắc chắn không phải ít. Nhưng liên quan đến Việt Nam, có hai chuyện đáng kể nhất.



Một là, có nhiều người Việt Nam đi lính trước năm 1975 đã được một số bạn bè người Mỹ giúp đỡ tận tình để họ được sang định cư tại Mỹ. Bạn bè thân lắm ư? Không. Chỉ là bạn bình thường trong thời gian những người lính Mỹ ấy ở Việt Nam vậy thôi. Vậy mà, mấy chục năm sau, họ vẫn còn nhớ và khi có dịp, giúp đỡ những người bạn Việt Nam khốn khổ một cách tận tụy vô cùng: Bảo lãnh họ sang Mỹ; giúp họ ổn định cuộc sống thời gian đầu, v.v...Đó không phải là tình bạn hay tình người sao?



Hai là, cách đây vài ba năm, trên đài truyền hình Úc chiếu một bộ phim tài liệu rất đáng cảm động. Có ba hay bốn người cựu chiến binh Úc từng tham chiến ở Việt Nam trước năm 75. Đã về hưu, nhưng họ vẫn không nguôi đau đáu nghĩ về một số bạn bè bị chết và mất xác ở Việt Nam. Cuối cùng họ quyết định sang Việt Nam tìm hài cốt bạn. Không phải dễ. Họ đến địa phương từng xảy ra trận đụng độ, hỏi thăm từng người dân về những người lính Úc chết trận. Rồi xin phép chính quyền cho đào xới tìm hài cốt. Thủ tục giấy tờ vô cùng nhiêu khê. Và tốn kém. Tất cả đều bằng tiền túi của những người về hưu ấy. Sau mấy năm vất vả, họ tìm ra mấy bộ hài cốt, gửi sang Úc nhờ xét nghiệm. Đến lúc biết chắc chắn đó là hài cốt của bạn mình, họ mới liên lạc với thân nhân những người đó để báo tin. Ai cũng sửng sốt. Ngày chiếc máy bay chở hài cốt những người lính Úc từ Việt Nam về lại Úc là một ngày đầy xúc động. Dĩ nhiên đáng xúc động nhất vẫn là tình bạn. Như vậy là duy lý sao?



Thứ hai, tôi không nghĩ là người Tây phương, nói chung, vô cảm. Đối diện với những sự thương tâm hay bất công, không những ở nước họ mà còn cả trên thế giới, phản ứng của họ thường tích cực và quyết liệt hơn chúng ta nhiều. Một số người Việt Nam, thời gian đầu sang định cư tại Úc, những năm 1976, 1977 thỉnh thoảng gặp rắc rối chỉ vì những chuyện lãng nhách. Ví dụ, ra chợ mua vịt sống, theo thói quen, cứ cầm cổ vịt đi lơn tơn ngoài đường. Có người thấy bèn gọi cảnh sát. Lý do: hành hạ súc vật. Con cái bị cảm, bố mẹ cạo gió; khi con vào lớp, thầy cô giáo thấy vết bầm tím trên cổ đứa bé, không nói không rằng, liền gọi ngay cho cảnh sát: Đứa bé bị bố mẹ ngược đãi! Những chuyện nho nhỏ như vậy cho thấy người ta không dửng dưng. Thấy trên cổ đứa bé có vết bầm: người ta không dửng dưng. Thấy một con vịt bị xách cổ: người ta cũng không dửng dưng. Ở tầm rộng hơn, thấy những bất công và bất hạnh trên thế giới, người ta cũng không dửng dưng. Xin để ý điều này: Hầu hết các phong trào nhân đạo lớn trên thế giới đều xuất phát từ Tây phương. Thời chiến tranh Việt Nam, các phong trào phản chiến xuất phát từ lý do nhân đạo phát triển mạnh mẽ nhất là ở Tây phương. Sau năm 1975, các phong trào cứu giúp người Việt Nam tị nạn bằng đường bộ cũng như bằng đường biển cũng xuất phát từ Tây phương.



Ở Tây phương, người ta có thể không biết người hàng xóm chết cô độc trong căn hộ sát mình. Vì họ tôn trọng sự riêng tư của người khác. Tuy nhiên, nếu người ấy, ra đường, vì lý do nào đó, ngã gục và nằm lăn quay dưới đất, tôi dám chắc sẽ không có cảnh người qua đường dửng dưng đứng ngó hoặc đi thẳng.



Xin nhấn mạnh lại điều tôi đã viết ở trên: Tôi không nghĩ và không muốn chứng minh là người Tây phương tốt hơn hay xấu hơn người Đông phương, trong đó có chúng ta. Khái niệm tốt xấu là một khái niệm mơ hồ và hàm hồ. Chuyện hơn thua lại càng mơ hồ và hàm hồ. Điều tôi muốn chứng minh là sự phát triển về kinh tế cũng như xã hội gắn liền với xu hướng hiện đại hóa, đô thị hóa và thương mại hóa không làm cho người ta vô cảm.



Tìm nguyên nhân của sự vô cảm ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, do đó, chúng ta cần phải nhìn theo hướng khác.



Nguồn: http://danluan.org/node/10507















Vô cảm đến từ đâu?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài trước, tôi cho nguyên nhân của sự vô cảm không đến từ sự phát triển kinh tế và xã hội. Vậy chúng đến từ đâu?

Trước khi trả lời câu hỏi ấy, chúng ta cần phân biệt ba cấp độ vô cảm khác nhau trong đời sống hàng ngày.

Thứ nhất, vô cảm trước người khác - hiểu theo nghĩa là một hay nhiều người cụ thể, ở ngay trước mặt, như người thân trong gia đình, hàng xóm hay bất cứ ai đó gặp tai nạn ngoài đường.

Thứ hai là vô cảm trước đất nước hiểu theo nghĩa một cộng đồng mà mỗi người là một thành viên.

Thứ ba là vô cảm trước đồng loại, bao gồm cả những người ở xa, xa xôi và xa lạ, thuộc một đất nước khác hay một lục địa khác.

Tạm thời, chúng ta gác loại vô cảm thứ ba lại. Chỉ tập trung vào hai loại vô cảm thứ nhất và thứ hai. Lý do: một, đó là những vấn đề bức xúc nhất hiện nay; hai, sự vô cảm thứ ba chỉ khắc phục được nếu người ta đã vượt qua được hai loại vô cảm đầu tiên: Không hy vọng có người biết xúc động trước nỗi đau khổ của ai đó, ở châu Phi chẳng hạn, nếu người ta cứ dửng dưng trước những đau khổ ngay trước mặt và trước mắt mình. Nếu có, đó chỉ là chút cảm xúc mang mùi lãng mạn chủ nghĩa; nó thoáng qua, rồi tắt, chứ chắc chắn sẽ không dẫn đến bất cứ một hành động cụ thể nào cả.

Trong hai loại vô cảm trên, xin phân tích loại vô cảm trước đất nước trước. Vì câu trả lời tương đối đơn giản và dễ có sức thuyết phục nhất.

Vô cảm trước đất nước có nhiều biểu hiện, nhưng trung tâm vẫn là sự dửng dưng, hay nói theo chữ quen thuộc ở Việt Nam lâu nay, là mặc kệ. Đất nước nghèo đói ư? – Mặc kệ! Đất nước càng ngày càng lạc hậu ư? – Mặc kệ! Sự bất bình đẳng trong nước càng ngày càng trầm trọng; khoảng cách giữa giàu - nghèo càng ngày càng lớn; người giàu càng ngày càng giàu và người nghèo càng ngày càng nghèo ư? – Mặc kệ! Nạn tham nhũng càng ngày càng hoành hành, càng phá nát nền kinh tế quốc gia ư? – Mặc kệ! Xã hội càng ngày càng băng hoại; văn hóa càng ngày càng suy đồi; giáo dục càng ngày càng xuống cấp ư? – Mặc kệ! Trung Quốc xâm lấn Việt Nam, làm lũng đoạn kinh tế Việt Nam, bắt bớ và giết hại ngư dân Việt Nam ư? – Mặc kệ!

Dửng dưng hay mặc kệ trước những vấn đề liên quan đến danh dự quốc gia cũng là một sự vô cảm. Cái gọi là danh dự quốc gia có nhiều cấp độ khác nhau. Một vị nguyên thủ hay quan chức cao cấp khi tiếp xúc với các đối tác nước ngoài, cần giữ gìn quốc thể (ngay cả cách bắt tay: trong lúc đối tác đưa một tay; còn mình thì đưa cả hai tay, làm toát lên vẻ gì như nịnh bợ, hoặc ít nhất, khúm núm một cách quá đáng như hiện tượng được nhiều blogger Việt Nam nêu lên gần đây, cũng liên quan đến quốc thể). Ngay cả người bình thường, trong những hoàn cảnh bình thường, khi tiếp xúc với người ngoại quốc, cho dù chỉ là một du khách bình thường, cũng cố gắng không để họ đánh giá thấp dân tộc của mình. Ngược lại, cứ mặc kệ tất cả, ai khinh thì khinh, ai ghét thì ghét, miễn có chút lợi nhỏ là mình cứ làm: Đó là vô cảm.

Bình thường, người ta hay quy chung cả hai khía cạnh ở trên (sự quan tâm đến vận mệnh và danh dự của đất nước) vào phạm trù yêu nước. Tuy nhiên, theo tôi, đó là điều không nên. Nói đến yêu nước, thứ nhất, là chỉ tập trung ở khía cạnh tình cảm; và thứ hai, một cái gì có tính chất tự nguyện. Ở Tây phương hiện nay, rất hiếm khi người ta đề cập đến lòng yêu nước. Người ta chỉ đề cập đến tinh thần trách nhiệm (trong trường hợp trên) và sự tự trọng (trong trường hợp dưới).

Trách nhiệm có hai hình thức: bắt buộc và tự nguyện. Đóng thuế và thi hành các bổn phận công dân như chấp hành pháp luật, tham gia bầu cử... là những trách nhiệm bắt buộc. Nhưng ứng cử, tranh đấu cho một chính sách mà mình tin là đúng đắn, bảo vệ môi trường sinh thái, v.v... là những trách nhiệm tự nguyện.

Sự tự trọng cũng thuộc phạm vi tự nguyện. Nó thuộc phạm vi văn hóa hơn là pháp luật.

Ở Tây phương, người ta dùng pháp luật để cưỡng chế loại trách nhiệm thứ nhất trong khi đó họ lại dùng giáo dục để khuyến khích loại trách nhiệm thứ hai và nuôi dưỡng lòng tự trọng đối với cá nhân cũng như đối với đất nước.

