New Category in Show Off for Forum Owners to Help Each Other, please click here.
Close it  
Tên Tài Khoảng  Mật Khẩu

SmileSmileSmile
Hop cho: 

Hôm Nay
Tác Giả
Thông Báo
Ngày

linhtran
Chủ Đề :   TẢN MẠN THÁNG 5 “ĐỎ LỬA” _ TÔ VĂN TRƯỜNG

TẢN MẠN THÁNG 5 “ĐỎ LỬA”

TÔ VĂN TRƯỜNG

Là con người ai mà chẳng có lúc buồn vui theo nhịp đập của cuộc sống. May sao, điều mà tôi cảm nhận được dù xã hội còn nhiều nhiễu nhương, người dân vẫn còn vật lộn trong muôn vàn khó khăn trở ngại cả vật chất lẫn tinh thần nhưng nguồn trí tuệ đang dâng lên, dòng nhân ái đang chảy mạnh, mảnh đất hình chữ S thân thương vẫn đang sục sôi rung chuyển thúc giục nhân tâm, kiên nhẫn từng giờ từng phút 'vắt óc' tạo ra năng lượng tích cực trong nhân gian. Đó cũng là nguồn lực sâu xa đang âm vang cộng hưởng vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho đất nước, cho dân tộc.

Nhiều đồng nghiệp, kể cả nhà báo hỏi về bình luận các sự kiện nóng hổi trong tháng 5 này. Hà Nội, Thủ đô của Việt Nam có những chuỗi ngày nóng khủng khiếp. Kế tiếp theo là miền Trung với những ngày “đỏ lửa”. Cả Việt Nam trên bản đồ dự báo thời tiết với màu đỏ sẫm của khí nóng hầm hập. Chưa bao giờ có sự cố đồng loạt cả 22 tỉnh thành phía Nam đột ngột bị mất điện trên diện rộng vào buổi chiều ngày 23/5 vừa qua chỉ vì sự tắc trắc bởi một chiếc xe cần cẩu ở Bình Dương lại càng làm cho không khí thêm ngột ngạt do cả thiên tai lẫn nhân tai!

Người bạn (AITAA) đang sống ở Hà Nội tâm sự thường vào buổi chiều lại xuất hiện những cơn giông cuồn cuộn, gió thổi tới tấp, mây đen cuồn cuộn đổ về, trời đất, cây cối, bụi đường bị mờ mịt bởi các trận gió thổi thốc cả cát bụi và rác tung lên trời. Biến đổi khi hậu hay biến đổi thời thế? Có buổi chiều thứ bảy, Hà Nội có cơn mưa giăng kín đen kịt bầu trời vào lúc mặt trời lặn, mây cuồn cuộn bay trên bầu trời chuyển hướng từ phía đông bắc tiến về hướng nam, gió cuộn cuộn thổi vào đảo hướng nhiều lần nhưng sau đó lại không mưa!?.

Biến đổi khí hậu hay biến đổi thời thế? Hội nghị TW Đảng lần thứ 7 khóa XI kết thúc với những kết quả bầu chọn không phải như kế hoạch đề xuất của Bộ Chính trị. Cuối tháng 5 lại tiếp tục họp Quốc hội theo kế hoạch và chuẩn bị phê duyệt nhiều dự luật mới. Các tháng sau sẽ là mùa mưa bão trong năm. Đất nước ta có biến đổi gì không? Mong rằng những biến đổi ấy sẽ thuận chiều phát triển và nhân dân ngoài việc chịu khổ vì biến đổi khí hậu sẽ không phải đớn đau vì những biến đổi khác để cuộc sống dễ chịu hơn.

Lướt đọc trên mạng thấy đăng tải những điều ngay cả Harvard cũng không dạy thấy ngồ ngộ!
Trong vụ cướp nhà băng được cho là ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một tên cướp hét lên: "Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng mày!". Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống. Điều này được gọi là: "Cách thức khai tâm - Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn". Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: "Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!". Điều này được gọi là "Hành xử chuyên nghiệp - Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!". Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp hết phổ thông): "Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu?". Tên cướp già gằn giọng: "Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!". Điều này được gọi là: "Kinh nghiệm - Ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở". Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài: "Đợi đã, hay để 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất!". Điều này được gọi là: "Bơi theo dòng nước - Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi". Người giám đốc tự nhủ: "Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!". Điều này được gọi là: "Hãy loại bỏ những điều khó chịu - Hạnh phúc là điều quan trọng nhất". Ngày hôm sau, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi, đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng rất giận dữ: "Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, bọn chó lãnh đạo chỉ ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!". Điều này giải thích tại sao: "Kiến thức thì giá trị như vàng"’

Mẩu chuyện nói trên phiếm mà không phiếm vì có thể rút ra kết luận trong cuộc sống luôn có những điều chúng ta có thể nhanh chóng nhìn ra, có những điều không như chúng ta thấy từ bên ngoài, và chân lý chỉ mang tính tương đối. Quan trọng nhất là thái độ đối với cuộc sống này, hay cách nhìn chúng ta lựa chọn để mang lại vui vẻ, hạnh phúc cho bản thân, cho những người thân xung quanh mình.

Sự kiện Nick Vujicic, chàng trai người Úc đến Việt Nam, anh không tay, không chân, với những việc đã làm được, xứng đáng được ngưỡng mộ và tôn vinh. Cũng có tiếng thở dài vì ở Việt Nam cũng có những gương mặt tiêu biểu như Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng, Vận động viên khuyết tật Phạm Thị Thu, “Cô bé xương thuỷ tinh” Phương Anh vv... đã làm được những điều mà ngay cả người thường cũng khó có thể làm được nhưng “bụt chùa nhà không thiêng”! Đúng là rất nhiều người Việt của chúng ta rất đáng được tôn vinh và cần được tôn vinh.

Nhìn vào sự kiện Nick Vujicic đến VN có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, đó là điều dễ hiểu, đều cần được tôn trọng vì nó phụ thuộc hoàn cảnh, nhận thức, góc nhìn của mỗi người. Tuy nhiên, cũng phải công nhận việc mang một hiện tượng của thế giới vào VN thành công là điều đáng ghi nhận. Người ta hy vọng việc làm này đóng góp vào thay đổi "thái độ sống" của giới trẻ VN cũng như xã hội chúng ta. Có ý kiến cho rằng điều khác biệt quan trọng của những người khuyết tật Việt Nam và Nick là Nick có tài hùng biện, tài viết sách và nói chuyện rất dí dỏm mà không hề quan ngại về những khuyết tật của bản thân. Anh ấy nói "everybody is beautiful" và rất tự hào về mình. Nét mặt của Nick ngời sáng khi anh ấy nói chuyện trước công chúng, có vẻ như anh ấy thấy mình sinh ra với hình hài như vậy thì cũng có nhiều cái hay, hầu như Thượng đế muốn tạo ra thế để có sự đa dạng. Nick được gia đình truyền cho nhiệt huyết sống, qua chương trình của Nick, người ta thấy được sinh ra trên đời này đã là hạnh phúc, vì vậy hãy làm cho mỗi ngày mình sống vui hơn và có ý nghĩa hơn. Đó là quan niệm sống rất tích cực.

Bây giờ sang chuyện khác. Nhìn rộng hơn về toàn cục, có ý kiến cho rằng tình hình ở Việt Nam hiện nay nhóm lợi ích đã chi phối nền kinh tế và hệ thống luật pháp. Sắp tới có thể cả hệ thống chính trị và văn hóa, xã hội. Tất cả các sự thay đổi về Hiến pháp, và pháp luật phụ thuộc vào nhóm lợi ích (quan chức nhà nước + khối siêu giàu). Ngay cả các đại biểu Quốc hội, vốn là các quan chức ở các địa phương, cũng không thoát khỏi sự ràng buộc mới này. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam quá thiên vị khuyến khích phát triển khối nhà nước, tập trung đầu tư và chi tiêu nguồn lực (vốn, chất xám và lao động) vào khối này. Thực tiễn cho thấy hoạt động thiếu hiệu quả của khối nhà nước đã gây ra sự phí phạm quá mức các nguồn lực, vốn rất khan hiếm và vô cùng cần thiết cho một nước đang phát triển như VN.

Thực tế cho thấy, ngay tại các nước tư bản, các trùm tư bản (vốn có mục tiêu lớn nhất là làm giàu túi tiền của mình) cũng phải cân bằng giữa lợi ích bản thân và lợi ích của xã hội, vì họ biết rằng dù họ là giai cấp bóc lột, nhưng họ vẫn phải sống trong mối tương hỗ với giai cấp bị bóc lột (định nghĩa theo Marx). Họ cũng biết rõ lợi ích của họ gắn chặt với lợi ích của đại đa số dân cư. Các nước phát triển như Anh, Pháp Mỹ hay Úc đều có sự chuyển biến nhận thức như vậy. Chính tại các nước này, đa số các tài sản của các tỷ phú đều đặt tại nước phát triển, nơi có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh bảo vệ họ, và tài sản của họ sẽ tăng lên nếu các nền kinh tế này phát triển bền vững, nhân lực kỹ thuật cao, sức mua thị trường dồi dào. Trung Quốc cũng đang học theo bằng phát triển chính bản thân thị trường nội địa. Nền kinh tế TQ phát triển nhanh chóng và lành mạnh sẽ làm khối tài sản của giới giàu tăng nhanh chóng và bền vững, hơn rất nhiều nếu họ mang tiền đi đầu tư tại các quốc gia phát triển khác vốn khác biệt về văn hóa, đã bão hòa về tăng trưởng và rất đắt khi mạo hiểm đầu tư.

Nhân sự kiện Quốc hội đang họp, có ý kiến hỏi nhận xét về phát biểu của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về dự án bauxite, tôi không bình luận vì mới viết bài 8 trang “Lời cuối cho bauxite Tây Nguyên”. Nếu TKV hiểu thấu đáo phương pháp luận, cách tiếp cận bài toán kinh tế, nhất là cách xử lý lạm phát thì đã tư vấn cho Phó Thủ tướng có tư duy và giải pháp khác. Điều đơn giản trước mắt, họ phải tính toán một cách định lượng, sòng phẳng 2 phương án giữa tạm thời “đắp chiếu” so với cứ tiếp tục triển khai thì thiệt hại cụ thể ra sao. Trong giới chức sắc có thông tin ông Tạ Quyết Thắng Tổng giám đốc Công ty TNHH Sơn Trường viết công văn, gửi tài liệu đi khắp nơi phản đối dự án cảng Lạch Huyện nhưng mặt khác lại xin làm thầu phụ khi dự án được triển khai!?. Mới nghe tưởng thật nhưng tìm hiểu kỹ thì ra đây là thông tin nhiễu, “đòn chơi” của người trong cuộc đối với doanh nghiệp tư nhân dám chúi mũi vào việc làm ăn của người khác!

Được biết Bộ Giao thông Vận tải có công văn số 1417/BGTVT-KHĐT ngày 22/02/2013 báo cáo về dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (Lạch Huyện) - Giai đoạn khởi động gửi Chủ tịch nước, và công văn số 900/BGTVT-KHĐT gửi các đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan có liên quan giải thích các kiến nghị của Công ty Sơn Trường có nêu: "...Trong khi tiếp tục phản bác phương án xây dựng 02 bến khởi động của dự án phía trong bờ do Bộ GTVT phê duyệt và gửi kiến nghị tới Quốc hội, Chính phủ, các Đoàn đại biểu Quốc hội, ngày 13/11/2012 Công ty TNHH Sơn Trường có văn bản số 13-11/CV-ST gửi Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đề nghị cho Công ty tham gia góp vốn 25% trong Hợp phần B của dự án theo đúng phương án đã được Bộ GTVT phê duyệt tại quyết định số 476/QĐ-BGTVT ngày 15/3/2011 với tổng kinh phí không cao hơn 2.500 tỷ đồng...", về việc này cần phải làm rõ như sau:

Những ý kiến của Sơn Trường trong suốt thời gian dài chỉ tập trung phản bác QĐ 476/QĐ-BGTVT về Hợp phần A của dự án Lạch Huyện (19.200 tỷ đồng vốn ODA do nhà nước đầu tư). Công ty TNHH Sơn Trường kiến nghị về qui mô và địa điểm đặt 2 bến khởi động theo phương hướng tránh nạo vét và lợi dụng lợi thế địa lý, thuỷ văn của Lạch Huyện cũng như xác định vai trò của cảng Lạch Huyện nếu không là cảng trung chuyển thì chỉ cần cho tàu 30.000 DWT vào thì có hiệu quả nhất. Nếu là tàu 30.000 DWT thì không phải nạo vét nhiều và không cần đê chắn sóng, chắn cát, mức kinh phí sẽ giảm từ 19.200 tỷ đồng xuống 2 nghìn tỷ đồng (Hợp phần A). Công ty TNHH Sơn Trường kiến nghị Nhà nước không nên bỏ vốn đầu tư mà khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư để nhanh chóng có một hệ thống cảng hiện đại.

Còn Hợp phần B, tại quyết định số 476/QĐ-BGTVT với dự toán là 6.572 tỷ đồng (chưa tính giá có thể bị trượt từ 10 - 30%) tại văn bản số 13-11/CV-ST Công ty Sơn Trường cam kết chỉ cần 2.500 tỷ đồng là đã hoàn tất 750 m cầu cảng theo đúng quy mô thiết kế của Bộ GTVT trong vòng 30 tháng nếu có phát sinh Công ty TNHH Sơn Trường xin bỏ vốn chịu trách nhiệm.

Trong khi Nhà nước đang rất khó khăn về mặt tài chính mà đề xuất của Công ty TNHH Sơn Trường làm giảm chi phí từ 6.572 tỷ đồng xuống còn 2.500 tỷ đồng, vậy tại sao Bộ GTVT không đối thoại với Công ty TNHH Sơn Trường về vấn đề này mà lại đưa ra những ý kiến không đúng bản chất của sự việc, gây tổn hại đến danh dự và tâm huyết của Công ty TNHH Sơn Trường?. Cũng cần phải nói thêm rằng, trong suốt thời gian dài, hàng chục văn bản tâm huyết Công ty TNHH Sơn Trường gửi tới Bộ GTVT, các cơ quan chức năng, Chính phủ và Quốc hội, Bộ GTVT gần như im lặng và bấu víu vào một lý do duy nhất không thể có được là "Hồ sơ chưa được lập bởi cơ quan tư vấn chuyên ngành, chưa tuân thủ thủ tục, quy trình, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng" vì Công ty TNHH Sơn Trường làm sao có thể thoả mãn được các yêu cầu đó.

Ngoài ra, trong công văn 1417/BGTVT-KHĐT báo cáo Chủ tịch nước có nói tới 02 công văn số 878/BGTVT-KHĐT của Bộ GTVT gửi Tổng hội Xây dựng Việt Nam và số 879/BGTVT-KHĐT của Bộ GTVT gửi Công ty TNHH Sơn Trường, nhưng thực tế cả Công ty TNHH Sơn Trường và Tổng hội Xây dựng Việt Nam đều không hề nhận được?

Bộ GTVT còn viện lý do dự án được khởi động vì đã được Hội đồng thẩm định đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Nhà nước thông qua. Là thành viên trong Hội đồng nói trên, trong các bài viết trước đây, tôi đã chỉ rõ các bất cập chưa hề được chủ đầu tư và Tư vấn giải đáp nhưng dưới sức ép của lãnh đạo để có bằng được phê duyệt ĐTM trong thời gian kỷ lục!

Đang ngồi bên máy tính, nhận được tin nhắn của người bạn, xin mượn lời thay cho kết luận của bài viết tản mạn này : Não “vô tội” trong các quyết định ngu xuẩn của con người!

TVT

Nguon: http://bongbvt.blogspot.com/2013/05/tan-man-thang-5-o-lua.html



05/23/2013 10:27 PM


linhtran
Re :   Bảo Giang _ Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim

Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim

Bảo Giang

Sau khi đọc bài “ Tôi không chống cộng” của trí thức ( lời tự nhận của tg) Nguyễn hưng Quốc, đăng trên mạng danchimviet.info. Tôi buộc tôi phải viết lên đôi điều, những điều mà chính cuộc đời của tôi, một người dân thường, cũng như những ngưòi Việt Nam lương thiện yêu nước đã luôn ấp ủ ở trong lòng và thể hiện trong cuộc sống của họ. Như thế, tôi không chỉ viết cho riêng tôi, cho gia đình tôi hay cho bằng hữu của tôi. Nhưng nếu được, tôi xin được nói lên một tiếng nói ngay thẳng, thay cho đồng bào Việt Nam, thay cho những ai không có hoàn cảnh, không có cơ hội để bày tỏ, nói lên cái tâm nguyện của đời mình là: Tôi muốn loại trừ chủ thuyết và chế độc CS ra khỏi đất nước Việt Nam. BG.

Trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam, chữ “chống” là một động từ, luôn cần phải có một trợ từ đi kèm để làm cho rõ nghĩa của chữ chống. Thí dụ như:

- Chống đỡ: Chống cho cái cột đứng thẳng lên, cho cái cây nghiêng khỏi bị đổ ập xuống…

- Chống bão: Phương cách làm giảm thiểu thiệt hại do cơn bão gây ra.

- Chống Tàu: Là không cho chúng tràn sang, áp đặt, khống chế dân ta, hoặc duổi xâm lăng ra khỏi nước.

- Chống cộng: Là những hoạt động nhằm loại trừ CS ra khỏi đời sống của xã hội. Là chôn nó đi.

Như thế, chống cộng là một ý niệm tự nhiên của tư tưởng, biến thành một thái độ tích cực, được thể hiện rộng rãi bằng những ngôn từ, chữ viết hay hành động của những người lương thiện yêu nước, nhằm một mục đích duy nhất là loại trừ, khai tử lý thuyết cũng như chế độ này ra khỏi mọi sinh hoạt trong cộng đồng nhân loại. Tại sao lại như thế? Bởi vì cộng sản với lý thuyết Tam Vô, được đảng cộng sản đem vào thực hiện trong guồng máy chính trị bằng thủ thuật gian dối và bạo lực, đã áp đặt rồi xâm phạm, trấn áp, chi phối mọi sinh hoạt thường nhật của từng cá nhân, của từng gia đình. Tệ hơn thế, nó còn chủ trương vô đạo hóa tất cả các sinh hoạt từ văn hóa, nghệ thuật đến chính trị và tôn giáo trong xã hội. Nó bức bách, thúc đẩy con người rơi vào cuộc khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng niềm tin, tạo ra tội ác và gian dối. Từ đó, việc chống cộng sản trở thành một chủ trương, một sách lược chung, không phải của riêng cá nhân hay một quốc gia nào, nhưng của mọi người với mục đích rõ ràng và dứt khoát. Cũng từ đó, việc chống cộng trở thành một bổn phận, một trách nhiệm thiêng liêng của mọi người và nó không hề có quy định cho một thời hạn nào. Bao lâu sự gian trá bất lương là tàn tích của lý thuyết hay chế cộng sản còn sót lại, bấy lâu công cuộc chống cộng sản vẫn chưa hết nhiệm vụ.

dep bo cncs

Theo tinh thần này, ngừơi dân từ những nước không bị cộng sản chiếm đóng như Mỹ, Anh , Pháp, Tây Đức, Ý, Úc, …. họ đều biểu lộ tinh thần chống và loại trừ cộng sản ra khỏi mọi sinh hoạt trong xã hội của họ một cách tích cực. Hơn thế, họ còn hỗ trợ các quốc gia bị cộng sản chiếm đóng loại trừ chúng ra khỏi những nơi đó, và góp sức bảo vệ những phần đất còn lại trên thế giới chưa bén mùi cộng sản. Họ như thế, chẳng lẽ, người dân trong các nước bị cộng sản chiếm đóng, bị chúng làm cho thoái hóa đời sống nhân bản lại không hề chông cộng sản ư? (trường hợp những thành phần bị phong cùi tâm hồn, bị bệnh thần kinh thể lý hay bị khuyết tật như mù lòa, câm, điếc… thì không kể đến trong câu hỏi này).

Nếu có ai đó vẽ vời, bảo rằng không hề chống cộng sản, tệ hơn, lập luận chống là “có hại”, tôi tin rằng họ, một là không có hiểu biết gì về bản chất của cộng sản, nhưng thích khoa trương ngôn ngữ với lý luận diêm dúa, hở hang. Hai, đó không phải là ý thức, ý chí của người dân lương thiện ở trong những nước đã bị cộng sản chiếm đóng. Bởi lẽ, tất cả mọi người dân ở dưới chế độ ấy, như ở Việt Nam hiện nay, đều muốn nói lên một điều đơn giản, rõ ràng, thay vì diễn từ bằng những lý luận vòng quanh là: Họ không chỉ chống, mà là căm thù và muốn loại trừ chế độ CS này ra khỏi cuộc sống của họ tức khắc. Theo họ, việc có những tư tưởng bảo cộng sản đã chết rồi, hoặc gỉa, chống cái thừa thãi, cái không còn, phải được hiểu là những hoang tưởng bệnh hoạn, bạc nhược, đầy ích kỷ, thiếu trách nhiệm và thiếu lý trí nhân bản. Nó có thể ứng hợp với cái nhãn hiệu thích rêu rao sáo ngữ phường tuồng ở thời thượng cổ chưa được khai hóa, hơn là thực tại. Bởi vì, không ai có thể dửng dưng, đứng nhìn con quái thú hung bạo đang cắn xé cha mẹ, anh em hay đồng bào của mình.

Ở đây, xin gạt bỏ ra bên ngoài cuộc bàn cãi, hay ngụy luận ru ngủ, ươn hèn bảo rằng chủ thuyết cộng sản đã chết, đã sụp đổ từ năm 1991 theo sự tan hàng của Liên Bang Sô Viết và Đông Ấu, nên “chống cộng là chống cái thừa thài, chống cái không còn và có hại” (NHQ)! Và cũng gạt bỏ ra bên ngoài tất cả những nhận định về cộng sản đến từ mọi phía, như chủ nhân của hệ thống cộng sản Mikhail Gorbachev và lời chứng: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.” Hay với chủ tịch nhà nước Nga rồi trở thành TT Nga, Borris Yelsin, người giơ chân đạp đổ cường quyền Liên Sô bằng tiếng thét để đời “Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.Hoặc ôn hoà, bình thản như nữ thủ tướng Đức, Angela Merkel:”Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”. Hoặc là, Nghị quyết 1481 ngày 25-01-2006 của Hội Đồng Nghị Viện Âu châu đã công bố; Điều 9: ”Các chế độ độc tài toàn trị còn lại trên thế giới vẫn tiếp tục gây tội ác. Không thể dùng quan điểm quyền lợi quốc gia để biện hộ, lấp liếm sự lên án của cộng đồng nhân loại với các tội ác của các chế độ toàn trị này. Quốc hội chung châu Âu cực lực lên án tất cả mọi vi phạm quyền con người trong các chế độ cộng sản, coi nó như là tội ác chống nhân loại…“. để làm dẫn chứng cho bài viết “Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim” của tôi. Trái lại:

Tôi viết từ nguồn của những sự kiện có thật, đã và còn đang xảy ra trên đất nước Việt Nam, nơi bị chủ nghĩa cộng sản chiếm đóng và đảng cộng sản quốc tế (đã thu hẹp lại) thống trị. (Tôi gọi là thu hẹp lại vì nó gồm Trung cộng, Việt cộng, bắc Triều Tiên, Cuba… vẫn chiếm khoảng 2/5 dân số thế giới. Như thế mà bảo nó chết rồi ư?). Nghĩa là, tôi viết bằng chính những sự kiện hiện hữu hôm nay, còn đang ở trước mắt mọi ngưòi đây. Những sự kiện mà mọi ngưòi có thể trông thấy, chứng thực được. Từ đó, tôi xác định cho chính việc làm của mình là: Tôi chống cộng bằng dòng máu chảy về tim của dân tộc. Tôi chống cộng vì sự sống tuơng lai của đất nước. Tôi không chống cộng cho tôi. Tôi chống cộng vì:

1.Vì Tổ Quốc Việt Nam.

Tổ Quốc hay giang san Việt Nam là một giải đất liền lạc, kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, và bao gồm cả vùng biển đảo ngoài khơi như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc… là một quốc gia Độc Lập, Tự Chủ. Không thể bị bảo hộ, bị đặt dưới ách thống trị hay bị chia cắt, tách rời ra bởi bất cứ một thế lực thực dân hay là chủ nghĩa Tàu hay Tây ngoại lai nào hết. Phần đất ấy vĩnh viễn thuộc chủ quyền của người dân Việt Nam. Đó là điều khẳng định về đất nước tôi. Nhưng:

Vào ngày 03-02- 1930, Hồ chí Minh đã lập tổ cộng sản quốc tế ở trên phần đất Việt Nam. Tổ cộng sản này hoàn toàn lệ thuộc vào hệ thống cộng sản quốc tế và đặt dưói quyền điều khiển trực tiếp của Trung cộng và Liên sô. Ngày 2-9-1945, Hồ chí Minh, (có nhiều nguồn tin gầm đây cho rằng y là Hồ tập Chương, người Tàu gốc Hẹ đóng vai, hơn là Nguyễn tất Thành gốc ở làng Kim Liên, Nam Đàn) và tập đoàn cộng sản đã cướp được chính quyền tại Việt Nam và thành lập nhà nước cộng sản trên một nửa của đất nước này. Ngoài mặt, HCM và tập doàn cộng sản không ngừng rên rao việc Hưng Quốc, kiến quốc, no cơm ấm áo cho đồng bào. Nhưng thực chất là đã làm bại hoại quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế, và phá nát đời sống hiền hòa, an vui của người dân trong quốc nội. Bằng chứng ư?