Ở Việt Nam, từ xưa, cha ông chúng ta cũng từng ra sức giáo dục và nuôi dưỡng cả loại trách nhiệm tự nguyện lẫn lòng tự trọng trong những phạm vi liên quan đến quốc gia và quốc thể. Những câu tục ngữ và ca dao quen thuộc như “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” hay “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương / người trong một nước phải thương nhau cùng”, “khôn ngoan đối đáp người ngoài / gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” là thuộc loại đó.

Trong lịch sử, người Việt Nam từng chứng tỏ ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng cao trong những vấn đề liên quan đến đất nước. Không có ý thức trách nhiệm và lòng tự trọng ấy, chắc chắn Việt Nam không thể giành được độc lập sau một ngàn năm bị Trung Hoa đô hộ và cũng không thể giữ được độc lập trước bao nhiêu cuộc xâm lược khác, sau đó.

Thế nhưng, gần đây, mọi sự dường như khác hẳn. Trung Quốc ngang ngược xâm phạm lãnh hải Việt Nam, bắt bớ, thậm chí giết ngư dân Việt Nam, phần lớn vẫn dửng dưng. Trung Quốc lũng đoạn kinh tế Việt Nam, đưa di dân lậu tràn ngập vào Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, chủ quyền và độc lập của Việt Nam, phần lớn vẫn dửng dưng. Chỉ có một số, một số thật nhỏ, biểu thị thái độ cảnh giác và phản đối sự uy hiếp ấy từ Trung Quốc qua một số cuộc biểu tình tại Sàigòn và Hà Nội. Điều đáng chú ý không phải là bản thân các cuộc biểu tình ấy mà là thái độ thờ ơ, thậm chí, thù nghịch của nhiều người chung quanh. Theo tường thuật trên các blog, không ít thanh niên lái xe qua, chõ miệng chửi những người biểu tình chống Trung Quốc là “Đồ điên!”

Sự thờ ơ, dửng dưng cũng biểu hiện rất rõ qua thái độ của các cán bộ cao cấp thuộc loại đầu ngành ở Việt Nam. Những sơ sót liên quan đến các bản tin Trung Quốc tập trận ở Biển Đông từng làm xôn xao dư luận trong cộng đồng mạng, theo tôi, cũng xuất phát từ sự thờ ơ và dửng dưng ấy. Chính quyền các địa phương để cho Trung Quốc thuê rừng, kể cả rừng đầu nguồn và có vị trí chiến lược quan trọng của Việt Nam, ngoài chuyện có thể bị mua chuộc, phần nào cũng xuất phát từ sự thờ ơ và dửng dưng như thế. Dường như người ta chỉ cần vơ vét lợi nhuận riêng, còn chuyện quốc gia và quốc thể thì mặc kệ. Bất cần.

Những sự thờ ơ, dửng dưng, mặc kệ và bất cần ấy thực chất là một sự vô cảm.

Nhưng tại sao người ta lại trở thành vô cảm một cách đáng sợ như thế? Câu trả lời tương đối dễ: Một, người ta bị tước trách nhiệm đối với đất nước; và hai, bất cứ người nào còn có trách nhiệm và muốn biểu lộ trách nhiệm ấy thì bị chụp mũ, sỉ nhục, bắt bớ, giam cầm. Trách nhiệm đối với đất nước trở thành một cái tội. Trên hệ thống tuyên truyền, chính quyền luôn luôn nhấn mạnh: đó là trách nhiệm của đảng và chính quyền chứ không phải của người dân. Chính quyền và đảng thực thi trách nhiệm ấy như thế nào? Không cần biết. Chỉ cần biết đó là chuyện của chính quyền và của đảng. Vậy thôi. Dân chúng bị xem là những kẻ ngoại cuộc đối các vấn đề quốc sự. Người nào không chấp nhận điều đó thì bị trừng phạt nặng nề. Kẻ thì bị đạp vào mặt. Kẻ thì bị bắt bớ. Kẻ thì bị đe dọa. Kẻ thì bị bêu xấu trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trong hoàn cảnh như thế, người ta không vô cảm đối với đất nước mới là chuyện lạ.

Nguồn: http://danluan.org/node/10508





Posted on 11/06/2011 12:08 PM

Thay đổi con người hay thay đổi xã hội?

Ngô Nhân Dụng

Một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ở Trung Quốc gần đây viết về mối tương quan mật thiết trong đời sống dân Mông Cổ và loài sói; sách này đã được dịch sang tiếng Anh, tên là Wolf Totem (Tô Tem Sói). Cuốn truyện của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những thảo nguyên bát ngát ở Nội Mông. Trong không gian bát ngát hoang sơ đó loài sói và loài người vừa tranh đấu đối đầu nhau, vừa cộng tác một cách vô ý thức cùng bảo vệ những loài cỏ cây hoang dại phủ kín các cao nguyên và châu thổ. Cuộc cộng sinh diễn ra suốt lịch sử, từ hàng chục ngàn hay trăm ngàn năm, trước thời Thành Cát Tư Hãn, cho tới bây giờ.

Chuyện Wolf Totem (Lang Tú Đằng 狼图腾 – người Trung Hoa phiên âm chữ Totem là Tu Đeng, đọc lối Hán Việt là tú đằng) là lời tự thuật của một sinh viên đại học Bắc Kinh bị đầy lên Mông Cổ “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như tác giả Jiang Rong (Khương Nhung 姜戎 tên thật là Lữ Gia Dân, Lü Jiamin, 吕嘉民). Anh sinh viên này đang phụ trách chăn cừu; anh vẫn định săn bắt một con sói, một thành tích để đạt được lòng kính trọng của người Mông Cổ. Anh cũng muốn đánh bẫy một con sói nhỏ để đem về nuôi thử. Từ trang 319, trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, anh được chứng kiến cảnh một con chó sói tấn công đàn cừu. Anh sinh viên đang tản bộ lên đồi, đàn cừu tản mác đi sau. Bỗng quay đầu lại, nhìn thấy một con sói đang quần thảo với đàn cừu. Anh không bắn, cũng tìm cách dọa cho con sói phải chạy đi; vì đã được một người bạn mách kế, cứ chờ con sói ăn no, nặng bụng, chậm chạp, rồi động thủ thì sẽ hạ được nó.

Anh sinh viên đứng quan sát. Khi con sói đã chồm lên cắn cổ, vật ngã một con cừu, nó đè xuống xé da, xả thịt, ngấu nghiến ăn tại chỗ. Đàn cừu bị tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy toán loạn; nhưng khi thấy con sói đã bắt được một con cừu, bắt đầu ngồi xuống chăm chú cắn, nhay, nhai, nuốt, thì cả đàn cừu trở lại tình trạng bình thường; chúng lại cúi xuống gặm cỏ coi như không có gì nguy hiểm cả. Chắc chúng biết lúc này là an toàn, vì mỗi lần một con sói chỉ ăn thịt một con cừu là đủ no bụng. Nhiều con cừu đứng quan sát còn bạo dạn tiến đến xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào; giống như trẻ con đi coi đoàn xiệc hát rong. Một đám cừu bước tới gần, chen chân nhau để giành chỗ tốt, cho thấy rõ hơn. Tác giả Khương Nhung nghĩ: Bộ mặt của mấy chú cừu đóng vai quan sát có vẻ như mừng rỡ: “Gớm, may quá! Con sói nó ăn thịt mày, nó không ăn thịt tao!”

Nhân vật của Khương Nhung là một sinh viên ham đọc sách, mơ mộng và suy nghĩ. Khi nhìn cảnh đó, anh nhớ tới một đoạn văn của Lỗ Tấn đời xưa. Nhà văn tả một cảnh tượng thời trước Đại chiến Thứ hai, khi quân Nhật đã xâm lăng chiếm một phần Trung Quốc. Có một đám đông người Trung Hoa đứng coi quân đội Nhật Bản đang chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa khác. Dân chúng kéo đến coi như đi coi xiệc. Nhớ lại chuyện cũ, anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, người du mục Mông Cổ họ coi dân Hán mình như một đàn cừu.”

Nhân vật của Khương Nhung nhìn cảnh đàn cừu thì chợt nhớ đến đoạn văn của Lỗ Tấn. Tuần trước, chúng tôi cũng chợt nhớ đến đoạn văn trong tiểu thuyết Tô Tem Sói sau khi theo dõi các mạng lưới bên Tầu sau vụ em bé Duyệt Duyệt chết oan.

Như đã kể nhiều lần trên báo này, hàng chục triệu người Trung Hoa đã bầy tỏ ý kiến trên mạng về vụ em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe cán chết ở thành phố Phật Sơn tỉnh Quảng Đông mà 18 người qua lại không ai dừng chân nâng dậy, trong suốt bẩy phút. Các “công dân mạng” đặt câu hỏi cho chính lương tâm của họ, và lương tâm của cả mọi người: Phải chăng nước Trung Hoa đã mất linh hồn? Câu hỏi này cũng không khác gì ý nghĩ của nhân vật trong tiểu thuyết trên: Lòng hổ thẹn, và hổ thẹn tập thể.

Khi đứng trước một cảnh tượng cùng đáng xấu hổ mà một dân tộc biết xấu hổ, đó là điều đáng mừng. Ý thức rằng xã hội mình đang lâm bệnh trầm trọng, là một bước đầu để tự thay đổi, tự cải thiện. Nhắm mắt không chịu nhìn, hoặc nhìn thấy mà không chịu thú nhận mình mắc bệnh thì “hết thuốc chữa!” Vụ em bé Duyệt Duyệt xẩy ra khoảng một tuần lễ sau khi báo chí ở Trung Quốc loan tin một cụ già ở tỉnh Hồ Bắc bị té giữa đường phố trong suốt 90 phút người qua lại để mặc cho ông cụ nằm không ai ngó tới, cho đến khi tắt thở. Người con trai ông cụ hỏi với nhà báo: “Người Trung Hoa mình đã đánh mất thói quen cứu giúp người một cách dễ dàng như vậy hay sao?” Một nhà nghiên cứu về truyền thông viết trên trang Weibo, mạng Sina: "Trung Quốc đang phải đối diện với một thời điểm vô đạo đức nhất trong lịch sử.”

Nhưng trước căn bệnh đám đông thờ ơ, lãnh đạm trước cảnh một đồng loại lâm nạn, nhất là một em bé hai tuổi, thì người ta phải làm gì? Phải tìm hiểu những nguyên nhân nào gây ra bệnh. Hiểu biết căn nguyên rồi, mới đi tìm những phương cách diệt trừ phiền não.

Trên các mạng lưới, giới trí thức, thanh niên Trung Quốc đã nhận ra xã hội họ đang sống rất bệnh hoạn. Họ viết: “Chúng ta đều là những em bé Duyệt Duyệt!” Hoặc, “Chúng ta đều là những kẻ qua đường thờ ơ!”