Vào năm 1951 dưới sự lãnh đạo của HCM, và với tư cách TBT đảng cộng sản VN, rồi nhân danh “ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII”, Trường Chinh, Đặng xuân Khu chính thức gởi văn thư cho đồng bào Việt Nam với chủ đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc” trong đó nêu rõ hai điểm làm ô nhục, bại hoại, sỉ nhục cho quốc thể Việt Nam. Thứ nhất, kêu gọi ngưòi việt Nam không dùng chữ quốc ngữ, trở lại học chữ Tàu. Thứ hai, kêu gọi mọi người từ bỏ khoa học văn minh, nhưng dùng thuốc tễ của Tàu, vì nó là thầy của mình. Chinh viết “Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng” Hỏi xem, Việt nam đã có độc lập từ bao ngàn năm trước, mà Chinh dám viết “là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc”, ý nói, VN vẫn làm chư hầu cho Trung quốc thì nay không có lý do gì tách rời ra. Trái lại, vẫn xin để được tiếp tục làm chư hầu. Xin nhớ rõ một điều. Dẫu nước ta có bị Tàu đô hộ nhiều trăm năm, nhưng chúng ta không bao giờ chịu làm chư hầu cho họ. Tiền nhân ta luôn chống lại ách đô hộ và tìm cách tống khứ quân xâm lược ra khỏi nước. Nhưng nay thì Việt Minh Cộng sản lại đi xin cho Việt Nam làm chư hầu cho Trung cộng. Như thế là Hưng Quốc hay làm bại hoại Quốc Gia?

Rồi chính HCM, cũng tự nguyện xin làm nô lệ cho ngoại bang khi y viết thư xin sự chuẩn nhận của Stalin để giết đồng bào Việt Nam vào ngày 31-10-1952 . Hồ viết: “Đồng chí Stalin kính mến, Tôi gởi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của đảng Lao Động Việt Nam (tên của đảng cộng sản lúc bấy giờ). Đề án này tôi đã hoàn thành với sự giúp đỡ của hai đồng chí Liu Shaoshi và Van szia-Sian. Đề nghị đồng chí tìm hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này”.Khi viết đề án và thư này với hai ngưòi Tàu trợ giúp, Hồ có coi tập thể người Việt Nam là đồng bào với Y hay Y có nghĩ gì về Tổ Quốc Việt Nam hay không? Rồi cũng dưới sự chỉ đạo của HCM, Phạm văn Đồng đã viết công hàm vào ngày 15-8-1958, công nhận chủ quyền biển đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là của Trung Cộng. Việc làm này còn di họa cho đến bao giờ đây? Thêm vào đó là những hiệp thương biên giới 1999 và 2000 ( đều xảy ra sau năm 1991) để Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm và hơn phân nưả vịnh Bắc bộ nay là đất trong bản đồ của Tàu. Ấy là chưa kể đến những khế ước, phải được coi là những nhượng địa cho Tàu nằm trong nội địa Việt Nam, mà người ta không thể xác định được diện tích thật của những nhượng địa này là bao nhiêu, dưới dạng cho thuê rừng đầu nguồn và khai thác Bauxite!

Với những chứng cứ rõ ràng ấy, tôi khẳng định rằng, viêc chống cộng sản của tôi, cũng như của đồng bào VN yêu nước là dòng máu chảy về tim của Tổ Quốc.

2.Vì đồng bào Việt Nam

Với tôi, nhóm chữ “đồng bào Việt Nam” luôn mang một ý nghĩa đặc biệt, nếu như không muốn nói là nó có cả tính linh thiêng trong lòng dân tộc Việt. Bởi, nó luôn nhắc nhở cho người dân Việt biết và nhớ về cội nguồn cùng một bọc mà sinh ra. Như thế, một phần của nơi này bị xúc phạm, bị đau đớn, bị chia cắt, bị hành hạ thì tất cả những phần còn lại cũng đau đớn và xót xa lây như chính mình bị hành hạ, bị xúc phạm, bị chia cắt. Vì mọi người đều cảm nghiệm một nỗi đau chung trong thân thể Việt Nam của mình.

Ai cũng biết, Việt Nam trải qua một lịch sử dài, đầy dẫy những tai ương. Tai ương bị thống trị bởi ngoại bang, bị chà đạp dưới gót giày của bọn thực dân, bành trướng. Nhưng ngay dười thời bị đô hộ bởi giặc Tàu, giặc Tây, đồng bào Việt Nam chưa bao giờ bị một tổ chức chính quyền, hay thái thú nào tàn xát một cách độc ác, dã man, ghê rợn và có hệ thống cho bằng dưói thời cộng sản của HCM.

Cho đến nay, không ai có thể kiểm chứng được con số xác thực về số nhân mạng bị Việt Minh cộng sản giết hại trước va sau ngày chúng cướp được chính quyền. Chỉ riêng trong mùa đấu tố, đồng bào Việt Nam đã quằn qoại trong đau thương với hơn 170,000 người Việt Nam bị giết, hàng trăm ngàn gia đình bị ly tán. Trước nỗi đau đớn ngàn đời không thể quên ấy, Hồ chí Minh hồ hởi tuyên bố cuộc giết hại đồng bào ấy là một chiến thắng “long trời lở đất”! Xin nhớ, từ “long trời lở đất” hầu như chỉ đưọc dùng và ám chỉ đến cuộc chiến thắng vĩ đại của vua Quang Trung trong việc đại phá quân thanh vào mùa xuân Ất Dậu. Cuộc chiến thắng đã làm tan hồn bạt vía quân xâm lược đến nỗi tướng soái chỉ huy của chúng đã phải thắt cổ mà chết! Nhưng nay, Hồ chí Minh lại nghênh ngang tuyên bố, việc giết hại hơn 172000 ngưòi Việt Nam và cưóp toàn bộ tài sản của dân, của nước vào tay đảng cộng sản, là một chiến thắng “ long trời lở đất”! Như thế là ý gì? Có phải Hồ chí Minh đã báo thù cho Tàu (quân nhà Thanh) khi Y tuyên bố như thế hay không? Hay còn vì một lý do nào khác? Ấy là chưa kể đến việc chúng gây ra chiến tranh, làm chết thêm biết bao nhiêu sinh mạng của dân tộc, và cũng không kể đến cuộc tàn xát tắm máu người dân Huế khi chúng tạm chiếm được thành phố trong 33 ngày dịp tết Mậu Thân 1968 và đẩy hàng triệu người phải ra đi biệt xứ sau 30-4-1975.

Ai huyênh hoang trí thức, hoặc gỉa, người gia áo túi cơm nào tuyên bố không hề chống cộng, hay chống cộng là có hại. Có vui mừng, có vỗ tay reo vì cái chiến thắng “ long trời lở đất” của Hồ chí Minh trong mùa đấu tố hay không? Phần tôi, và tôi tin rằng tất cả đồng bào Việt Nam dứt khoát là không. Trái lại, sẽ mãi mãi lên án những kẻ điên cuồng đã giết hại đồng bào của mình. Nhiều người lên án Hitler là một tên đồ tể của nhân loại. Tuy thế, y cũng không ngu ngốc để giết hại đồng bào của mình. Nhưng chỉ có cộng sản, từ Stalin, Lênin, Mao rồi đến Hồ… thì vui mừng trên những xác của người dân và tạo nên những tội ác kinh thiên trong lịch sử. Rõ ràng, CS không chỉ phạm tộc ác đối với nhân loại mà còn với dân tộc của mình nữa. Theo đó, việc nhân dân Nga treo cổ Lenin, Stalin lên ( theo hình từ cái xe cần trục) không có gì là lạ. Chuyện ấy chắc chắn phải đến tại Việt Nam. CS phải bị loại trừ vĩnh viễn ra khỏi cuộc sinh hoạt của đồng bào tôi.

3.Vì nền luân ly, đạo đức của xã hội Việt Nam bị CS xúc phạm.

Ai cũng biết tinh thần Trung, Hiếu, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí,Tín trong nền văn hóa và luân thường đạo lý của Việt Nam đã là cột sống nuôi dân ta qua và trưởng thành từ mấy ngàn năm nay. Nhưng bi thảm thay, từ sau ngày 3-2-1930 đến nay, CS không ngừng gieo rắc vào trong lòng dân chúng Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ đến sau, một thứ luân lý và đạo đức, được gọi là đạo đức HCM. Lúc đầu, người người ngơ ngác nhìn, hỏi nhau, đạo đức HCM là thứ đạo đức gì nhỉ? Câu trả lời là: Ai mà biết nó là cái giống gì. Cho đến một ngày, khi tiếng trống mở hội đấu tố bùng lên với chiến thắng “long trời lở đất”, ngưòi ngưòi mới vỡ lẽ ra, hoảng hốt bảo nhau. A, có rồi đây, bà con ơi, “đạo đức HCM” đây này, ra mà xem. Tên nó là:

a.Vô đạo, bất nhân:

Sách lược đấu tố tàn bạo của cộng sản VN vào mùa 1953-56 không chỉ cưóp đi mạng sống của hơn 172000 đồng bào ruột thịt của Việt Nam. Nhưng nó còn mục đích tiêu hủy nền đạo lý của Việt Nam. Nó đã giết chết sự sống nhân bản của dân tộc bằng phương thức rình rập, đấu tố lẫn nhau bằng gian dối, để từ đó lòng người không còn chữ Nhân, xã hội không còn chữ đạo lý.

b. Bất trung, bội tín.

HCM luôn dùng chiêu bài dân tộc để lừa dối đồng bào Việt Nam, nhưng bản chất của nó là bất trung với tổ quốc qua những hiệp định, công hàm bán nưóc và bội tín, bội nghĩa với đồng bào qua việc giết chết rất nhiều người đã hy sinh xương máu bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ. Rồi phủ dập lên những người dân yêu nước, bảo vệ Công Lý, Nhân Quyên bằng những bản án lộng quyền, áp đặt như trong trường hợp của LM Nguyễn văn Lý, Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Duy Thức, Công Định, Điếu Cày, Minh Hạnh, Phong Tần, Nguyên Khang và mới dây là hai em học sinh, Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.

c. Đại bất nhân, tận bất nghĩa.

Ngoài xã hội, Hồ chí Minh đã bất nhân vô đạo với đồng bào trong cái chết của hàng trăm ngàn người, trong đó có cái chết “khổ nạn” mang tình trả ơn của cộng sản đối với bà Nguyễn thị Năm. Trong nhà thì HCM đã tán tận bất nghĩa trong cái chết của Nông thị Xuân, một thiếu nữ trẻ, mới 16 tuổi, được coi là vợ không cưới và đã đẻ con với Hồ! Hồ đã để cho Hoàn hiếp rồi giết Nông thị Xuân. Sau đó, quăng xác Xuân ra đường giả làm một tai nan xe cộ là hết chuyện. Không một tra xét. Qủa là khó kiếm được người thứ hai trên thế giới có trình độ bất nghĩa như thế!

d.Đại bất hiếu.

Việc trong nhà HCM nêu gương bằng cách suốt một đời không thắp cho cha mẹ đẻ một nén nhang, nói chi đến việc cúng bái theo đạo hiếu làm con. Với xã hội thì HCM cổ võ và khủng bố ngưòi dân học tập và thực hiện chữ “hiếu” bằng một từ đấu tố, “để đến nỗi một người phụ nữ đứng tuổi hỏi bố: “ông có biết tôi là ai không” người cha già ngậm ngùi nhìn đứa con dứt ruột của mình đẻ ra và nói “ thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ” (chứng từ của một Giám Mục trang 383).

e.Vô lễ.

Đứng chống nạnh, vuốt râu, tôi tôi, bác bác với các bậc tiền nhân anh hùng của tổ quốc Việt Nam. Tồi tệ hơn thế, Y còn gian manh viết sách bằng cái tên giả tạo để tự nâng mình lên làm “ cha gìa” dân tộc và tự xưng bác với mọi ngưòi.

Với thứ luân lý, đạo đức tàn độc này được truyền rao và áp đặt vào xã hội Việt Nam, người ta không lạ gì để thấy, ngày nay dưới thời của cộng sản, những tội đại ác như con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau, hàng xóm làng giềng cho nhau một con dao mã tấu đến lút cán mà có khi gía trị của tranh chấp chỉ là một câu nói, một cái nhìn, hay bằng gía tiền của một con gà hay con vịt… được dịp trổ hoa theo gương của HCM. Và chuyện hàng năm có đến vài trăm ngàn trẻ thơ chưa mỡ mắt chào đời đã được nạo, hút, phá, bị giết chết từ trong bụng mẹ cũng không có gì là lạ. Thử hỏi xem, cái thứ đạo đức này có nên tồn tại hay không?

4. Vì niềm tin tôn giáo và bảo vệ sự sống con người.

Với tôi, tín ngưỡng là Niềm Tin trong tôn giáo. Tôn Giáo là một kho tàng của Niềm Tin và Hy Vọng hiện hữu giữa đời sống thực tại và đời sống Siêu Nhiên hay Thần Linh. Nơi đó, về phần vật chất, có những phương thức giúp con ngưòi thực hành để vượt thoát cái bản chất thấp hèn đầy thú tính, nhằm tiến tới và hoà nhập vào một chuỗi hay nền luân lý đạo đức tôn giáo, trong đó triết lý bảo vệ quyền sinh và quyèn sống của con người rất được đề cao, ngõ hầu đem lại cho con người một cuộc sống yên vui trong gia đình, thái hòa, bớt tranh chấp, không gây tội ác, nghiệp chướng với đồng loại. Như bên Công Giáo thì có mười điều răn, bên Phật Giáo thì có ngũ giới… Phần linh thiêng thì có những lễ nghi để thể hiện sự liên hệ mật thiết, tích cực giữa đời sống con ngưòi với đời sống của thần linh hay siêu nhiên. Những lễ nghi này nhằm nâng cao phẩm hạnh, đạo đức, gía trị trong đời sống con người, hơn là sự ràng buộc thể lý với nghi lể, để tạo ra hình thức bó buộc. Như thế, điểm tựa của Tôn Giáo là Thần Linh, là Cao Cả tuyệt đối. Và đời sống của tôn giáo là Niềm Tin và Hy Vọng nhằm bảo vệ sự sống và đưa con ngưòi đến đời sống hoàn thiện để gặp gỡ Thần Linh.

Như thế, có thể nói rằng, đời sống của Tôn Giáo giữ vai trò cột sống của nhân loại. Tôn giáo luôn là những phương linh hữu hiệu làm đổi mới đời sống. Đổi từ những phương cách giáo hoá căn bản để con người có thể thoát ra khỏi cái tầm thường gỉa dối, vượt qua cuộc sống hoang dã đầy thù tính, để vươn lên, bước vào cấp sống nhân bản trong an bình tiến bộ. Đến những bước đi tâm linh, cao thượng để con người có khả năng ra đi tha thứ và bao dung, đem an vui cho mọi người.

Trong khi ấy, HCM với bạo lực khủng bố, lại đem vào và áp đặt lên trên đời sống người dân Việt chủ thuyết Vô Gia Đình, vô Tôn Giáo và vô Tổ Quốc của CS, ngõ hầu đạp đổ nền tảng đạo lý trong gia đình (cái chết của Nông thị Xuân, giết mẹ, từ con là một chứng minh?), đến việc đập phá Đền, Miếu, Đình, Chùa, Nhà Thờ với chủ đích triệt hạ niềm tin lành thánh của các tôn giáo, để tự khơi nguồn ra một thứ “tôn giáo” mới, đặt cược niềm tin vào vật chất và cuộc đấu tranh bạo lực trong gian dối, để khuyến dụ thú tính hoang dã của con người nổi loạn, rồi bước vào cuộc tranh dành, chiếm đoạt quyền lợi cũng như những nguồn lực sản xuất của xã hội. Sau cùng, đẩy người dân vào hệ thống kiểm sóat của thời nô lệ, buộc họ phục vụ cho một giai cấp thống trị vô đạo. Ở đó, quyền sinh, quyền sống của con người không được bảo vệ và tôn trọng nhưng thuộc về tay đảng cộng.

Đã làm ra những việc bạo ngược như thế, CS còn phỉ báng Tôn Giáo bằng cách đưa cái đầu lâu của HCM vào trong nhiều Đền, Miếu, Đình, Chủa. Đây là một phương cách bá đạo của cộng sản nhắm chiếm vị trí độc tôn cả ngoài đời lẫn trong đạo. Nên nhớ, HCM không phải là một tín đồ của tôn giáo, Y không phải là kẻ tu hành đắc đạo. Trái lại là một tội đồ của nhân loại. Như thế, pháp trường, máy chém là nơi dành cho Y chứ không phải là Đền, Miếu, Đình, Chùa hay nhà thờ. Điều này rất dễ hiểu. Y tôn thờ Mác Lê. Khi chết, muốn về với Mác Lê. Lenin, Stalin đã bị lên án là đồ tể của nhân loại và các xe cần trục đã phải làm việc vất vả với các cái đầu của họ trên các công trường của Liên Sô cũ. Lẽ nào HCM lại có thể đuợc xã hội Việt Nam cung nghinh?

Nếu cho rằng Y là một nhân vật lịch sử, có công trạng với đất nước ư? Nếu đúng, hãy làm cho Y một cái chòi, một cái nhà cầu hay một cái tượng đài riêng biệt, để cho ai muốn đến chiêm ngắm, trút bầu tâm sự thì đến. Tuyệt đối không được phép đưa Y vào Miếu, Đền, Đình, Chùa hay Nhà Thớ là nơi trang nghiêm, nơi thờ phượng của các tôn giáo. Nơi ấy không dành cho những người như thế.

5.Tôi chống cộng vì lòng biết ơn.

Với Tổ Quốc là sự trân trọng biết ơn công lao của các bậc tiền nhân đã dựng nước và giữ nước. Biết ơn các bậc anh hùng dân tộc đã hy sinh vì đất nước để có một Việt Nam Độc Lập từ ngàn xưa, dù phải đối diện với bao nguy biến vẫn còn truyền đến hôm nay. Là biết ơn Tổ Quốc vì tôi có cái may mắn được sinh ra và mang trên người dòng máu Việt Nam. Là xin đa tạ một giang sơn gấm vóc đã cưu mang, cho tôi hơi thở và nuôi tôi lớn lên làm người Việt Nam.

Với Đồng Bào là ân nghĩa xâu sắc. Là sự tri ân một nền văn hóa, đạo lý nhân bản cao thượng Nhân Lễ Nghĩa Tín Trung, là cội nguồn của giống nòi, đã dạy cho tôi về lòng yêu nước, và đùm bọc lấy nhau trong nghĩa đồng bào. Cách riêng, là lòng biết ơn chiến sỹ đồng bào đã đổ màu xương để bảo vệ sự Độc Lập và Tự Do của dân tộc. Là lòng tri ơn những người đã nằm xuống trong chốn lao tù cộng sản vì màu cờ sắc áo của quê hương. Là lòng biết ơn những người trẻ hôm nay vẫn miệt mài tranh đấu cho một Việt Nam Nhân Bản trong Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Công Lý và Nhân Quyền mai sau.

Với Tôn Giáo và gia đình: Là xin đa tạ những Cao Cả, Linh Thiêng, Lành Thánh trong tôn giáo. Là nơi tựa vững chắc đã cho tôi Niềm Tin, Hy Vọng, là Sức Sống và Sự Sáng chứa chan hồng phúc để tôi bước đi tìm Nguồn Sống cho cuộc sống. Là nơi đã cưu mang dưỡng dục tôi. Đã cho tôi một lương tâm ngay thẳng, trong sáng giữa muôn trùng gian trá và cám dỗ. Đã chỉ cho tôi cách sống trong tinh thần yêu thương, mở rộng lòng bác ái và bao dung, tha thứ. Đã dạy cho tôi biết phân biệt thiện ác. Biết làm điều lành và tránh xa những gian dối, là cội rễ đem đến cho xã hội, không phải chỉ nơi tôi sống, nhưng là mọi nơi được bình an, hạnh phúc không thù oán.

Bằng những lý do ấy, tôi không chống cộng như một lớp thời trang diêm dúa. Tôi không chống cộng theo kiểu ngôn ngữ trí thức hở hang. Tôi không chống cộng bằng một qúa khứ đau thương có nhiều thù hận.

Tôi chống cộng bằng máu chảy về tim của dân tộc. Tôi chống cộng bằng sức sống hào hùng của tiền nhân. Tôi chống cộng vì sự sống tương lai của đất nước. Tôi không chống cộng cho tôi. Bởi lẽ, một cá nhân, dù là trí thức hay dân thường cũng chỉ là cái vỏ trấu bọc bên ngoài hạt gạo (hạt gạo ở đây cũng có thể được coi là tập thể dân tộc). Khi nó tự, hay bị tách rời ra khỏi hạt gạo có mầm sinh, là sức sống, thành lương thực nuôi sống con người, cái vỏ trấu ấy tuyệt đối vô dụng. Có lẽ chẳng ai muốn trở thành cái vỏ trấu vô dụng trong hướng đi của dân tộc mình? Theo đó, việc chống cộng cũng sẽ không có ngoại lệ cho ai. Hơn thế, nó cũng chưa thể chấm dứt khi chúng ta đã đào thải, loại trừ được cái chế độ và cơ cấu của nó ra khỏi đất nước. Trái lại, sẽ còn phải tiếp tục cho đến khi nào loại bỏ đưọc hoàn toàn những tàn tích của CS ra khỏi mọi sinh hoạt từ văn hóa đến đời sống thường nhật của xã hội thì nhiệm vụ ấy mới khả dĩ gọi là chất dứt. Bởi lẽ:

- Hướng đi của Dân Tộc Việt Nam là vĩnh viễn xây dựng một đất nước Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, trong hòa bình, thịnh trị và phú cường. Không chủ trương bạo động với các dân tộc khác.

- Sức Sống của dân tộc Việt Nam là một nền văn hóa bao dung và nhân bản, đặt nền tảng trên Trung, Hiếu, Nhân Lể Nghĩa Trí Tín. Để từ đó đồng bào Việt Nam được sống viên mãn trong một nền Công Lý, Thịnh Trị. Nhân Ái, Bao Dung. Để quyền sinh, quyền sống và nhân phẩm của con ngưòi được bình đẳng và tôn trọng. Để từ đó, mọi dòng máu lại cùng chảy về tim của Dân Tộc.

© Bảo Giang

Nguon: © Đàn Chim Việt



05/23/2013 11:54 AM


linhtran
Chủ Đề :   Chúng ta đang... ăn thịt đất nước mình! _ Ngô Minh

Chúng ta đang... ăn thịt đất nước mình!

Ngô Minh - blog Ngô Minh

Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy: ”Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao? Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi: Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao, Singapore, Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản, sao người ta giàu thế. Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à?

Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được gồm: trời, đất, núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường. Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn. Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở!

20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu… Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành.

Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm năm, chúng muốn biến mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi!

Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng… Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng. Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy?

Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bắc hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ, bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ? Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí vói tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư,… đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bị chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của “dân cày có ruộng” thành ký ức lịch sử.

Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách, các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ. Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay. Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống.

Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bô-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom (Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên, bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác Các nhà chiến lược quân sự thường nói: ”Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ!

Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới, bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được. Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiếng thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon?

Bộ Chính Trị và Chính phủ là người chịu trách nhiệm chính trong việc khai thác tài nguyên vô tội vạ . Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai. Chúng tôi đề nghị:

- Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ. Quy hoạch chi tiết ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

- Phải dừng ngay các dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không cần bô-xít, cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng, vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

- Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên (như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác), khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor, Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm vận mệnh đất nước trong tay?

Nguon: danluan.org



05/23/2013 11:48 AM


linhtran
Chủ Đề :   Dân vận là thế này ư? _ Bùi Tín

Dân vận là thế này ư?

Bùi Tín

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương đảng CS khóa XI đã bế mạc. Thông báo kết quả vẫn theo công thức rất cũ: nhất trí cao, với tinh thần dân chủ, ý thức trách nhiệm, phát huy trí tuệ và đạt kết quả tốt đẹp.

Trong diễn văn khai mạc cũng như diễn văn bế mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc rất nhiều đến chữ nhân dân, chỉ rõ mối quan hệ then chốt, sinh tử ấy đang có nhiều vấn đề gay gắt kéo dài, từ chênh lệch giàu nghèo mở rộng, bất công lan tràn, nông dân nổi giận, bộ máy nặng nề quan liêu ‘ hành dân’ , nạn tham nhũng dai dẳng bất trị, nạn thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định, tội phạm và tiêu cực hoành hành.

Tuy chữ «dân» được nhắc đi nhắc mấy chục lần trong diễn văn, nghị quyết, nêu bật các khẩu hiệu dân vận, như: phải «thật sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân», «việc gì có lợi cho dân thì cố gắng làm thật tốt, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh», nhưng không thấy đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để có thể lấy lại niềm tin đã mất của người dân.