Người ta đã tìm các nguyên nhân gây nên căn bệnh ích kỷ, thờ ơ này. Họ liệt kê các chứng bệnh gốc: Xu hướng chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ, sinh ra trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Nhiều người nêu lên khiếm khuyết trong nền giáo dục gia đình, cha mẹ dậy con tính ích kỷ. Nhiều người còn nhắc tới di sản, thời Mao Trạch Đông đã xóa bỏ các nền móng đạo lý cổ truyền khiến người Trung Hoa mất kim chỉ nam về đạo đức.

Giáo sư Hạ Học Loan (Xia Xueluan, 夏学銮) thấy nguyên nhân là xã hội Trung Hoa đang trải qua một "cuộc khủng hoảng lòng tin, giữa người với người." Ông Tạ Tĩnh (Xie Jing, 谢静), giáo sư tại đại học Phục Đán ở Thượng Hải thấy tin tức trên báo chí nói đến những chuyện như anh Bành Vũ cứu người rồi sau đó bị gia đình nạn nhân kiện đòi bồi thường được các báo, các đài loan tải, khiến ai cũng dè dặt, do dự trước khi bước tới giúp đỡ người khác.

Chàng sinh viên của Khương Nhung nhìn đàn cừu đứng coi một đồng loại bị sói ăn thịt, lương tâm xã hội của anh thức dậy, không khác gì các công dân mạng ở Trung Quốc bây giờ. Nhưng trong vụ em bé Duyệt Duyệt, một con cừu bé nhỏ đang bị những bánh xe vận tải “ăn thịt,” thì ai đóng vai con chó sói?

Con chó sói tham ăn trong câu chuyện em bé Duyệt Duyệt là cả xã hội Trung Quốc chung quanh. Rất nhiều người đang chạy đuổi theo đồng tiền, và chỉ biết chăm lo quyền lợi của chính mình, không cảm thấy có trách nhiệm phải cứu đồng loại. Ai tạo ra những con chó sói? Trên trang Weibo của mạng lưới Sina, giáo sư Lý Hoa Đông tìm thủ phạm: “Cái gì đã gây nên cảnh tang thương này? Các viên chức chính quyền? Những người giầu có nhất trong nước? Hay chỉ vì tánh lãnh đạm thờ ơ của chúng ta?”

Ông Vương Dương (Wang Yang, 汪洋), bí thư tỉnh ủy Quảng Đông, nói rằng tai nạn này là một “tiếng chuông báo động,” đánh thức tất cả mọi người. Năm ngày sau khi tai nạn xẩy ra, một cuộc họp của Trung Ương Đảng Cộng sản cũng đưa ra lời kêu gọi phải nâng cao “cuộc sống tinh thần” của nhân dân Trung Hoa.

Đấy là những lời tuyên bố rất hay. Nhưng câu hỏi tiếp theo là “Người ta phải làm gì? Làm cách nào nâng cao được đời sống tinh thần người dân trong một nước?”

Cả ba điều ông Lý Hoa Đông nêu ra đều không phải là nguyên nhân gốc của căn bệnh; mặc dù đều đóng góp một phần gây nên thái độ vô trách nhiệm tập thể. Những người giầu có trong nước Trung Hoa không nhất thiết là những người chỉ biết ích kỷ, duy lợi. Các viên chức chính quyền không ngăn ngừa một tai nạn như vậy cũng chịu trách nhiệm, nhưng không thể nói họ đã khuyến khích mọi người dân lãnh đạm thờ ơ trước cảnh khổ của đồng loại. Còn tánh ích kỷ, thờ ơ của những người qua đường? Họ đã nhiễm tính đó từ lâu, trong kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, lâu lâu tính đó có dịp biểu hiện ra, nhưng không phải họ được sinh ra đời với tính tình như vậy. Chính cuộc sống xã hội đã tạo ra tinh thần lãnh đạm, thờ ơ của đám đông.

Câu chuyện Lỗ Tấn kể xẩy ra trong thời gian nước Trung Hoa đang hỗn loạn. Trong nước thì các lãnh chúa và đảng phái tranh quyền, cuối cùng là hai phe, chính quyền Quốc Dân Đảng và phong trào Cộng sản; trong lúc quân Nhật đang xâm chiếm. Người Trung Hoa thời đó đã sống hàng thế kỷ trong loạn lạc, xã hội không còn kỷ cương nữa. Người giầu cũng không biết số phận mình mai sau sẽ ra sao, họ lo tích trữ tiền bạc phòng thân. Các tay lãnh chúa lo bảo vệ quyền hành của họ, sợ mất quyền thì không những mất tài sản, lợi lộc mà có thể còn mất mạng. Trong khung cảnh đó, những người dân bình thường không cả thấy họ chia sẻ trách nhiệm về người khác.

Tâm lý ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm trước đồng loại đó vẫn duy trì và củng cố thêm trong chế độ cộng sản. Đảng Cộng sản tập trung cả hai thứ, của cải và quyền hành vào trong tay một nhóm người. Việc gì cũng do Đảng và Nhà nước quyết đoán. Họa hay phúc đều do Đảng và Nhà nước ban phát. Làm sao tôi có thể lo lắng cho số phận người hàng xóm của tôi, trong khi chính cá nhân tôi cũng không biết Đảng và Nhà nước sẽ cho mình được số phận thế nào?

Muốn tránh cảnh “ai cũng là người qua đường” như trong chuyện em bé Duyệt Duyệt, người Trung Hoa phải tập lại lối sống cũ, khi mọi người đều thấy mình có trách nhiệm đối với mọi người. Người dân phải tập sống có trách nhiệm. Kinh tế thị trường bắt đầu tập cho người ta thói quen không trông chờ cấp trên ra lệnh phải ăn cái gì, mặc quần áo thế nào. Nhưng chỉ khi nào người dân được hưởng tự do và chịu trách nhiệm chọn lựa những người cai trị, họ mới thật sự cảm thấy mỗi người có trách nhiệm về cả xã hội mình. Trách nhiệm chỉ phát sinh khi người ta được tham dự, được lựa chọn và chịu hậu quả về lựa chọn của mình. Tinh thần liên đới chỉ phát sinh khi mọi người đều được bình đẳng tham gia trong các quyết định chung. Phải thay đổi chế độ chính trị ở Trung Quốc thì, hy vọng trong một thế hệ, mới tập được những thói quen mới đó.

Nguồn: http://danluan.org/node/10506



Posted on 11/06/2011 11:51 AM

Côn đồ nhân dân

Nguyễn Bá Chổi

Một nhóm người dưới sự điều động và hộ tống của công an địa phương tới uy hiếp nhà thờ giáo xứ Thái Hà. (Hình: Nữ Vương Công Lý)

Theo định nghĩa mới hai chữ “Nhân dân”đầy “tính biện chứng” của Đại tá Tiến sĩ Nguyễn Văn Quang thuộc QĐND nước CHXHCNVN mà người ta đoán dụng ý nhằm mục tiêu phát huy thêm và củng cố vững chắc hơn nữa quyền làm chủ tập thể của “nhân dân trong hiến pháp” trong bối cảnh cả thế giới..có tật giật mình đang run run với cơn đại khủng hoảng ...Gà Đá Phi chui ống cống, thì rõ ràng lực lượng côn đồ ( một thành viên bị chụp quả tang trong hình trên đây) kéo đến đập phá cửa nhà thờ Thái Hà, đập đánh các tu sĩ và giáo dân đang có mặt trong nhà thờ, lúc 2 giờ 30 ngày 3 tháng 11 năm 2011, giữa thủ đô của phẩm giá con người và của hoà bình phải được nâng lên tầm cao mới, biên chế thành “Côn Đồ Nhân Dân”.

Nghe gọi “Côn Đồ Nhân dân”, những người ngắn ai-cu tức là chỉ số thông minh chưa đủ tầm với Tàu Cao tốc không hiểu được ngữ nghĩa ngược ngạo của ngài Đại tá Tiến sĩ sẽ lên án tác giả của bốn chữ cũng vàng kia là bôi bác các lưc lượng vũ trang anh hùng của nhân dân, như Quân đội Nhân dân, Công an Nhân Dân .

Đó là một sự ngộ nhận về “nhân dân” vô cùng tai hại mà người Việt đã mắc phải suốt bốn ngàn năm qua từ ngày vua Hùng có công dựng nước và chỉ có bác cháu ta có công giữ nước (mặc dù bác cháu ta mới đẻ sau này) . Suốt chiều dài lê thê ấy, ai cũng mê muội đầu óc; cứ tưởng bở mình là nhân dân của nước Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt Nam, Đại Nam, Đế Quốc Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Cộng Hoà Tự trị Nam Kỳ, Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Cộng Hoà, Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam .

Tình trạng ai cũng tự cho mình là nhân dân bừa bãi khiến bọn xấu mượn ẩu danh nhân dân làm chuyện chống phá sự nghiệp cách mạng ta, hay vớ vẫn dựng chuyện kêu oan rồi xúi đồng bào thấp cổ bé miệng thưa kiện hoài không được đi biểu tình làm mất ổn định thành phố vì hoà bình; thậm chí những tháng gần đây lại tụ tập la làng lên Trường Sa, Hoàng Sa đã mất . Mất đâu mà mất, HS, TS vẫn còn nằm khơi khơi ngoài biển, không tin ra mà xem cờ anh em cắm đỏ rực trời. Lại còn đám cực kỳ phản động núp dưới danh nhân dân để hô đả đảo Trung Cuốc xâm lược nữa mới chết .

Thế nên, “Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong hiến pháp.” Đó là tựa bài của Đại Tá tiến sĩ đăng trên Báo Quân Đội Nhân Dân; đọc nghe như pháp lệnh.Trong đó có câu:

“Nhân dân là chủ thể quyền lực của một chế độ xã hội nhất định. Nhân dân luôn mang tính cộng đồng dân tộc, song cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc.”

Theo định nghĩa trên thì rõ ràng đám côn đồ tấn công nhà thờ Thái Hà được lực lượng công an súng ống xe cộ bên ngoài hổ trợ , có truyền thanh truyền hình dàn dựng sẵn trước khi côn đồ được điêu động tiến chiếm mục tiêu, và trội nhất côn đồ mang bản chất giai cấp trấn lột sâu sắc có truyền thống, đích thị là “nhân dân trong hiến pháp” . Còn khổ chủ, nạn nhân bị đập phá hành hung đâu phải là nhân dân, nên không có quyền được luật pháp che chở . Ai không tin, hãy đợi đấy những màn kế tiếp của côn đồ còn hoàng tráng hơn nếu các vị đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tiếp tục thái độ “khó hiểu”, Côn Đồ Nhân Dân!

Nguyễn Bá Chổi

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/



Posted on 11/05/2011 11:55 PM

Bạn ở đâu trong câu chuyện dài về đời sống con người?

on the net


Tôi 24 tuổi, nữ và tôi là người Việt Nam.