Ngược lại, trong khi họp cũng như ngay trước và sau cuộc họp, các cuộc đàn áp thô bạo và xử án người dân yêu nước họp dã ngoại để cùng nhau trao đổi ý kiến về nhân quyền, rồi việc kết án một cách ngang ngược 2 sinh viên yêu nước chống bành trướng Đinh Nguyên Kha 8 năm và Nguyễn Phương Uyên 6 năm tù giam là những hành động khiêu khích công luận, khiêu khích toàn xã hội, khiêu khích thế giới dân chủ. Phải chăng đó là những hành động tiêu biểu cho chính sách dân vận mới? Như vậy chỉ làm cho mối quan hệ giữa đảng CS và người dân đã rất xấu càng tồi tệ thêm.

Việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng báo trước rằng Ban dự thảo Hiến pháp tiếp thu có chọn lọc 26 triệu ý kiến của cử tri, để rồi một mực giữ hầu như nguyên bản dự thảo đã bị hàng vạn trí thức tiêu biểu phủ định với lý lẽ vững chắc, cũng là một biểu hiện của chính sách «trọng dân, gần dân, hiểu dân, tin dân» đó ư ?

Rõ ràng Bộ Chính trị, dù là gồm 14 hay 16 người, vẫn một mực giữ thái độ xa dân, khinh dân, đi ngược lòng dân, chống lại dân. Khi dân kiên quyết chống bành trướng, kiên quyết đòi quyền tự do, đòi xây dựng Hiến pháp và pháp luật tiến bộ, đòi chống tham nhũng thật sự, thì Bộ Chính trị một mực kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị cả thế giới đào thải, kiên định chế độ một đảng cực kỳ lạc hậu, phản tiến hóa, kiên định thái độ hèn với giặc, ác với dân. Ông Nguyễn Thiện Nhân vừa vào Bộ Chính trị đã phải sang ngay Bắc Kinh trình diện trấn an thiên triều, xóa bỏ ngay cái nhãn hiệu được đào tạo ở Mỹ, có ý thức cởi mở với phương Tây, giữ khoảng cách với bành trướng.

Xin hỏi tất cả các trí thức chuyên gia có trình độ và tâm huyết với ngành giáo dục về cống hiến của ông Nhân khi làm bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem ông đã cống hiến được gì, đã có chút thành tựu dù nhỏ ra sao đối với nền giáo dục cũ kỹ, chạy theo thành tích, chạy theo thi cử, sùng bái bằng cấp, hủ lậu, hình thức. Suốt thời kỳ làm bộ trưởng, ông một mực duy trì nền giáo dục không có thực chất, không thực học, thực chứng, xa thực tế. Ông là một bộ trưởng bất lực nhất, kém chuyên môn nhất, thất bại hiển nhiên trong ngành chuyên môn của mình, chỉ giỏi vâng dạ đối với cấp trên, lại được lên phó thủ tướng và nay được đội vương miện của một ông vua trong Bộ Chính trị. Văn bằng từ Đại học Harvard của ông không mảy may có giá trị thực chứng.

Còn bà Nguyễn Thị Kim Ngân ư? Xin hỏi giới chuyên gia kinh tế -tài chính-ngân hàng trong nước thì rõ. Bà Ngân có «công» từ khi làm giám đốc sở tài chính tỉnh Bến Tre, được ra Trung ương làm thứ trưởng Bộ Tài chánh, dính sâu với «Kim và Ngân», tiền nong và vàng bạc, rồi làm thứ trưởng Bộ Thương mại, cũng dính sâu vào tiền nong và hàng hóa, xuất nhập cảng. Sau đó bà Ngân làm bộ trưởng Bộ Lao động – Xã hội, thành tích, nếu có, nổi rõ nhất là thả lỏng để hàng vạn lao động Trung Quốc tràn vào Việt Nam suốt từ 6 tỉnh biên giới phía Bắc xuống Hải Phòng, vào Thanh Hóa, tràn lên Tây Nguyên, xuống tận Sóc Trăng, Cà Mau, với những thị trấn Tàu, hàng hiệu Tàu, chợ Tàu, khu gia cư của người Tàu. Bà cũng chịu trách nhiệm chính về nạn xuất khẩu lao động cực kỳ tai tiếng, bất nhân, kiểu buôn người, đem con bỏ chợ, cũng như nạn thất nghiệp tăng nhanh. Đó là những «thành tích nổi bật nhất» phục vụ đảng, để bà lên chức phó chủ tịch Quốc hội, nay được vào Bộ Chính trị.

Chế độ này thưởng công rất hậu cho những ai từng giữ các chức vụ cao trong ngành tài chính - ngân hàng. Các quan lớn CS ở VN phạm tội biển thủ công quỹ cho đảng và cho mình như thế, từng lộng hành trong ngành tài chính – ngân hàng, có thể điểm danh hàng loạt là: ông Nguyễn Sinh Hùng từng tiến thân từ vụ trưởng Vụ Ngân sách, rồi thứ trưởng Tài chính, rồi bộ trưởng Tài chính, rồi phó thủ tướng đặc trách kinh tế - tài chính - ngân hàng, để lên đến đỉnh cao là chủ tịch Quốc hội; ông Vũ Văn Ninh cũng từ thứ thưởng Tài chính rồi lên làm bộ trưởng Tài chính, nay là phó thủ tướng chuyên trách kinh tế - tài chính - ngân hàng; ông Vương Đình Huệ là bộ trưởng tài chính; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng là thống đốc Ngân hàng Nhà nước; các thống đốc ngân hàng nhà nước khác như Lê Đức Thúy, Nguyễn Văn Giàu (hiện là phó chủ tịch Quốc hội), Nguyễn Văn Bình; và còn có Đại tá Công an Lương Ngọc Anh bị nước Úc chỉ mặt từng dính dáng đến vụ nhận hối lộ 10 triệu đôla trong vụ Securency.

Đây là kiểu biển thủ đặc biệt, đại quy mô, từ ngân sách quốc gia do thu thuế, từ 2 nguồn viện trợ và đầu tư ngoại tệ lớn là ODA (Official Development Assistance) và FDI (Foreign Direct Investment) - mỗi năm hàng vài chục tỷ đôla - do các quan chức tài chính ngân hàng thu nhận và phân phối, Bộ Chính trị âm thầm phê duyệt, sau lưng chính phủ, sau lưng Quốc hội, được Ban Kiểm tra Trung ương Đảng nhắm mắt làm lơ với sự đồng lõa của viên chức đảng đóng vai Tổng kiểm toán nhà nước.

Tội biển thủ khổng lồ vô vàn tiền, đôla, vàng… của các quan chức đảng được thơ văn của các blog tự do gọi là «chặt đẹp, cắt, xẻo, thiến, múc» tài sản công, thực tế là cưỡng chiếm mồ hôi nước mắt của dân lao động và trí thức nước ta. Đã có vô kể triệu phú đôla mới trong hàng ngũ quan chức CS thời đổi mới và hội nhập, đàn sâu tệ hại nhất bòn rút tận xương tủy của toàn dân ta.

Đã có nhóm dân chủ yêu nước nào lập danh sách các tội phạm bán nước và biển thủ cỡ đầu sỏ để xử lý theo lòng dân trong thời kỳ hậu Cộng sản sẽ tới, như ở Đông Âu hơn 20 năm trước chưa? Để thêm kinh nghiệm, họ có thể tham khảo vụ án Tổng Bí thư Erich Honecker của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa Đông Đức bị tòa án Cộng hòa Liên bang Đức xét xử về tội biển thủ công quỹ sau ngày nước này thống nhất với Cộng Hòa Dân chủ Đức. Việc lập một danh sách như vậy, ngay từ bây giờ, là việc rất nên làm.

Công tác «dân vận» của đảng hiện nay là thế, nghĩa là làm ngược lại với phương châm trong nghị quyết dân vận là «kiên quyết làm mọi điều dân muốn, không làm bất cứ điều gì dân không muốn», thành ra là «kiên quyết làm mọi điều dân không muốn - nhưng ta muốn vì có lợi cho địa vị, bản thân và gia đình của ta», như hèn với giặc, buông lỏng chống tham nhũng, và kiên quyết không làm điều dân muốn là chống bành trướng và quét thẳng tay bầy sâu tham nhũng lớn, minh bạch hóa nền tài chính quốc gia.

Nhân dân luôn đánh giá đảng từ việc làm, không từ phương châm trên giấy. Làm «dân vận» như lãnh đạo đảng đang làm - bổ sung vào cơ quan lãnh đạo 2 nhân vật «có công» như trên, sửa đổi Hiến pháp theo kiểu «hiếp dân», dự định thay tên nước kiểu cưỡng bách để trở về với cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có danh mà không có thực chất, lại mang nhiều tiếng xấu, đàn áp độc ác các thanh niên yêu nước chống bành trướng được toàn dân yêu mến - thì chỉ tổ làm cho toàn dân, từ lao động, nông dân đến trí thức dân tộc, nhà kinh doanh vừa và nhỏ, và cả đông đảo đảng viên CS ở cơ sở… thêm căm giận, phẫn nộ.

"Dân vận" như thế chỉ là tự diệt.

Bùi Tín

Nguon: http://www.x-cafevn.org/node/4868



05/23/2013 11:44 AM


linhtran
Chủ Đề :   Ngô Nhân Dụng _ Ðổi luật chơi trong đảng

Ðổi luật chơi trong đảng

Ngô Nhân Dụng - Diễn Đàn Thế Kỷ

Các nhà quan sát thời sự đều đồng ý rằng Nguyễn Phú Trọng đã bị Nguyễn Tấn Dũng đánh bại thảm thương trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng sản vừa qua, họ gọi là “Trung Ương Bẩy,” viết là TW7. Nhưng đằng sau “hiện tượng” đó, có những vấn đề sâu xa hơn, cho thấy trên sân banh chính trị đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay luật chơi đang thay đổi; ngay các cầu thủ cũng không biết họ đang theo “luật chơi” nào.

Nguyễn Tấn Dũng biết sử dụng một thứ luật chơi mới cho nên làm bàn liên tiếp, còn Nguyễn Phú Trọng thì vẫn quen đá theo lối cũ cho nên luôn luôn bị việt vị. Hiện tượng này không phải mới bắt đầu thấy trong TW7 mà đã diễn ra từ năm ngoái. Trong trận đá Hội nghị TW6, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đồng loạt tấn công với khí thế rất phấn khởi, mà sau cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn không bị lung lay.


Ðối với quý vị không quen theo dõi thời sự, cần phải giải thích thêm vài lời. Hiện nay đảng Cộng sản đang cai trị nước Việt Nam. Có 175 người được gọi là Ban Chấp hành Trung ương Ðảng nắm quyền chọn người vào các chức vụ trong đảng và trong chính phủ. Họ bầu ra một nhóm 14 người gọi là Bộ Chính Trị, trong hội nghị TW7 đầu Tháng Năm 2013 mới bầu thêm hai người nữa thành 16. Ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư, một chức vụ xưa nay vẫn được coi là đứng đầu đảng. Nhưng hai ứng viên ông đề nghị vào Bộ Chính Trị, Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ đều bị rớt; hai người mới được vô, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân đều thuộc phe Nguyễn Tấn Dũng. Thấy rõ bên nào thắng, bên nào thua.

Ông Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị cho các ứng viên của mình trong nhiều bước. Thứ nhất là tái lập hai ban chuyên môn của Trung Ương Ðảng đã bị xóa bỏ từ năm 2007, là Ban Kinh Tế và Ban Nội Chính. Sau đó, cử hai người “phe ta” đứng đầu các ban này, tin tưởng rằng đến kỳ họp TW7 hai người đó sẽ được bầu vào Bộ Chính Trị; vì các trưởng ban khác đều được ngồi trong đó cả. Chuẩn bị kỹ như thế mà lại thua, cho nên thất bại của ông Nguyễn Phú Trọng kỳ này càng đau đớn hơn.

Trong lịch sử các đảng Cộng sản, thường thì người làm tổng bí thư nắm toàn quyền cài đặt người vào Bộ Chính Trị, trong ngôn ngữ của họ gọi là “cơ cấu.” Nhà báo Huy Ðức mới kể chuyện hồi Ðỗ Mười là tổng bí thư, ông lần lượt gọi hai người thuộc Bộ Chính Trị tới, nói với mỗi ông rằng: “Kỳ này tôi nghỉ, anh thấy sao?” Ông thứ nhất thật thà hỏi: “Thế ai sẽ thay anh?” Ông thứ hai thì đập tay xuống bàn kêu lên: “Trời ơi, đất nước đang như thế này làm sao anh nghỉ được?” Kết quả, ông thứ nhất bị mất chức, không được Ðỗ Mười cơ cấu cho nữa, còn ông thứ nhì giữ nguyên được ghế ủy viên Bộ Chính Trị.

Thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, cho tới Ðỗ Mười chức tổng bí thư trong đảng Cộng sản tương đương với ngôi hoàng đế trong thời quân chủ chuyên chế. Không đoán được ý tổng bí thư là mất chức, có khi còn mất mạng. Ngày nay luật chơi đã thay đổi.

Cái gì đã làm thay đổi luật chơi?

Tiền!

Nói một cách văn hoa, cái làm thay đổi luật chơi trong đảng Cộng sản là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Trong khẩu hiệu này, phần thứ nhất “kinh tế thị trường” sinh ra tiền. Cho dân được phép làm ăn tự do hơn, nhờ thế đô la từ nước ngoài đổ vào nhiều hơn, trước mắt thấy nhiều cơ hội làm tiền hơn. Phần thứ hai “Xã hội Chủ nghĩa” tức là vẫn nắm chặt quyền hành tập trung vào trong tay đảng. Nắm quyền thì khai thác được lòng sợ hãi, dùng đồng tiền thì kích thích lòng tham.

Ngày xưa, thứ năng lượng chính yếu đẩy cho cả guồng máy đảng vận hành là lòng sợ hãi, giống như dùng than đá hay xăng; còn lòng tham đóng vai phụ trợ, giống như dầu nhớt giúp máy chạy êm hơn. Ngày xưa, trên bảo dưới phải nghe, vì chức tổng bí thư nắm được đảng thì nắm quyền điều động cả bộ máy cưỡng chế; ra lệnh cho quân đội, công an, và các tổ chức mật vụ. Ngày nay, các khẩu hiệu và chiêu bài đó phai nhạt dần dần, thần thánh đã hết thiêng. Lòng sợ hãi không còn là năng lượng chính yếu nữa, lòng tham lên ngôi thay thế.

Sau khi Chủ nghĩa Xã hội lại có thêm Kinh tế Thị trường thì hai yếu tố quyền và tiền quyện lại với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một cơ chế vận hành mới điều động cả guồng máy đảng. Quyền chức không, chưa đủ. Người ta cần thứ quyền nào tạo ra được đồng tiền. Hậu quả là, đối với tất cả xã hội bên ngoài thì kẻ nào nắm quyền sẽ có cơ hội kiếm được nhiều tiền. Còn ở bên trong đảng thì chức vụ nào có khả năng chia chác cơ hội kiếm tiền cho người khác thì sẽ được bên dưới kính sợ; đến khi bỏ phiếu, sẽ được người ta theo lời “hướng dẫn.”

Trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, Ðại hội thứ chín, năm 2001 bắt đầu giai đoạn đồng tiền lên ngôi. Ðại hội này chọn một nhân vật lu mờ, không khả năng mà cũng không có cá tính; Nông Ðức Mạnh được bầu lại làm tổng bí thư Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Chọn một người như vậy cho lên làm “hoàng đế” cho thấy khuynh hướng giảm bớt sức nặng và vai trò của quyền. Nhưng đại hội đó cũng “xác định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, vân vân.” Nói đến “phát triển lực lượng sản xuất” tức là mục tiêu kiếm tiền đã được đề cao.

Nông Ðức Mạnh ngồi yên trên cái ghế tổng bí thư suốt 10 năm là giai đoạn “quá độ,” quyền đang giảm giá, tiền dần dần lên ngôi. Kể từ đại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản thì vai trò của đồng tiền nổi bật lên.

Người thấy được sự thay đổi sớm nhất là ông Nguyễn Tấn Dũng. Có lẽ nhờ kinh nghiệm làm ăn với nhiều thứ nghề nghiệp và chức vụ khi còn sống ở miền Nam, Nguyễn Tấn Dũng đã dần dần nhận ra thứ quy luật mới đang thành hình trong cuộc chơi giành quyền hành trong đảng. Nguyễn Tấn Dũng đã nằm trong guồng máy công an, lại từng nắm quyền điều khiển cả Ngân Hàng Trung Ương, cho nên hiểu được cuộc vận hành của cả đồng tiền lẫn bạo lực.

Từ khi làm thủ tướng năm 2006, ông ta đã vận dụng các quy luật mới để củng cố địa vị. Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.

Nguyễn Phú Trọng không nhìn ra là trên sân banh luật chơi đã thay đổi. Cho nên ra sân hai lần đều thất bại. Năm ngoái, tính lật Nguyễn Tấn Dũng mà không lật được. Năm nay, hai đàn em đều không vào được Bộ Chính Trị. Người Hà Nội vẫn nói Lú như Trọng, nhưng chắc không ai ngờ ông ta lú đến như vậy. Khi đọc diễn văn kết thúc hội nghị Trung Ương 7, ông Nguyễn Phú Trọng phải giới thiệu Bộ Chính Trị có thêm hai ủy viên mới, mà không thèm nhắc đến tên người nào cả. Thái độ đó chỉ cho mọi người thấy là ông quá “cay cú.” Mà cay cú như vậy thì ông sẽ phải tìm cách phản công. Phương pháp phản công duy nhất là thay đổi lại luật chơi. Còn nhiều thứ luật chơi khác có thể thay đổi tình thế. Người Việt mình vẫn nói "Nó lú nhưng chú nó khôn". Nếu ông Nguyễn Phú Trọng không nghĩ ra kế nào thì “các chú” của ông chắc chắn khôn hơn thế nào cũng nghĩ ra!

Nguoàn: danluan.org



05/22/2013 11:21 PM


linhtran
Chủ Đề :   Đất nước ổn định? _ Người Buôn Gió

Đất nước ổn định?

Người Buôn Gió - blog Người Buôn Gió

Ở các nước tư bản có trộm cắp, có biểu tình phản đối chính sách chính quyền, có giết người... như ở Việt Nam. Ở Đức này xe đạp mà không khóa cũng bay luôn không biết khi nào. Túi xách để trong ô tô coi chừng cửa kính xe bị đập vì cái túi. Đa số bọn ăn cắp là dân lang thang kiểu di gan, những người ăn bảo trợ xã hội, không muốn đi làm chỉ rượu bia lướt khướt rồi ra đường ăn xin hay đi trộm cắp. Một số dân châu Á (nước nào thôi chả nói rõ, cứ nói chung chung cho lành) sang châu Âu cũng làm những việc chẳng khác gì dân di gan. Nhưng ít ra dân châu Á còn chịu khó làm hơn dân di gan, có điều họ làm ẩu hoặc làm tắt cho đỡ mất công sức, bỏ qua những quy định về an toàn này nọ. Mấy cái việc đó cũng gây ra lắm chuyện ảnh hưởng đến an ninh trật tự đời sống.

Chả bao giờ thấy chính quyền phương Tây, các chính khách phương Tây đăng đàn ba hoa tự ca ngợi là chính trị ở nước họ ổn định, an ninh trật tự ổn định cả. Chắc vì họ thấy đất nước họ còn nhiều điều chưa được vẹn toàn cho lắm, bởi chuyện mất cắp, biểu tình, giết người, làm hàng giả, ăn xin... vẫn còn xảy ra.

Nhưng ở phương Tây điểm xem nước nào mà một năm phải đưa ra tòa xử hàng chục người vì tội chống chính quyền, âm mưu lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống phá chính quyền như ở Việt Nam?

Phải chăng bọn cảnh sát, an ninh phương Tây vì không khám phá ra nhiều vụ chống chính quyền như ở Việt Nam, nên bọn lãnh đạo phương Tây nó không dám công nhận là nước nó ổn định chính trị. Chừng nào an ninh phương Tây phải bắt bọn chống chế độ nhiều như ở Việt Nam, chừng ấy bọn Tây mới dám vỗ ngực là nước nó ổn định chính trị và cho đó là công lao, là niềm tự hào.

Thôi! cái bọn tư bản thối nát không bàn làm gì, chúng cũng đã biết nhục mà không dám nhận mình là đất nước ổn định chính trị, cũng bỏ qua cho chúng. Người Việt nói chuyện Việt vậy.

Nhìn xem những vụ xử chống chính quyền ở Việt Nam là những ai? Hòa thượng, Linh mục, Tu sĩ, nhà văn, nhà thơ,nhà báo,nhạc sĩ, giáo sư, kỹ sư,tiến sĩ, nhà giáo, sinh viên, nông dân, doanh nhân, công nhân, người già, thanh niên, phụ nữ... cựu chiến binh thậm chí là cả quan chức nhà nước. Đủ mặt mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013, trong vòng chưa đầy nửa năm, các bản án cho người chống phá, tuyên truyền chế độ ở Việt Nam lên đến 100 năm tù. Kỷ lục nhất trên thế giới này về số người chống chính quyền và số năm tù phạt người vì tội chống chính quyền chưa? Nước nào trên thế giới này sánh được điều đó, trừ người anh em hữu nghị Trung Quốc. Còn nếu tính theo tỷ lệ dân số thì người anh Trung Quốc có khi còn nghiêng mình bái phục đàn em Việt Nam về những án tù cho người bị kêu tội danh "chống phá chính quyền".

Vậy thử hỏi sự ổn định chính trị ở Việt Nam là do "tuyệt đại đa số dân chúng tin tưởng vào giai cấp lãnh đạo" hay là "tuyệt đại đa số những ai không tin vào giai cấp lãnh đạo mà bày tỏ sự bất tin tưởng này đều bị trừng phạt bằng những án tù rất nặng".

Xem trong nhiều phản hồi trên báo chí Việt Nam về vụ xử hai sinh viên Uyên, Kha vừa rồi. Mới thấy sự hăng say bảo ổn định chế độ, bằng củng cố niềm tin hay là bằng bạo lực, bằng trừng phạt? Thậm chí một kẻ tư xưng là sinh viên năm thứ ba đã kêu gào như thế này trên báo Người Lao Động.

Nguyễn Hoàng Nguyên Huy

1

17/05/2013 01:35

Là một sinh viên năm thứ 3 mà cái nhận thức về quá kém. Mà cái nhận thức đó còn thua các cháu thiếu nhi nữa. Và cũng tiết thương công sức cha mẹ cho ăn học mười mấy năm trời mà cái nhận thức càng kém đi. Tôi cũng xin đề nghị Bộ Công an cần kiến nghị nhà nước ta tăng mức hình phạt đối với tội tuyên truyền chống phá Nhà nước thật cao để răn đe và làm gương cho những người khác. Hình mức phạt này còn quá thấp chưa răng đe người khác được.

Tinh thần của cậu sinh viên này là điều quan trọng mà báo chí cần nhấn mạnh. Đó là kêu gào xử tù nặng hơn nữa với những sinh viên cùng trang lứa với cậu ta vì tội nói xấu Đảng, nói xấu Trung Quốc. Nhưng qua phản hồi của cậu sinh viên này được báo đăng, cho chúng ta thấy một điều là những biện pháp khắc nghiệt, dã man luôn luôn được ưu ái dùng đến trong cái gọi là bảo vệ ổn định chính trị. Đến một cậu sinh viên cũng khát khao đòi hỏi tăng án tù cho bạn mình, một xã hội quá nhân bản!!!

Không thấy phản hồi nào nói đến chuyện ổn định chế độ bằng củng cố niềm tin, bàn bạc đi đến đồng thuận... chỉ có những kêu gào đầy hứng chí và hả hê là xử nặng hơn nữa, trừng phạt tàn bạo hơn nữa để kẻ khác sợ không dám màng đến chuyện bày tỏ bất đồng với chính quyền.

Đất nước chưa đầy nửa năm có đến 20 người thanh niên ra tòa vì tội chống phá chế độ, chính quyền thản nhiên cho 100 năm tù kết án họ. Đất nước có những sinh viên năm thứ ba kêu gào một cách phấn khích như tìm thấy niềm hưng phấn khi đòi kết án tù người sinh viên thật nặng hơn. Chỉ vì những sinh viên ấy bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa bằng những tờ giấy.

Chả nói đến kinh tế suy thoái, doanh nghiệp vỡ nợ, giải thể, các dự án lớn thua lỗ.

Chỉ nhìn thế thôi, đã hiểu sự ổn định trên đất nước này có hay không? Nếu có thì chúng được xây bằng gì?

Nguồn: danluan.org



05/22/2013 9:58 AM


linhtran
Chủ Đề :   Global Witness Và Nước Mắt Môi Trường _ Alan Phan

Global Witness Và Nước Mắt Môi Trường

T/S Alan Phan - Theo blog Góc Nhìn Alan

Con người phải hiểu rằng chúng ta không thể sống nếu không có Mẹ Trái Đất, nhưng hành tinh này vẫn có thể sống mà không cần chúng ta. Evo Morales

Kinh tế phá rừng

Dù đau xót khi chứng kiến sự tàn phá vô cảm của con người với rừng (lá phổi của trái đất), tôi vẫn chưa nghĩ ra sự thiệt hại về kinh tế cho đến khi đọc bài blog của B/S Hồ Hải vè giá trị của lâm sản. Theo B/S Hải, mỗi m3 của gỗ trắc tốt Việt Nam có giá khoảng 36,000 USD trong khi loại gỗ rẻ nhất cũng thu về hơn 15,000 USD mỗi m3. Một vòng qua google về giá cả của các cây rừng nguyên sinh xác nhận khung giá này.