Vừa đọc một bài báo nói rằng: Thế giới đón công dân thứ bảy tỷ vào ngày 31/10/2011. Sau khi có tốc độ tăng trưởng chậm trong hầu hết lịch sử loài người, số dân trên trái đất đã tăng hơn gấp đôi trong vòng 50 năm qua.

Đọc rồi tôi tự ngẫm nghĩ: dân số tăng, và chúng ta đang ở đâu trong câu chuyện dài về đời sống con người?

Không quá khó để ta có thể biết mình đang đứng ở vị trí nào trong xã hội. Một người thành đạt, nhiều tiền, danh vọng hay một người an phận, bằng lòng và chấp nhận mọi chuyện xảy đến với mình như một lẽ tự nhiên? Không ai ngoài bản thân chúng ta biết rõ mình muốn gì và mình còn e ngại điều gì. Nhưng đôi khi cuộc sống không đơn giản như những điều chúng ta nghĩ. Không phải mình cứ phấn đấu, mình biết mình đứng ở đâu là mình có thể an nhiên sống trong thực tại. Còn nhiều lắm những cám dỗ, lọc lừa. Còn nhiều lắm những chèn ép, đua chen. Và còn nhiều lắm những con người với trái tim ngày một giá băng trước số phận của đồng loại mình.

Vậy thì mình nằm trong số nào giữa nhân loại vừa đón con số bảy tỷ dân này? Một câu hỏi khó hay dễ? Hay sẽ chỉ có những cái đầu lắc lắc, cái mặt vội quay đi né tránh câu hỏi, né tránh phải trả lời một vấn đề mà người ta tự ý cho rằng nó là nhạy cảm. Sao lại khó trả lời như thế? Phải chăng vì tất cả chúng ta đã bước sang ngưỡng của sự tính toán, của máu lạnh, của “sống chết mặc bay”? Không ít thì nhiều, nhân cách đã bị mai một.

Bé Danica May Camacho, công dân thứ 7 tỷ chào đời tại Philippines, đón nhận sự chúc mừng của các quan chức Liên Hiệp Quốc.

Tôi hay một vài người hay nói giờ chỉ muốn về quê ở. Thành phố bây giờ đua chen chật trội, nhà nhà kín cổng cao tường, người trong một gia đình còn chẳng mấy khi ngồi ăn cùng nhau, môi trường thì ngày một ô nhiễm. Rồi người ta đổ lỗi cho công việc, cho cuộc sống khó khăn, nếu không biết tận dụng cơ hội, không biết đua chen thì bị loại khỏi nhịp sống khẩn trương này ngay. Nói là như thế nhưng người ta vẫn ngày ngày bám trụ vào mảnh đất Thủ đô phồn hoa đô hội này. Ngay cả tôi, muốn về quê lắm nhưng về thì biết làm gì với công việc hiện tại của mình? Mình đâu phải là giáo viên để có thể chạy việc vào một ngôi trường làng nào đó rồi an phận với bảng phấn trường lớp, mình cũng đâu phải một người có nhiều kinh nghiệm, có “bóng quan” che chở đủ để nhét mình vào một vị trí nào đó ngay cả trái ngành trái nghề. À mà cũng có người che chở đấy, nhưng khi mà năng lực mình chưa đủ thì nhảy vào cũng chỉ như là thêm một con sâu làm rầu nồi canh, cố gắng nhìn vào thực tế rồi chờ đợi một người tài năng đức độ chấp nhận về quê làm giàu cho quê hương mình mà mỏi mắt vẫn không thấy nhân tài đâu. Thì ra những người giỏi lại là những người không thích về quê. Người ta phải tận dụng chất xám để làm việc ở những môi trường “đẳng cấp” hơn, và quan trọng là kiếm được nhiều tiền hơn. Thế thì trách gì nhiều người luôn thắc mắc tại sao quê mình mãi còn nghèo, bộ máy chính quyền cấp xã huyện ngày một tha hóa, suy đồi. Người này cướp của của người kia. “Trộm cắp như rươi”, sơ hở một chút là xe cộ, tài sản, gia cầm bỗng chốc chẳng còn gì, bao công sức cũng bay biến hết cả.

Nói là như thế để biết ở quê bây giờ đâu còn giữ được nét đẹp vốn dĩ có từ ngày còn “chân lấm tay bùn”, ngày còn “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Bây giờ người ta lại sống theo kiểu nửa vời, quê không ra quê, phố cũng không phải phố. Cuộc sống thì nghèo nhưng người ta cũng học theo thành phố ăn chơi đua đòi, học sinh cũng quần nọ mốt kia, tóc nhuộm xanh đỏ, điện thoại tít tít, yêu đương từ khi còn cấp hai cấp ba, có khi còn cấp một. Rồi chưa học xong cấp ba đã phải cưới vội vì trót mang bầu với người yêu bằng tuổi, mặt còn búng ra sữa. Tự hỏi rồi sau đó những cặp vợ chồng trẻ con đó sẽ sống ra sao, nuôi con thế nào, dạy dỗ con cái làm sao khi mà bố mẹ chúng còn chưa ý thức được hành vi, lối sống của chính mình. Và bố mẹ của những cặp vợ chồng trẻ đó đã giáo dục con mình thể nào? Hay là cũng vì bận công việc, bận kiếm tiền mà bỏ quên mất việc hướng cho con mình tới một lối sống lành mạnh hơn?

Người ta đang dần phải công nhận rằng con người đang tha hóa về đạo đức, cắt giảm đạo đức để tồn tại. Có người nói với tôi, con người bây giờ trở nên như vậy một phần là do chính sách giáo dục, quản lý con người của chính phủ. Nói như thế là đúng nhưng trước khi nghĩ đến những trách nhiệm lớn như vậy thì phải chăng ta nên tự điều chỉnh hành vi của mình. Mỗi gia đình là tế bào của xã hội, vậy sao ta không nên sắp xếp lại cuộc sống từ chính gia đình của mình?

Và cũng phải đề cập đến chính sách giáo dục con người ở nước ta. Tại sao ta ngưỡng mộ người Nhật về tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau? Tại sao họ lại không đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích xã hội? Vì họ yêu nước? Nói như vậy hóa ra chúng ta không yêu nước mình? Yêu lắm chứ. Vậy thì phải chăng chúng ta, hay chính phủ chưa đi đúng hướng, chưa thật sự tập trung đầu tư vào giáo dục con người?

Nói đến Nhật Bản, ngay từ sau thế chiến thứ hai, Nhật đã ngay lập tức đầu tư vào giáo dục để gây dựng một thế hệ trẻ mới làm việc có quy tắc, không chịu đầu hàng trước khó khăn, luôn kiên cường với tính kỉ luật phi thường và văn hóa ứng xử tốt với cộng đồng. Phải chăng đó là một hướng đi mà chúng ta phải nhìn vào học tập để không bao giờ phải tự hỏi vì sao người Nhật lại “phi thường”? Người ta giàu nhưng người ta không hèn, người ta nhiều tiền nhưng người ta không dùng tiền để đánh đổi vị thế, người ta gặp nạn nhưng người ta vẫn kiên cường cùng nhau bám trụ, xoa dịu nỗi đau, cùng làm lại từ đầu. Bao giờ Việt Nam ta mới được như thế? Hay ta lại đang đi theo lối mòn mà người Trung Quốc vừa lăn bánh qua?

Có một vấn đề mà thế giới đang lo ngại là cuộc chiến giành tài nguyên: Các tính toán cho rằng nhóm các nước giàu nhất sử dụng số tài nguyên lớn gấp hai tất cả các nước còn lại trên thế giới. Liên Hiệp Quốc tính rằng nếu xu hướng dân số và tiêu dùng hiện nay còn tiếp diễn, đến những năm 2030 phải cần đến hai Trái Đất mới gánh nổi chúng ta.

Con người sụt giảm nhân cách, tính toán hơn, tinh ranh hơn trong mọi vấn đề. Các nước phát triển thì dùng mọi thủ đoạn để giành giật từng “miếng cơm. manh áo” của những kẻ yếu thế hơn mình. Dân số ngày càng tăng, người nghèo đói chưa bao giờ giảm bớt, giá cả thị trường ngày một leo thang. Nhưng Trái Đất thì chỉ có một. Vậy điều gì sẽ gánh nổi chúng ta?

Câu chuyện về đời sống, về thời thế chắc còn mãi trăn trở trong mỗi chúng ta. Nhìn Đất nước phát triển, đi lên vươn tầm khu vực thật thấy vui mừng lắm. Nhưng liệu rằng mỗi chúng ta đã biết mình đang ở đâu trong câu chuyện dài về đời sống con người?

Các học sinh đang tập thể dục tại một trường trung học ở thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Kết quả tổng điều tra dân số mới nhất ở Trung Quốc hồi đầu năm nay cho thấy nước này có 1,33 tỷ người và là quốc gia đông dân nhất hành tinh.
Ấn Độ, hiện là quốc gia đông dân thứ 2 thế giới với 1,2 tỷ người. Ấn Độ được dự đoán sẽ vượt qua Trung Quốc để trở thành nước đông dân nhất hành tinh với 1,6 tỷ người năm 2030
Chuyến tàu đông nghẹt hành khách đang đến ga, trong khi hàng trăm người khác chờ đợi lên tàu tại một nhà ga ở Dhaka, thủ đô Bangladesh. Liên hợp quốc dự đoán dân số thế giới đã đạt ngưỡng 8 tỷ năm 2025 và 10 tỷ năm 2083.
Hai chị em song sinh Cao Xiaoqiao và Cao Daqiao tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Họ được công nhận cặp song sinh già nhất thế giới, hiện 104 tuổi.
Một em bé bị suy dinh dưỡng nằm trên nền đất của một trung tâm từ thiện ở thị trấn Maradi, miền nam Niger.
Mọi người tập chung quanh giếng để lấy nước tại làng Natwarghad, bang Gujarat, phía tây Ấn Độ.
Các tài xế trong giờ cao điểm buổi chiều ở Đài Bắc, Đài Loan.
Một người nông dân xách những xô nước từ một hồ khô cạn để tưới rau tại tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.


Posted on 11/05/2011 11:33 PM

Tôi là ai? Việt hay Mỹ?

Kim Thu

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng màu trắng này thực ra là màu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.

Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng

Nguồn: http://www.x-cafevn.org/node/2710



Posted on 11/05/2011 8:24 PM

Quốc sử do ai chép?

Nguyễn Thông
blog Nguyễn Thông

Đừng vội bảo rằng lắm chuyện. Xin đừng vặn rằng không do người viết sử biên soạn ra, viết ra thì còn ai? Nếu vậy đã đi một nhẽ.

Chả là Hội khoa học lịch sử Việt Nam vừa kỷ niệm 45 năm thành lập. Lễ to ra phết, ở nhà hát lớn thủ đô, có cả chủ tịch nước tham dự. Tại buổi lễ trọng, vị đứng đầu nền sử học nước nhà hiện nay, giáo sư Phan Huy Lê nói rằng một trong những việc lớn của các nhà sử học sắp tới là soạn ra bộ quốc sử, chí ít cũng 25 tập.

Ông giáo sư Lê bộc lộ chút băn khoăn, các vương triều ngày trước, triều nào cũng có bộ quốc sử, gần đây nhất là triều Nguyễn với bộ Đại Nam thực lục (một phần quan trọng của bộ này là Đại Nam thực lục chính biên Đệ lục kỷ phụ biên chép về hai đời Thành Thái, Duy Tân, được ông bạn tôi- nhà nghiên cứu, một tay Hán Nôm cự phách, hàn sĩ Cao Tự Thanh đã dịch và chú giải xong, sách vừa ra đầu tháng 11), vậy mà “triều” ta, suốt từ khi khai sinh đến giờ, trải gần 70 năm không hề có quốc sử.

Nói như ông Lê, nghĩa là chưa có bộ sử ra hồn chứ thực tình triều ta cũng nhiều bộ sử lắm rồi. Ông giáo sư nâng lên tầm quốc sử cũng là cách nói tránh, nói khéo thôi bởi các bộ sử bấy lâu nay dưới chính thể này, bộ nào chả quốc. Sử tỉnh, sử huyện, sử xã ấp thì kể làm chi. Nhiều thì nhiều thật đấy nhưng không ra hồn. Sao nhỉ?

Còn sao nữa. Phải nói mà không sợ bị ném đá rằng dưới triều ta chỉ có những nhà soạn sử, viết sử, vẽ sử, tán sử, tô hồng sử chứ tìm mỏi mắt chẳng thấy nhà chép sử, ghi sử, những người gọi là sử công đúng nghĩa. Thứ tiêu chuẩn quan trọng nhất của sử là sự trung thực đã được xếp xuống hàng thứ yếu, thay vào đó là ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là chủ trương đường lối của đảng. Sử gia hầu hết là cán bộ, đảng viên, lĩnh lương biên chế, viết sử theo chỉ đạo của trên, họ làm vậy kể ra không có gì lạ. Chính vì thế mà sử bao năm nay thường một chiều, thiếu khách quan, hay tô hồng, thường bỏ sót, cố ý làm đậm điều này, buông lơi điều khác. Đọc sử dưới triều ta, hơi hướng bao trùm là ta thắng địch thua, ta hay địch dở, thành công lẫy lừng thất bại không đáng kể. Luôn nhắc dân tộc có 4.000 năm lịch sử nhưng bọn học trò, nhất là sinh viên hầu như chỉ biết đến sử đảng dù đảng từ lúc khai sinh đến giờ chỉ hơn 80 năm.

Lại nói chuyện chép sử. Sự việc, con người trong cái dòng chảy vô tận của thời gian, cuộc sống cứ trôi qua không ngừng. Người làm sử trước hết hãy là người thư ký trung thành của thời đại, của dân tộc, nếu chưa đủ sức bàn luận đánh giá thì hãy cứ biên niên cho chăm chỉ, đừng lý do này nọ mà bỏ sót, coi thường. Theo tôi, người làm sử phải độc lập về tư tưởng, không để bất cứ quan điểm chính trị, đường lối cầm quyền nào chi phối. Thiết nghĩ chả cần nhắc lại đầy đủ chuyện anh em nhà Thái sử Bá nước Tề. Họ nào sợ gì Thôi Trữ, vì chỉ biết đặt sử lên trên hết, dù dao gươm kề cổ. Trữ chuyên quyền, dám giết cả vua, bắt sử công phải chép theo ý mình, Bá chép vào thẻ “ngày ất hợi, tháng năm mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”, Trữ chém Bá. Các em Bá gồm Trọng, Thúc chép như anh, số phận cũng như anh. Quý là người em cuối cùng vẫn chép không thay đổi, bởi “chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn”.

Bộ sử mà giáo sư Lê mong mỏi rồi cũng có ngày ra đời. Chỉ hy vọng nó ghi lại những bước đi của dân tộc như dân tộc đã đi, những thăng trầm biến cải, hào hùng đau thương, những hay dở, tốt xấu mà dân tộc đã trải nghiệm. Một Điện Biên Phủ kết thúc vẻ vang cuộc chiến gần chục năm chống Pháp hầu như ai cũng biết, nhưng chả mấy ai biết chỉ riêng chiếm được đồi A1quân ta đã phải hy sinh gần vạn người. Thành cổ Quảng Trị hè 72 là nơi hơn vạn người lính trẻ, phần lớn sinh viên vừa nhập ngũ, ngã xuống. Sau 1 đêm chiến đấu, cả trung đoàn Cát Bi tuyền lính Hải Phòng chỉ còn mấy chục người. Đánh một cái đồn nhỏ K’Nak ở huyện K’Bang, Gia Lai mặt trận Tây Nguyên, một đêm hơn nghìn chiến sĩ bỏ xác… Suốt bao năm, từ thời còn chiến tranh, có mấy ai biết chiến tranh bi thương đến mức thế, bởi sử giấu. Sử không chép thì quả thật phụ bạc sự hy sinh của biết bao con người. Ngay thời hòa bình, làm ăn sinh hoạt, cũng chả thể tìm thấy trong sử chuyện người dân đã phá bung kìm trói ràng buộc như thế nào, vậy đến khi tổng kết quá trình đổi mới thì lại quy công về cho người có “công” trói; rồi chuyện cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, chuyện văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác… đố tìm được chi tiết trong sử chính thống, họa chăng chỉ có vài dòng lên án, kết tội. Viết đến đây, tôi xin trích ra mấy nhời tâm huyết của blogger Quang Đông, rằng “sử Việt đầy biến động thú vị nhưng vì lý do chính trị đã bị bóp méo… Chúng ta ngần ngại không dám nhìn thẳng vào quá khứ thì khó mà có bản lĩnh tự tin bước vào tương lai”.

Quốc sử, triều ta chưa có. Nhưng có mà vẫn như cũ, giọng điệu và cách làm cũ, lấy việc sáng tác làm chính, thì thà đừng có còn hơn.

5.11.2011
Nguyễn Thông

Nguồn: http://danluan.org/node/10500



Posted on 11/05/2011 8:14 PM

Lời tạ lỗi muộn màng

Tạp Ghi Huy Phương - Saturday, November 05, 2011

Chúng tôi cùng một khóa Thủ Ðức với nhau và sinh hoạt với nhau đã nhiều năm.

Tháng trước, trong dịp tổ chức một cuộc họp mặt thân mật trong gia đình, tôi đã không mời anh tham dự vì lý do muốn hạn chế số bạn bè và không muốn phiền đến nhiều người. Khi biết có vài người thân cả hai chúng tôi có mặt trong dịp này, anh có vẻ buồn và thắc mắc mãi. Qua lời kể lại của một người bạn chung, anh đã lo lắng tâm sự là không biết tôi có giận gì anh ấy không? Tôi không thể nào gặp anh để giãi bày một vài lời để anh hiểu cho tôi, vì chỉ hai hôm sau khi anh nói chuyện với người bạn, một buổi sáng đi bộ ngoài bờ biển anh đã bị chứng trụy tim và đột ngột qua đời.

Ðến thăm anh tại nhà quàn, lòng tôi thật ray rứt. Tôi thì thầm bên cổ áo quan, bên trong anh nằm nhắm mắt như đang say ngủ, là tôi thành thật xin lỗi anh, là tôi không hề giận gì anh cả. Nhưng làm sao để anh còn nghe những lời tôi nói! Anh nằm yên lặng, đôi mắt nhắm nghiền và miệng không hề mỉm cười để thứ lỗi cho tôi. Câu chuyện này cứ ám ảnh tôi mãi cho đến hôm nay.

Tôi có một người bạn già ở xa cách một giờ xe. Lâu nay anh ấy đau ốm òi ọp mãi. Mấy năm trước, thỉnh thoảng tôi có điện thoại hay đến thăm anh, nhưng suốt năm nay, quá bận bịu với những công việc đâu đâu, tôi gần như quên hẳn anh... cho đến ngày đọc được bản cáo phó của gia đình anh trên tờ nhật báo. Thấy tên anh, nước mắt tôi tự nhiên ứa ra. Tôi nhớ những ngày đi tù về, tôi mở một tiệm ảnh đi chụp đám cưới, sinh nhật... gia công làm ảnh và tráng phim sống qua ngày. Tôi thuê cửa tiệm ở bên này đường, nhà anh ở bên kia lộ, thỉnh thoảng anh lại đi băng qua đường, ghé chuyện trò với tôi. Chân anh yếu, lại qua đường xe cộ đông đúc, tôi lo ngại cho anh, nên nhiều khi phải chạy ra giữa đường đón anh. Chúng tôi đều biết rõ chuyện gia đình vui buồn của nhau nên không là họ hàng cũng trở thành thân thiết.

Cả hai gia đình chúng tôi đều lần lượt sang Mỹ, thỉnh thoảng vài năm mới thăm viếng nhau một lần. Biết anh lớn tuổi, lại có nhiều bệnh kinh niên, nhưng tin anh qua đời không khỏi làm cho tôi bùi ngùi thương tiếc. Nghe nói sau khi bệnh viện “hết thuốc chữa,” anh được đưa về nhà, trong tình trạng biết là không còn sống được bao lâu, có lúc nhớ đến đám bạn bè cũ, anh có nhắc đến tên tôi, nhưng các cháu sợ phiền, không ai nhấc điện thoại gọi cho tôi biết. Tôi gởi tràng hoa và đến viếng anh, sự thật là muốn biểu lộ cho gia đình anh biết tôi còn nhớ đến anh, còn anh thì lặng lẽ nơi kia, còn biết gì nữa đâu. Tôi có đến viếng anh hay không, nào có ích gì nữa. Sao tôi không đến thăm khi anh còn sống để anh em cười nói hể hả với nhau một đôi câu. Những vòng hoa, những nén nhang, những lời chia buồn khuôn sáo, không có thì cũng chẳng ra làm sao, nhưng đối với người đang nằm trong quan tài kia thật quá vô nghĩa.