Năm 1993, tổng số gỗ trong các khu rừng Việt là 1,025 triệu m3 (khoảng 76 m3/mẫu-hectare trên 14 triệu mẫu diện tích). Vài nghiên cứu khác chỉ ghi nhận đến 728 triệu m3. Giai đoạn 1993 đến 2009, cả nước mất khoảng 7,650 mẫu mỗi năm hay 122,400 mẫu trong 16 năm tương đương với 9.3 triệu m3 gỗ. Nếu tính giá bèo là 15,000USD mỗi m3 gỗ bán ra, các lâm tặc và đồng lõa đã bỏ túi 139 tỷ USD. Đây là một mất mát lớn gấp 30 lần Vinashin, bằng 115% GDP của Viêt Nam trong 2012 và gấp 3 lần số nợ xấu của các ngân hàng theo báo cáo hiện nay. Số tiền này có thể xây 7 triệu nhà xã hội (20,000 USD mỗi căn) để tặng không cho các hộ nghèo; hay trả tiền ăn học cho 25 triệu trẻ em miền sâu miền xa trong 12 năm học (trung bình 500 USD/năm/em).

Dĩ nhiên, tôi và đến 99% dân số không có thẩm quyền gì về pháp luật nên những phân tích…chỉ là những phân tích. Tuy nhiên, sự im lặng tuyệt đối của xã hội với một vấn nạn kinh tế tầm cỡ này là một điều khó nuốt cho mỗi bữa ăn.

Global Witness

Nhìn lại hoạt động của Global Witness (GW) trong 20 năm vừa qua, chúng ta nhận thấy là GW đã trung thực đi đúng với tôn chỉ và mục tiêu của tổ chức. Một là giúp cho những hộ nghèo ở vùng có tài nguyên không bị các thế lực tư bản hay quan chức “móc túi” cho nghèo thêm; hai là bảo vệ môi trường “sống” cho toàn cư dân của trái đất. Họ đã thành công ngăn chận “kỹ nghệ kim cương máu” ở Phi Châu cũng như những tàn phá rừng và khai thác gỗ ở Campuchia thời Khmer Đỏ, ở Indonesia, ở Liberia, ở Myanmar…

Phương thức hoạt động của họ không nhắm vào quan chức hay công ty địa phương, mà vào các nhà tư bản Tây phương đang đổ tiền tài trợ cho các dự án này Trong phi vụ kim cương máu”, mục tiêu chính là tập đoàn kim cương lớn nhất thế giới, DeBeers. Khi bị áp lực của dư luận người tiêu dùng không muốn vấy bẩn vào “kim cương máu”, DeBeers ngưng thu mua và thị trường teo tóp ngay qua đêm. Mục tiêu khi tấn công vào việc phá rừng khai thác lâm sản của các quốc gia đã nêu tên là vào các nhà tài trợ dự án và các công ty mua bán gỗ.

GW làm việc hoàn toàn dựa trên nguyên lý tư bản,” Khi dòng tiền ngưng chảy vào một lãnh vực kinh doanh, các dự án sẽ tự hủy diệt theo thời gian”. Người Tàu hay nói, “con cá nó sống vì nước”.

Vì được tài trợ một phần bởi các chánh phủ Anh, Mỹ, Âu…GW không bao giờ đụng trực tiếp đến các tầng lớp chánh phủ hay quan chức, vì đây là phạm trù của Bộ Ngoại Giao của các chánh phủ tài trợ cho họ. GW biết nên không bao giờ lấn sân qua các hoạt động chánh trị hay đánh đấm với các công ty địa phương.

Cho nên khá khôi hài khi các công ty Việt Nam có tên trong bản cáo buộc của GW lên tiếng phản bác, phủ nhận hay mời GW dến thăm quan cơ sở. Cũng như khi các chánh phủ Việt, Miên, Lào…vội kết tội “phản động” cho GW với chiếc mũ “thế lực thù địch”. Cả trăm tờ báo lề phải được huy động hay trả tiền để bới móc, lăng mạ GW hay nhà sáng lập George Soros. Các ngài đã phản ứng quá nhanh, quá nhậy và tốn tiền cũng như thời giờ vô ích. Tất cả các mạng truyền thông thế giới không chút quan tâm đến các phản bác của các ngài và chỉ đợi phản ứng chính thức từ các nhà tư bản tài trợ như Deutsche Bank, IFC, Temasek Holdings, BIDV hay quỹ Jaccar…

Tư bản có trách nhiệm

GW là một công cụ của thế giới tư bản để chống lại những lạm dụng quá đà của quyền lực. Những nhà tư bản thường cho là mình “bất bại” và trong mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho công ty, các nhà quản lý đôi khi vượt qua ranh giới của lương tâm để đạt “chiến thắng”. Những hoạt động vô vụ lợi của GW là tiếng còi báo động sớm cho các công ty đa quốc, các ngân hang, quỹ đầu tư thế giới cũng như các mạng truyền thông chính thống khác.

GW (và các nhóm vô vụ lợi khác của toàn cầu) cộng với tự do ngôn luận là những rào cản hữu hiệu để nền kinh tế tư bản có được một chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm với xã hội chung quanh. Vì lòng tham con người là vô hạn nên chúng ta cần những công cụ như GW, dựa trên những lý tưởng đáng ca ngợi của tuổi trẻ còn biết cảm xúc với những nỗi đau của con người và thiên nhiên. Đó mới thực sự là cốt lõi của văn hóa và văn minh nhân loại.

Lại chuyện mất hay được?

Một câu hỏi khác của một nhà báo cũng làm tôi phải suy nghĩ. Là người Việt, ông phải ủng hộ doanh nhân Việt chống lại bọn “ngoại xâm”. Ông nghĩ thế nào về hậu quả kinh tế cho ngành cao su Việt Nam khi đối diện với cáo buộc của GW?

Thú thật, tôi yêu quê hương nhưng không có một lòng ái quốc cuồng tín. Tôi tự hào với thành quả tốt đẹp mà các sinh viên, các khoa học gia, các doanh nhân Việt đã gặt hái trên khắp thế giới. Nhưng tôi cũng xấu hổ khi đọc về những tội phạm ma túy, xã hội đen Việt…trên các mạng truyền thông toàn cầu. Tôi xấu hổ khi phần lớn đối tác, bạn bè, sinh viên ngoại…vẫn nghĩ đến Việt Nam như là một banana republic (cộng hòa quả chuối).

Về hệ quả kinh tế, chúng ta sẽ thâu nhặt những gì chúng ta đã gây trồng. Nếu các nhóm môi trường và các định chế truyền thông khác tham gia để tăng cường độ của lời cáo buộc, tôi nghĩ là nhiều cổ đông hay quỹ đầu tư sẽ rút ra khỏi các dự án cao su của Đông Dương để tránh tai tiếng. Ngoài sự thiếu hụt cho dòng tiền luân chuyển, các công ty có thể còn bị sức ép về giá cả nếu các nhà tiêu dùng lớn tìm nguồn cung cấp khác ngoài Đông Dương. Đây là rủi ro lớn nhất về lâu dài.

Tuy nhiên, sau khi bỏ túi ngon lành 139 tỷ đô la trong 16 năm qua, các đại gia Việt có thể mất vài tỷ đô la? Chỉ là muối bỏ biển. Các chân dài kiếm nhiều hơn thế từ các đại gia trong 6 năm qua.

Alan Phan

Nguoàn: danluan.org



05/22/2013 9:32 AM


linhtran
Chủ Đề :   HÌNH ẢNH SINH HOAT CỦA GĐ ATBĐ BẮC CALI CHO ĐẠI HỘI KỲ 7

"Cuong Nguyen" ncuongdieu@yahoo.com

HÌNH ẢNH SINH HOAT CỦA GĐ ATBĐ BẮC CALI CHO ĐẠI HỘI KỲ 7




















































05/21/2013 2:03 AM


linhtran
Chủ Đề :   Thăm Bạn ÁI CHỦ - OREGON

"thanhdaihan" thanhdaihan@aitubinhdien.net

Thăm Bạn ÁI CHỦ - OREGON

Gia đỉnh 2 vợ chồng Ái Chủ và 2 con trai, con dâu va cháu nội.








Quang cảnh nhìn từ balcony nhà Ái Chủ...




05/21/2013 12:50 AM


linhtran
Chủ Đề :   Chúc Mừng Ái Nữ ATBĐ Phan Van Thanh [Thanh Đại Hàn]

"phanthuc" phanthuc@yahoo.com

Chúc Mừng Ái Nữ ATBĐ Phan Van Thanh

Con gái đầu của bạn Thanh Phan ra trường "Doctor of Pharmacy".





05/21/2013 12:28 AM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn Hưng Quốc _ Bản án dành cho chế độ

Bản án dành cho chế độ

Nguyễn Hưng Quốc

Phiên toà xét xử Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại Long An ngày 16 tháng 5 kết thúc vào lúc 4 giờ chiều với bản án: Kha bị 8 năm tù và Phương Uyên bị 6 năm tù; ra tù, cả hai đều bị quản chế thêm ba năm nữa. Lúc ấy, ở Úc là bảy giờ tối. Từ đó đến sáng hôm sau, Thứ Sáu 17/5, tôi nhận được cả mấy trăm bức email từ khắp nơi. Có người gửi riêng cho tôi; có người gửi chung trong các mailing list gồm nhiều người. Tất cả đều nói về một chuyện: Phương Uyên. Chỉ có một số ít trình bày dài dòng cảm nghĩ của họ; còn lại, đại đa số, chỉ chuyển các thông tin về phiên tòa mà tôi đã được đọc trên các tờ báo mạng kèm theo vài lời bình ngăn ngắn đầy phẫn nộ.

Số lượng email ấy nói lên điều gì? Chỉ một điều đáng kể nhất: Sự quan tâm và bức xúc của mọi người.

Sau đó, vào các trang báo mạng của các blogger độc lập trong nước cũng như các website ngoài nước, hầu như ở đâu tôi cũng thấy các bài viết về phiên tòa và bản án ấy. Nhiều bài cung cấp những thông tin rất chi tiết, như “Tường thuật phiên tòa 2 sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại Long An” của Dân Làm Báo hay bài “Những chuyện bên trong và chưa nói về phiên tòa xử sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha” của Hải Huỳnh. Đó là chưa kể các bản tin trên nhiều cơ quan thông tấn ở ngoại quốc, trong đó, có BBC và VOA.

Tôi chú ý nhất đến bài “Tiếng nói Uyên, Kha trước tòa, lời cảnh tỉnh cuối cùng cho đảng CSVN” của nhà thơ Hoàng Hưng. Chú ý vì nó sáng suốt, và đặc biệt, mạnh mẽ. Ông cho việc kết án nặng nề đối với Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên là một việc làm “phi pháp, phi nghĩa, phản dân phản nước và cũng thật ngu xuẩn”. Ông cũng xem “phiên tòa xét xử Kha, Uyên là một dấu mốc lịch sử trên con đường đấu tranh dân chủ của Việt Nam”. Dấu mốc ấy thể hiện ở mấy điểm chính: Thứ nhất, cả hai đều rất trẻ. Thứ hai, cả hai đều dũng cảm, bất chấp những sự đe dọa hay mua chuộc của công an, dõng dạc khẳng định “Tôi không có tội” hoặc “chỉ có một tội là yêu nước”. Thứ ba, cả hai không những có những nhận định chính trị sâu sắc mà còn có “phong thái đàng hoàng, đĩnh đạc, hiên ngang” khi đứng trước tòa.

Dường như, liên quan đến phiên tòa, điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất cho mọi người chính là cái phong thái ấy. Khi đăng lại bài phỏng vấn “Việt Nam tuyên án nặng 2 sinh viên chống Trung Quốc” của Trà Mi trên blog Quê Choa của mình, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã sửa lại nhan đề, nhằm làm nổi bật phong thái bất khuất của hai thanh niên yêu nước này: “Suốt phiên tòa, Uyên & Kha đều ngẩng cao đầu”. Đạo diễn Song Chi cũng chú ý và nêu bật phong thái ấy trong bài “Ngẩng cao đầu, tiếp bước nhau vào nhà tù nhỏ”. Nhà báo Ngô Nhân Dụng, trên Người Việt, xem phong thái ấy là tiêu biểu cho cả một thế hệ mới ở Việt Nam: “Một thế hệ không cúi đầu”.