Cách đây bốn năm, một anh bạn giáo già, đồng nghiệp của tôi bị một tai nạn giao thông thảm khốc. Xe anh đang qua đèn xanh giữa ngã tư thì một chiếc xe khác bên trái vượt đèn đỏ đâm ngang hông xe anh, cắt chiếc xe anh làm đôi. Anh thoát chết nhưng phần dưới thân thể hoàn toàn bị tê liệt, phải nằm một chỗ, mọi việc đều do gia đình anh tận tụy giúp đỡ. Chúng tôi có đến thăm anh một vài lần trong năm đầu tiên, nhưng dần dà mọi người đều có công việc và những lo toan riêng, chúng tôi hầu như quên hẳn anh. Vài tháng trước, vì có theo dõi đọc những bài viết của tôi, anh gọi lại tòa soạn, nhắn tin muốn liên lạc gặp tôi và để lại số điện thoại. Tôi gọi cho anh, xin lỗi lâu quá không nghe tin nhau, anh cũng cho biết không có chuyện gì, nằm buồn nên muốn gặp bạn bè thôi. Tôi hứa sẽ đến thăm anh, nhưng rồi chuyện đó đã không bao giờ xẩy ra. Sau một tuần đi xa về tôi được tin anh đã qua đời và tang lễ đã xong. Lẽ ra tôi đã đến thăm anh sớm hơn, nhưng lần lữa chuyện nọ đến chuyện kia, để câu chuyện trở thành muộn màng. Dù anh với tôi chỉ là đồng nghiệp, sơ giao, nhưng có một điều gì đó làm cho tôi cảm thấy ân hận.

Bốn năm về trước, trong thời gian phụ trách một chương trình truyền hình hằng tuần, tôi có nhận được thư kêu cứu của một thanh niên hiện đang sống tại Việt Nam. Tháng 3 năm 1975, người thanh niên này mới khoảng 4, 5 tuổi, khi theo cha mẹ chạy loạn từ Nha Trang lên Thành, em đã tuột tay mẹ và lạc trong đám đông hỗn loạn. Em được một gia đình nghèo, tử tế đem em về nuôi cho đến khi khôn lớn. Tên em ngày còn ở với cha mẹ ruột là Hùng, tên cha mẹ nuôi đặt cho em là Ngô Chí Tâm. Hiện nay em đã 40 tuổi, đang sống tại thị xã Ðà Lạt, có gia đình, và điều đau buồn là em đang bị bệnh ung thư. Chi tiết duy nhất về gia đình mà em biết là “cha mẹ bán trong câu lạc bộ tại một quân trường” (chắc hẳn cha em là một quân nhân?) và nơi em bị lạc là “Thành,” quận lỵ của Diên Khánh. Tôi đã nhiều lần đưa câu chuyện này lên chương trình “Huynh Ðệ Chi Binh” và một vài tờ báo, nhưng không có kết quả. Tôi hy vọng những dòng chữ ít ỏi này sẽ đến với cha mẹ em (cha mẹ nào mất con mà không đau xót và tìm kiếm!) và nhất là giờ này em vẫn còn sống, để tôi khỏi ân hận vì em tin cậy nhờ đến tôi một chuyện như thế mà không có kết quả gì!

Các bạn có bao giờ gặp phải một trường hợp như tôi không? Nhiều người có thể cho rằng những chuyện đó chỉ là chuyện nhỏ. Thật ra cũng chẳng có gì quan trọng, nhưng vì sao có những chuyện chúng ta có thể làm được để vui lòng người khác, chúng ta chưa hoàn thành hay đã vô tình bỏ qua. Trong cuốn sổ điện thoại ghi số của bà con, bạn bè, nhiều người đã một hai năm nay, tôi chưa hề nhấc máy lên một lần để gọi, trong khi mỗi ngày không phải là tôi không hề dùng điện thoại. Có điều gì chúng ta chưa làm, có lời gì chúng ta chưa nói với một người nào đó, là bằng hữu, là vợ hay chồng, là con cái chúng ta. Rồi đến một lúc nào đó, tất cả đều trở thành muộn màng.

Ngày mai, sau một đêm, hay chiều mai, sau một ngày, tất cả đều có thể biến đổi mà không báo trước. Một trong những người quen biết, thân thuộc hay thương yêu của chúng ta, hay chính chúng ta có thể đột ngột qua đời.

Nhưng làm sao để không có một điều gì phải hối tiếc!

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=139591&z=97



Posted on 11/05/2011 3:29 PM

Hiện thực Dân Chủ và “trò dân chủ” ở Việt Nam

Phạm Tuấn Xa

Ở Việt Nam không có dân chủ thật nhưng lại có rất nhiều “trò dân chủ” làm mê hoặc lòng người.

Một trong những trò khá hấp dẫn là trò chơi chữ. Hai chữ “Nhân dân” được dùng bừa bãi như để đề cao vai trò của nhân dân: Ủy Ban Nhân dân, Viện Kiểm Sát Nhân dân, Tòa án Nhân dân, Thanh Tra Nhân dân v.v…. Tờ báo lớn nhất của Đảng cũng mang tên “Nhân dân”.

Nhà nước thì xác định:“ Nhà nước của dân do dân vì dân”.

Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười nói:

“Đảng hết lòng vì dân để dân hết lòng vì Đảng”

Nhiều văn kiện của Đảng còn ghi rõ: “Lấy dân làm gốc” và xác định mục tiêu: “Xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh”.

Đảng cộng sản Việt Nam đề ra phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vân vân và vân vân…

Nhớ lại năm 1976 tôi vào Sài Gòn tìm người anh trai, rất tình cờ tôi được tiếp xúc với một số trí thức phía bên kia. Họ hỏi tôi:

- Sao các ông nói hay thế?

Tôi trả lời:

- Có vậy chúng tôi mới là người chiến thắng.

Họ ngắt lời tôi:

- Nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của chúng tôi căn dặn: “Đừng nghe Cộng Sản nói, hãy xem Cộng Sản làm”.

Một “trò dân chủ” khác là trò “đất đai là sở hữu toàn dân”. Trò này giúp Đảng gây dựng nên hàng loạt “địa chủ đỏ”, “tư bản đỏ” biệt thự san sát, xe hơi sang trọng nối đuôi trên các ngả đường; rất nhiều cán bộ Đảng có tiền cho con đi du học ở nước ngoài và có nhiều tiền gửi ở ngân hàng quốc tế. Khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng xa… Trong khi đó người dân bị mất đất để Nhà nước có đất bỏ hoang. Vì thế dân oan càng ngày càng nghèo đi. Nhiều người đi đòi công lý phải sống cảnh màn trời chiếu đất mà còn bị công an đánh đập, bỏ tù. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân ở TP Hải Dương có 112 m2 đất ở ven đô bị Nhà Nước thu hồi nhưng bà chỉ được bồi thường 50% còn 50% bị Nhà nước cưỡng đoạt thu hồi – nghĩa là bà bị cướp. Bà theo kiện nhiều năm vân chưa đòi được 50% đất ở của bà. Các cụ Nguyễn Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Cảo, Vũ Xuân Ánh, Đỗ Văn Thảo, Phạm Thị Khếu, Nguyễn Thị Nhị đến trụ sở tiếp dân bị mời về không tiếp vì lý do đi khiếu kiện đã lâu. Ức quá các cụ gọi lãnh đạo tỉnh ra chửi:

- Đ. mẹ thằng Văn! Đả đảo! Đả đảo!

Những người lao đông có công (85, 5 vạn người) bị sa thải theo QĐ 176 – HDBT ngày 9/10/1989 theo kiện 20 năm được một số lãnh đạo TW bênh vực, một số tờ báo đã đưa lên công luận từ năm 1995 ở thế kỷ trước…. Thế mà tại kỳ họp thứ 4 QH khóa XII Bộ trưởng bộ lao động Nguyễn Thị Kim Ngân độc quyền ra tuyên bố: “Không giải quyết lại chính sách 176”. Nghĩa là Đảng có quyền sa thải!

Tôi theo kiện 21 năm đến khuynh gia bại sản, bệnh tật phát sinh, tinh thần hoảng loạn mà chưa đòi được 36,8 m3 gỗ thông trị giá hàng tỷ đồng chỉ vì tôi không có tiền chạy án. Thật là bất lương.

Nói tóm lại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam không có dân chủ mà thực chất chỉ có “trò chơi dân chu” để che đậy độc tài Đảng trị.

Những vụ đàn áp khủng bố dai dẳng các nhà dân chủ bất đồng chính kiến that là vô đạo, vô luật, vô văn hóa.

Những vụ án chính trị xử các nhà trí thức diễn ra từ nhiều năm nay với những tội danh mơ hồ của Điều 88 bộ luật hình sự hết sức độc tài.

Ong Lê Hiếu Đằng - Nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Sài Gòn qua bức xúc đó trở nên quyết liệt:

“Đã đến lúc mọi người không thể cứ phải “ăn cái bánh vẽ dân chủ” và chịu làm “cây cảnh tự do” cho bọn độc tài che mắt nhân dân Việt Nam và thế giới”.

Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã từng thảng thừng gọi cán bộ trong bộ máy công quyền Nhà nước hiện nay là “Bọn tư bản man rợ”. Cụ kêu gọi hãy phát động một cuộc kháng chiến mới không cần vũ khí để chống lại bọn Tư bản man rợ.

Hơn lúc nào hết, Việt Nam cần có tự do dân chủ thật sự không chỉ để đất nước được phát triển lành mạnh, chống bất công, chống áp bức mà cũn để bảo vệ giang sơn đất nước. Nếu được tự do, dân chủ, nhân dân Việt Nam sẽ:

- Không cho Trung Quốc vào khai thác Boxit ở Tây Nguyên.

- Không cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn.

- Không cho xây dựng đường xe lửa cao tốc Bắc Nam.

- Không cho lao động Trung Quốc vào làm việc ở Việt Nam.

- Không cho thương lái Trung Quốc vào Việt Nam mua hàng.

- Không cho người Trung Quốc được tự do đi lại qua biên giới.

- Để nhân dân được tự do biểu tình chống Trung Quốc và hô vang khẩu hiệu: “Dân chủ, nhân quyền cho nhân dân Việt Nam” và “Bảo vệ toàn vện lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo cho Việt Nam”.

Hải Dương ngày 21 tháng 10 năm 2011 Công dân nhà giáo
Phạm Tuấn Xa
ĐT: 01644996929

Nguồn: http://danluan.org/node/10495



Posted on 11/03/2011 10:51 PM

Bi kịch Hy Lạp: mắc nợ kinh niên

Nguyễn Xuân Nghĩa - Thursday, November 03, 2011

Vì sao Hy Lạp cứ hay vỡ nợ?

Ðã có một thời mà cả thế giới có thể bị chấn động bởi mọi tin tức xuất phát từ Hy Lạp.

Thời ấy, “thế giới” gồm các quốc gia quanh Ðịa Trung Hải. Thời ấy, Hy Lạp là trung tâm của “thế giới văn minh,” cái nôi của văn hóa Tây phương, là đế quốc trải rộng từ Ai Cập đến rặng Hindu Kush, bao trùm lên một phần của Ấn Ðộ và A Phú Hãn ngày nay. Thời ấy, Hy Lạp cống hiến cho nhân loại những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất, như Socrates, Plato, Aristotle, v.v.... Hoặc Ðại Ðế Alexander, một nhà chinh phục toàn cầu. Trước cả đế quốc La Mã, Thiên Chúa giáo, thời Trung Cổ, đế quốc Ottoman, cuộc thám hiểm của Cristobal Columbus và việc Âu Châu khám phá ra “Tân Thế Giới,” đế quốc Hy Lạp đã từng là “siêu cường toàn cầu.”

Thời ấy là hơn hai ngàn năm về trước...

Bây giờ, tin tức xuất phát từ Hy Lạp cũng lại gây chấn động toàn cầu, vì chuyện nợ nần của một nước thuộc loại nhược tiểu Âu Châu, với hậu quả có thể là vụ khủng hoảng của đồng Euro và cả Liên Hiệp Âu Châu. Cũng qua những tin tức ấy, người ta có thể thấy ra một căn bệnh tiền kiếp, lưu cữu và gần như thường trực của Hy Lạp.

Cái bệnh đi vay - và vỡ nợ.

***

Xin hãy nói về lá tử vi của Hy Lạp.

Hy Lạp là quốc gia có nhiều biển hơn đất, với 6,000 hải đảo và nhiều cụm bán đảo hiểm trở. Rất dễ cho việc phòng thủ mà lại khó bành trướng ra ngoài vì một lý do căn bản: ít đất canh tác và thiếu đường thông thương trong “nội địa.” Dân “miền Tây” mua gạo của xứ khác lại rẻ hơn gạo của “miền Ðông” - từ vùng Thessaly bên bờ biển Aegea (Aegean Sea). Vì địa dư hình thể bất lợi ấy, Hy Lạp phải tốn kém tư bản - thu hoạch ít so với đầu tư - để phát triển và tự vệ. Nghệ thuật hàng hải của dân tộc này không đóng góp gì cho việc san bằng các chướng ngại đó.

Ðấy là bài toán kinh tế nằm trong thiên mệnh của Hy Lạp.

Bây giờ, hãy xem “nhân định thắng thiên” ra sao...

Từ bên kia bờ biển Aegae, khi đế quốc Ottoman của dân Thổ nổi lên và chiến thắng khắp nơi từ năm 1299, Hy Lạp chịu chung số phận phụ dung. Năm 1453, khi kinh đô Constantinople của đế quốc Byzance sụp đổ, trí thức Hy Lạp đã vượt biên vượt biển qua Âu Châu và có đóng góp cho phong trào Phục Hưng gọi là Renaissance của Âu Châu. Biến cố ấy cũng khiến Columbus lên đường tìm ngả giao lưu với Ðông phương ở sau lưng đế quốc Ottoman, ngẫu nhiên khám phá ra “Tân Thế Giới” và mở ra 500 năm thống trị của Âu Châu, từ 1492 đến 1991 - khi một cường quốc Âu Châu là Liên Bang Xô Viết tan rã...

Phần mình, Hy Lạp mất 11 năm kháng chiến chống lại đế quốc Ottoman kể từ 1821 và đạt thắng lợi nhờ các cường quốc bên ngoài. Chủ yếu là nhờ ba cường quốc Âu Châu là Pháp, Anh và Nga. Họ cần ổn định miền Ðông biển Ðịa Trung Hải và không muốn xứ nào có khả năng khống chế cả khu vực. Nền độc lập của Hy Lạp là do ba cường quốc ấy thu xếp - và ban cho - kể từ Hiệp Ước Constantinople vào năm 1832.

Từ đất Bavaria của Ðức, Hoàng Thân Otto về làm vua Hy Lạp và cai trị dưới quyền nhiếp chính của một hội đồng gồm ba nhân vật Bavaria. Kể cả một bộ trưởng Tài Chính Bavaria sau này là thủ tướng Hy Lạp, Josef Ludwig von Armansperg.

Cuộc chiến giành độc lập khiến Hy Lạp vỡ nợ lần đầu vào năm 1826, được ba cường quốc Âu Châu kia chia nhau gánh vác. Họ chỉ chi tiền cho kẻ có tiền hay có đất, thành phần thương nhân và địa chủ có vẻ quốc tế nhất của Hy Lạp. Nhờ đó, thành phần này cũng có tiền cho quần chúng ở dưới vay lãi - và mắc nợ ngập đầu.

Cái nghiệp đi vay của dân Hy Lạp khởi sự từ đó rồi!

***

Mà chuyện Hy Lạp vay mượn rồi vỡ nợ đã trở thành nếp.

Ðó là nếp hằn rất sâu sau mỗi chu kỳ suy trầm hay khủng hoảng kinh tế, nhồi trong những chấn động quốc tế của một quốc gia chỉ có nền độc lập vay mượn!

Khi đế quốc Ottoman tàn lụi dần, khu vực sinh hoạt của Hy Lạp trở thành khoảng trống bất ổn ăn sâu vào vùng Balkan, mà các cường quốc liên hệ đều muốn kiểm soát. Các cường quốc đó là đế quốc Nga (trước thời Xô Viết), đế quốc Hung-Áo (Autro Hungarian), đế quốc Anh, Pháp và cả nước Ðức trong thời kỳ thống nhất từ sau 1871.

Năm 1892, khi Hy Lạp lại vỡ nợ, thế lực quốc tế ấy cùng các nhà đầu tư trái phiếu góp phần cứu vãn chuyện nợ nần qua một cơ chế đã có cái tên rất hiện đại, tương tự như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, Ngân Hàng Thế Giới World Bank, hay Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu ECB: Ủy Ban Kiểm Soát Tài Chánh Quốc Tế IFCC. Ủy ban này thúc đẩy Hy Lạp... cải tổ để tăng cường khả năng phòng ngự khu vực Balkan. Thời đó rồi - cứ như chuyện hiện đại - người ta đã nói đến kỷ cương ngân sách, cải thiện hệ thống ngân hàng và quản lý... “vĩ mô,” nói theo kiểu Hà Nội ngày nay.

Và thời ấy rồi, Hy Lạp đã gặp vấn đề rất... Việt Nam. Ðó là không xây dựng hạ tầng vận chuyển để thống nhất khả năng phân phối trong nội địa hầu có được một nội lực tối thiểu về kinh tế.

Vì vậy, trong hàng loạt biến động quốc tế sau này, như hai cuộc chiến vùng Balkan (1912-1913), Thế Chiến I (1914-1919), rồi chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ, một hậu thân của đế quốc Ottoman, vào các năm 1919-1922, và cuộc Tổng Khủng Hoảng 1929-1933, Hy Lạp quay trong gió lốc và lại vỡ nợ vào năm 1932! Lần thứ ba kể từ năm 1826.

Sự xuất hiện của Liên Xô và Thế Chiến II lại châm thêm bài toán mới: chủ nghĩa cộng sản lan vào Hy Lạp nên xứ này thành tiền đồn của “Thế Giới Tự Do,” lại được các cường quốc Tây phương dồn tiền cấp cứu. Lần này, đứng sau nước Anh tàn lụi đã có thêm Hoa Kỳ hùng tráng. Hy Lạp được viện trợ, được vay tiền và năm 1981 được hội nhập vào Cộng Ðồng Kinh Tế Âu Châu EEC, tiền thân của Liên Âu EU ngày nay.

Dù có sự hào phóng đó của quốc tế, Hy Lạp lại vỡ nợ thêm lần nữa, vào năm 1991. Việc chi thu được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Liên Âu chia nhau giám sát. Năm đó, dư luận còn hồ hởi với sự sụp đổ của đế quốc Liên Xô nên khủng hoảng tài chánh Hy Lạp chẳng đáng một dòng tin trên màn thời sự.

Hai chục năm sau, Hy Lạp làm Âu Châu rung chuyển.

***

Nhìn từ bên trong, xứ này có nhiều vấn đề mà người Việt thấy lạ... mà quen.

Ðó là một quốc gia có gánh nặng công trái quá cao; hạ tầng cơ sở lệch lạc; xã hội tham ô vì dựa trên thành phần “chủ đạo” là các nhóm thế lực có quan hệ hữu cơ với lãnh đạo ở trên và kinh doanh ở dưới; cơ chế kinh tế lệ thuộc vào xuất nhập cảng và đầu tư ngoại quốc; hệ thống thuế vụ không thu được thuế cho ngân sách; mạng lưới huy động trái phiếu bất lực vì chẳng đi vay được nước ngoài. Và cuối cùng để quốc tế chi phối vận mệnh quốc gia bằng đồng tiền.

Còn quần chúng ở dưới vẫn nhẩn nha vui sống vì tin rằng cuối cùng thì vẫn có quốc tế, không Âu thì Mỹ, sẽ nhảy vào cấp cứu.

Nhìn lại thì trong gần hai thế kỷ, Hy Lạp tồn tại là nhờ ngoại bang. Lần này, ngoại bang đang bạc đầu về bạc tiền. Việc họ có tung tiền chuộc nợ như trong quá khứ hay không sẽ là vấn đề.

May là xứ này đã hội nhập vào Liên Âu, đang vịn tay vào đồng Euro và... ở rất xa Trung Quốc!

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=139488&z=97



Posted on 11/03/2011 10:46 PM

Cạnh tranh càng trở nên sâu sắc tại Biển Đông

Roberto Tofani/Asia Times Online
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

HÀ NỘI - Trong cuộc chuẩn bị năm nay cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), Philippines và Việt Nam đã đi bước trước qua việc gửi ra một thông điệp chung: rằng họ không sẵn lòng nhường nhịn áp lực gia tăng của Trung Quốc trong các vấn đề lãnh hải chưa được giải quyết ở Biển Đông.

Liên minh lỏng lẻo giữa hai quốc gia thành viện của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhằm mục đích tăng cường hợp tác chiến lược của họ đã có hiệu quả trong việc mời gọi các cường quốc khác trong khu vực tham dự để giúp đối trọng với các đòi hỏi của Trung Quốc trong cuộc tranh cãi đa phương đang dậy men.

Hội nghị EAS sẽ diễn ra vào giữa tháng Mười tại Bali, Indonesia, và sẽ là lần đầu tiên bao gồm cả Hoa Kỳ và Nga. Các căng thẳng trong vùng Biển Đông dự kiến sẽ là khía cạnh nổi bật tại cuộc họp đa phương, vốn sẽ nhìn thấy sự có mặt của một số nhà lãnh đạo thế giới, bao gồm việc tham dự của cả Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

Trong những tháng gần đây, Philippines và Việt Nam đã thực hiện một cách tiếp cận ngoại giao hai chiều tương tự bằng cách tăng cường quan hệ với các đối thủ cạnh tranh truyền thống của Trung Quốc trong khu vực, bao gồm cả Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời vẫn duy trì đối thoại và phát triển quan hệ thương mại với Bắc Kinh.

Cùng lúc đó, các nước láng giềng ASEAN đã tăng cường quan hệ an ninh song phương của mình trong một nỗ lực rõ ràng để cân bằng với sức mạnh gia tăng của hải quân Trung Quốc. Ngày 27 tháng 10, Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã ký một số thoả thuận về hàng hải với đối tác Việt Nam Trương Tấn Sang, bao gồm các thỏa thuận hải quân nhằm chia sẻ thông tin, ứng phó thiên tai, ngăn chặn nạn buôn lậu, vi phạm bản quyền và bảo vệ nguồn tài nguyên biển trong khu vực Biển Đông.

Chủ quyền lãnh thổ đối với các khu vực trong Biển Đông đang bị tranh chấp bởi Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Đài Loan và Brunei. Trong sáu tháng qua, các căng thẳng đã tăng vọt thông qua các sự cố trên biển, trong khi cùng lúc đó, những nước khiếu kiện đã đưa ra một loạt các tuyên bố chung nhằm tìm kiếm một giải pháp chung và hòa bình cho các tranh chấp lãnh thổ chồng chéo của mình. Nhiều khu vực Biển Đông được tin là phong phú các nhiên liệu hóa thạch đồng thời rất quan trọng đến việc giao thương qua lại và thương mại trong khu vực.

Bằng cách liên kết lực lượng của mình, Philippines và Việt Nam nhắm đến việc tăng cường cho sức đàm phán đối mặt của mình đối với Trung Quốc. Bắc Kinh đã nhiều lần tuyên bố lối tiếp cận mà họ ưa thích là theo đuổi các thỏa thuận trên căn bản song phương với các nước nguyên đơn nhỏ hơn, trong khi các nước nhỏ từng thúc đẩy một thỏa thuận ràng buộc thông qua các kênh đa phương do 10 thành viên ASEAN dẫn đạo.

Tại Diễn đàn khu vực ASEAN 18 được tổ chức vào tháng Bảy, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì và các đối tác ASEAN của ông đã ký một văn bản đặt định những biện pháp từng được đồng ý để khiến việc thực hiện bản Tuyên bố năm 2002 về Ứng xử của các Bên trong vùng Biển Đông (DOC) trở nên nhiều ràng buộc hơn. Văn kiện mới với Tám điểm đã đề ra những hướng dẫn cho việc thực hiện và thoả thuận bằng sự đồng thuận của các hoạt động hợp tác chung trong tương lai vốn sẽ dẫn đến việc "cuối cùng sẽ hiện thực hóa" một luật định chính thức trong khu vực hàng hải này.

Bản thỏa thuận đã nhận được những đánh giá khác nhau. Các quan chức Philippines cho biết rằng các hướng dẫn mới (DOC) sẽ không đủ để làm giảm bớt căng thẳng. Các quan chức Việt Nam lại nhấn mạnh đến sự phối hợp của họ với Indonesia, nước chủ nhà của cuộc họp, và nói về sự "thành công" của diễn đàn đa phương.

Tông Tiểu Linh, Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, khẳng định rằng khối (ASEAN) không phải là một thành phần trong cuộc xung đột về lãnh thổ "do đó, một tài liệu đạt được từ hai phía ấy không thể giải quyết được các tranh chấp". Ông nhấn mạnh rằng vấn đề chỉ có thể giải quyết được thông qua một "khuôn khổ song phương".

Một bảo hiểm có tính chiến lược

Giữa những quan điểm khác nhau, Tổng thống Philippines Aquino đã đi Bắc Kinh vào đầu tháng Chín để gặp gỡ đối tác Hồ Cẩm Đào của mình. Chuyến thăm năm ngày này bị áp lực của những căng thẳng tại Biển Đông, nhưng hai nhà lãnh đạo vẫn khẳng định lại cam kết của họ "để giải quyết các tranh chấp thông qua đối thoại hòa bình, để duy trì an ninh, ổn định tiếp tục trong khu vực và một môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế".

Cuối tháng đó, trong một cuộc họp tại Tokyo vào ngày 27 Tháng Chín, Aquino đã minh chứng sự thiếu niềm tin vào hợp tác hoa mỹ đó bằng cách thúc đẩy mối quan hệ về hải quân với Nhật Bản - cũng trong nhân danh của việc duy trì hòa bình và ổn định ở vùng Biển Đông. Ngay ngày hôm sau, các quan chức quốc phòng Nhật Bản và ASEAN đã tổ chức một cuộc họp cấp cao về hợp tác và tham vấn trong khu vực Biển Đông. Các quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN đã "trưởng thành từ đối thoại đến một tình huống mà Nhật Bản đóng một vai trò hợp tác cụ thể hơn", Kimito Nakae, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nhật Bản, đã cho biết sau cuộc họp.

Tuyên bố của Nakae cũng được trích dẫn trong các bài tường thuật nói rằng các căng thẳng về thăm dò dầu khí và các tiền đồn quân sự ở Biển Đông sẽ đòi hỏi đến việc phải hợp tác nhiều hơn từ Mỹ và Ấn Độ để giải quyết. Trong gợi ý đó, chủ tịch (Trương tấn) Sang của Việt nam đã gặp Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh vào ngày 12 tháng 10 và ký kết một thỏa thuận thăm dò dầu và khí giữa công ty ONGC Videsh của Ấn độ và Dầu khí Việt Nam trong một khu vực được khẳng định là chủ quyền của Việt nam nhưng bị Trung Quốc tranh dành trong Biển Đông.

Thỏa thuận này, có thể đoán trước là không được chào đón ở Bắc Kinh. Phản ứng với lời tuyên bố về cuộc hợp tác thăm dò ấy, một bài bình luận trên trang nhất tờ Tin Năng Lượng Trung Quốc, do Nhân Dân nhật báo thuộc sở hữu của đảng CS Trung Quốc xuất bản cho rằng "Chiến lược năng lượng của Ấn Độ đang rơi vào một vực xoáy cực kỳ nguy hiểm".

Thỏa thuận về năng lượng đã được ký kết một ngày sau khi tổng bí thư đảng CS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đến Bắc Kinh cho cuộc thảo luận song phương. Trọng dàn xếp một thỏa thuận song phương nhằm kềm chế các tranh chấp có liên quan ở Biển Đông. Đồng thời, vào cuối tháng Mười, tướng phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Yasuo Ichikawa, đối tác Nhật Bản của ông đã ký một biên bản ghi nhớ về việc tăng cường hợp tác quốc phòng song phương.

Trong khi chính sách cứng rắn hơn của Manila đối với Trung Quốc được ủng hộ bởi liên minh có tính lịch sử của họ với Mỹ, Hà Nội lại phần nào mơ hồ về vị trí của mình. Một mặt, chính sách đối ngoại của của Việt Nam dựa trên nguyên tắc của cái gọi là "bạn bè với tất cả các bên", mặt khác, laị mơ hồ phản ánh các chia rẽ nội bộ bên trong của chính phủ và Đảng cầm quyền, theo một nguồn tin uy tín từng nói với tờ Asia Times Online trong điều kiện ẩn danh cho biết.

Trong khi Trọng, tổng bí thư Đảng từng được xem là thân Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại được cho là ủng hộ phương Tây trong triển vọng và mong muốn cải thiện quan hệ hợp tác có tính chiến lược với Mỹ. Sang từng được xem là để giữ cân bằng về quyền lực và các động thái gần đây đã cho thấy rằng ông cũng đang nghiêng về phía phương Tây, nguồn tin thân cận trong Đảng cho biết thêm.

Mỹ đang đáp ứng - ít nhất là một cách hoa mĩ - đến những lời kêu gọi có tính chiến lược. Trong chuyến lưu diễn đầu tiên của mình đến châu Á, Leon Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ mới được bổ nhiệm đã tái khẳng định vai trò chiến lược của Mỹ trong khu vực tại một cuộc họp hàng năm của Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN được tổ chức vào cuối tháng Mười. "Tôi nói với họ rằng tôi sẽ làm mọi điều có thể ... nhằm phát triển những quan hệ để củng cố an ninh của khu vực này cho tương lai", Panetta cho biết.

Lời tuyên bố của ông lặp lại một quan niệm về chính sách từng được khai triển bởi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, kêu gọi sự tham gia nhiều hơn về chiến lược của Mỹ được nêu lên trong một bài xã luận xuất bản trên tờ Foreign Policy gần đây. Trong bài báo đó, bà Clinton đã viết, "Hoa Kỳ đã di chuyển để tham dự đầy đủ vào các tổ chức đa phương của khu vực, chẳng hạn như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC)". Những tuyên bố tương tự nhằm thúc đẩy chủ nghĩa đa phương để giải quyết tranh chấp được dự kiến trong chuyến thăm của Obama đến hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) vào ngày 19 tháng 11.

Bằng phương cách của mình, Philippines và Việt Nam đang thúc đẩy Mỹ và sự tham gia hơn nữa của các sức mạnh khu vực vào cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Họ sẽ cần phải cẩn thận để tránh không làm trầm trọng hơn cuộc tranh chấp: Trung Quốc hiện nay có thể thực hành ảnh hưởng của mình, bao gồm cả việc thông qua thương mại và đầu tư tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong những phương cách mà một nền kinh tế suy yếu của Hoa Kỳ có thể không còn theo kịp nữa.

Thỏa thuận song phương giữa Philippines, Việt Nam, và các cam kết mới về chiến lược và thương mại của Nhật Bản và Ấn Độ đối với Biển Đông sẽ có khả năng khích lệ các khẳng định về chủ quyền của quốc gia khiếu kiện trong khối ASEAN. Tuy nhiên, bất kỳ chỉ huớng nào cho thấy rằng Hoa Kỳ đang dàn xếp các liên minh song phương trong nội bộ ASEAN và sự tham gia nhiều hơn của Nhật Bản và Ấn Độ đặc biệt để ngăn cản sức mạnh của Trung Quốc đều có nguy cơ của một phản ứng ngược với phản ứng tử tế từ các đồng minh ASEAN mà Washington từng dự kiến.

Nguồn: Asia Times Online



Subscribe to aitubinhdien

Powered by us.groups.yahoo.com

Đăng Ký | Tạo | Giới thiệu | Sơ đồ trang web | Những đặc tính | Diễn đàn | Hiển thị Tắt | Fa | Hỗ trợ
Copyright © 2000-2013 Aimoo Free Forum All rights reserved.
Energy effecient LED lights, bulus, lighting fixtures and flashlights from Lighting EVER. Better lighting, Better sense.
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY
LUFFY LUFFY LUFFY