Báo Diễn Đàn tại Pháp chỉ đăng bức ảnh của Phương Uyên kèm theo câu nói của em trước tòa “Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn” dưới một nhan đề đầy ý nghĩa “Dáng đứng Phương Uyên”. Nhà báo Trương Duy Nhất, ở trong nước, cho hình ảnh của Nguyễn Phương Uyên đứng trước tòa là “tuyệt đẹp”. Nhà văn Nguyễn Quang Lập, khi nhắc đến Phương Uyên, đã dùng chữ “sự bình thản trong suốt” và “tuyệt vời”. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo làm bài thơ lục bát ca ngợi Phương Uyên, xem em như một đóa hoa, một đóa hoa bị bỏ tù.

Theo tôi, vài năm hay nhiều năm nữa, có lẽ người ta sẽ quên các chi tiết liên quan đến phiên tòa và các bản án. Nhưng người ta sẽ nhớ mãi cái hình ảnh, như nhà văn Trần Trung Đạo mô tả: “Cô bé đứng trên bục cao, đôi kính cận có gọng dày, tóc vén cao, áo trắng học trò, thân hình mảnh mai trông giống như một cô bé học sinh 15 tuổi đang đứng trước bảng đen trong lớp học chứ không phải đứng trước tòa án Cộng sản. Em không sợ hãi, không van xin, trầm tĩnh và tinh khôi như một thiên thần.”

Cũng giống như hiện nay, có lẽ không phải ai cũng nhớ các chi tiết liên quan đến phiên tòa xét xử luật sư Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội ngày 4/4/2011, nhưng tôi tin là nhiều người còn nhớ hình ảnh của ông, hai tay bị còng, ra tòa với bộ đồ vét đen và chiếc cà vạt màu đỏ với những chấm trắng, toát lên vẻ uy nghi của một trí thức khi đối diện với bạo quyền.

Cũng vậy, người ta vẫn còn nhớ và có lẽ sẽ còn nhớ mãi hình ảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý bị một nhân viên an ninh bịt miệng ngay trước tòa án tại Huế vào ngày 30/3/2007 dù có lẽ, không mấy người còn nhớ ông bị buộc tội gì và bị kết án mấy năm tù.

Liên quan đến tòa án, tôi cho đó là ba hình ảnh tiêu biểu nhất cho việc đàn áp dân chúng của chính quyền Việt Nam hiện nay: đàn áp tu sĩ, đàn áp trí thức và đàn áp cả những thanh niên còn trẻ măng không làm gì khác ngoài việc bày tỏ lòng yêu nước hay, nói theo lời các công tố viên khi buộc tội Nguyễn Phương Uyên, là “nói những điều không hay về Trung Quốc”.

Tôi tin những hình ảnh sẽ còn lại mãi. Như, trước đây, trong chiến tranh Việt Nam, những yếu tố gây ấn tượng mạnh nhất đối với người Mỹ và người Tây phương nói chung, không phải là các bản tin, mà là các bức ảnh, bắt đầu với bức ảnh chụp cảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngay tại Sài Gòn vào năm 1963, và sau đó, bức ảnh chụp cảnh cô bé Kim Phúc trần truồng chạy trên đường với vết cháy khắp người do bom napalm gây ra vào năm 1972. Gần 40 năm sau 1975, với rất nhiều người Tây phương, kể cả trong giới trí thức, chiến tranh Việt Nam chỉ còn lại mấy hình ảnh chính. Không có gì khác.

Trước đây, ở cả Tây phương lẫn Đông phương, người ta đều đề cao sức mạnh của ngòi bút, thường ví ngòi bút với lưỡi gươm; thậm chí, với một số người, như Edward G. Bulwer-Lytton, cho ngòi bút còn mạnh mẽ hơn cả lưỡi gươm (the pen is mightier than the sword). Ở Việt Nam, cũng có nhiều người nói như vậy. Khen Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú viết: “Văn chương của ông có sức mạnh bằng mười vạn quân”. Phan Bội Châu cũng từng viết: “Sức vãn hồi bút mạnh hơn gươm.” Trước Phan Bội Châu và Phan Huy Chú, đời Lê, Thân Nhân Trung có lần mơ ước: “Sức bút tung hoàng quét sạch hàng nghìn quân”. Trước đó nữa, vua Trần Thái Tông cũng tâm niệm: “Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc” (Văn bút tảo thiên quân chi trận). Tuy nhiên, sau này, ở thời đại thông tin, người ta khám phá ra, sức mạnh thực sự không nằm trong chữ nghĩa mà chính là ở hình ảnh.

Trong bài nói chuyện nhan đề “Tính chính trị của hình ảnh” tại Malta vào ngày 4 tháng 6 năm 2008, Tiến sĩ Michael Frendo, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Malta, cho tất cả các chính trị gia đều ý thức rất rõ là một hình ảnh nằm ở trang nhất của các tờ báo có sức mạnh hơn hẳn các bài diễn văn hay bình luận trên tờ báo ấy. Chữ, đọc xong, có khi người ta quên ngay. Chỉ có hình ảnh là còn lại. Frendo cho đó là một đặc điểm nổi bật của thời đại chúng ta. Ông dẫn lại một nhận xét của Bernard Manin trong cuốn The Principles of Representative Government (1997), cho, trước, sân khấu chính của chính trị chủ yếu nằm ở Quốc hội và các trung tâm đầu não của các đảng phái; sau, nó nằm ở các phương tiện truyền thông đại chúng. Manin gọi đó là nền “dân chủ thính giả” (audience democracy), ở đó, dân chúng chọn lựa giới lãnh đạo qua các hình ảnh họ nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình, và gần đây, internet. Trong thời đại của nền “dân chủ thính giả” như thế, hình ảnh trở thành một sức mạnh vạn năng: Chính qua các hình ảnh được chọn lọc kỹ càng, các chính khách trở thành nổi tiếng, gần gũi và đáng tin cậy đối với quần chúng.

Các chế độ độc tài cũng biết cách tận dụng hình ảnh để tuyên truyền và vận động quần chúng. Mặc dù tất cả các lãnh tụ của Nazi, Phát xít và hầu hết các lãnh tụ của Cộng sản đều là những sát thủ đứng đầu trong lịch sử với “thành tích” giết hại có khi cả đến mấy chục triệu người, nhưng, trên các trang báo cũng như trên máy truyền hình, bao giờ họ cũng xuất hiện một cách hiền lành bên cạnh trẻ con. Chính vì vậy, tất cả các chế độ độc tài đều cố hết sức siết chặt các phương tiện truyền thông. Họ kiểm duyệt từng bức ảnh một.

Nhưng nếu các chế độ độc tài duy trì quyền lực bằng cách kiểm soát hình ảnh thì hình ảnh, tự chúng, cũng có sức mạnh đủ để quật ngã các chế độ độc tài ấy. Ai cũng biết yếu tố đầu tiên dẫn đến cuộc cách mạng mùa xuân ở Ai Cập, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ độc tài Hosni Mubarak vào năm 2011 chính là những bức ảnh chụp thi thể của anh thanh niên Khaled Mohamed Saeed, người bị cảnh sát đánh chết vào ngày 6/6/2010. Hình ảnh thân thể Saeed bị đánh bầm dập với cái miệng há hốc đầy máu me, khi được tung lên mạng, đã khiến hàng triệu người dân Ai Cập phẫn nộ, từ đó, xuống đường biểu tình. Và cách mạng bùng nổ.

Dĩ nhiên, còn quá sớm để có thể nói hình ảnh của một Nguyễn Phương Uyên, một Cù Huy Hà Vũ hay một Nguyễn Văn Lý trước tòa có thể làm thay đổi điều gì ngay ở Việt Nam. Tuy nhiên, chúng sẽ còn lại, như bằng chứng của một tội ác. Với những bằng chứng ấy, bản án dành cho họ trở thành bản án dành cho chế độ.

Một chế độ độc tài và tàn bạo.

Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: http://www.voatiengviet.com



05/20/2013 5:39 PM


linhtran
Chủ Đề :   THÀNH PHẦN THỨ BA _ KHÁNH HƯNG

THÀNH PHẦN THỨ BA

Khánh Hưng

1. Tôi có một người chú bà con, có học nhất, có tư cách nhất, và được tôn trọng nhất trong dòng họ. Trước năm 1975, ông ấy là một linh mục Công giáo trẻ, là hiệu trưởng của một trường trung học, và có chân trong nhiều tổ chức xã hội có tiếng. Có thể nói, thời ấy, ông có đầy đủ, vừa danh dự, vừa quyền hành, và cả vật chất. Các tổ chức nhân đạo phi chính phủ cấp cho ông kinh phí một cách hào phóng để xây trường học và các cơ sở xã hội mà ông muốn. Ông có đủ các loại xe và phương tiện để phục vụ cho công việc của ông.

Các viên chức chính quyền miền Nam từ quận trưởng, tỉnh trưởng cho đến những cấp cao hơn luôn tỏ ra kính trọng và cả sợ hãi chú tôi. Tôi đã từng chứng kiến một tỉnh trưởng nói với ông: “Xin cha nguôi giận tha cho con”, dù ông tỉnh trưởng này lớn hơn ông trên 10 tuổi. Thế nhưng ông là người thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình chống chính quyền miền Nam một cách quyết liệt. Tôi luôn nhớ cái khẩu hiệu của ông, “chính quyền miền Nam là một chính quyền tham nhũng, và thối nát.”Ngày 30/4/1975, ông tỏ ra vui vẽ khi bộ đội giải phóng đến mượn trường học và nhà ở của ông làm nơi đóng quân tạm. Sau ba tháng, bộ đội dọn đi và họ dọn luôn toàn bộ cái tài sản công lẫn tư của ông. Họ không chỉ tháo tôn, khung gỗ, mà cạy luôn cả gạch móng của tất cả những trường học và cơ sở của ông. Tám tháng sau ngày miền Nam giải phóng, ông bị đưa đi “cải tạo” trong thời gian hai năm. Vậy mà, suốt ba mươi năm qua, tôi chưa hề thấy ông một lần dám cãi lại anh trưởng công an xã, một học trò của ông đã bỏ học từ năm lớp 7 để theo đám du côn trong vùng, và sau này thường xuyên bắt ông ngối viết kiểm điểm.

2. Hôm nay tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ bài “Sự Lựa Chọn Của Người Trí Thức”, nói về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức nổi tiếng ở miền Nam đi theo Cộng sản và đã từng giữ chức Chủ tịch Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Viện nam. Luật sư Thọ là người gốc Công Giáo và hoàn toàn trưởng thành trong nền giáo dục Pháp. Ở miền Nam , ông đã có tất cả, từ địa vị, vật chất, danh dự, và sự kính trọng. Thế nhưng ông đã bỏ tất cả để đi theo cộng sản.Sau năm 1975, gần như người ta không còn nghe đến tên ông. Tôi đã từng đến nhà ông trên đường Phạm Ngọc Thạch trong một dịp lễ đặc biệt, và đúng như lời đồn đãi, từ người gác cửa, lái xe, cho đến người y tá của ông, đều do cơ quan “bảo vệ nội bộ” của Đảng cung cấp. Người Sài Gòn kể rằng, trước lúc chết, ông có nguyện vọng được xưng tội với một linh mục. Vì mục đích nhân đạo, chính quyền đã đồng ý với điều kiện là người “thư ký” của ông phải đứng bên cạnh cuộc xưng tội giữa ông với ông linh mục nọ.

3. Thế hệ của tôi đã học chữ quốc ngữ qua dòng nhạc phản chiến đầy hào khí Lạc Hồng của Trịnh Công Sơn. Khi tôi vào đại học, được nghe lời truyền tụng về huyền thoại chống chiến tranh, được cho nhìn những tấm ảnh nhạc sĩ họ Trịnh ốm yếu, với đôi kiếng cận dày, ôm cây dàn ngạo nghễ hát trên một sân khấu phản chiến, giữa Trung tâm Sài Gòn với một “lực lượng cảnh sát và mật thám” dày đặc của một chính quyền Miên Nam “tay sai, tàn bạo, thối nát”; Vì thế, hơn cả sự ngưỡng mộ tài hoa của một nhạc sĩ, trong lòng tôi còn dành cho họ Trịnh sự kính trọng đối với một chí sĩ bất khuất trước cường quyền. Nhưng sau này, khi đi làm và có cơ hội tiếp xúc với ông, tôi hoàn toàn thất vọng. Trịnh Công Sơn rất sợ bị công an “thăm hỏi”. Dù là một người xa lánh với những kẻ quyền lực, Trịnh công Sơn luôn treo tấm hình ông chụp chung với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt ở phòng khách. Ông đã nhiều lần bày tỏ với bạn bè một ý định ngây thơ và hết sức tội nghiệp là tấm ảnh đó có thể giúp ông tránh bị công an chụp mũ. Một nhạc sĩ hàng đầu của một dân tộc, từng hiên ngang công khai thách thức chính quyền miền Nam, đã trở nên hèn hạ đến mức phải dùng một tấm ảnh để đánh lừa nổi sợ hãi của chính mình. Trước khi ông mất vài năm, tôi đã vài lần gặp ông trong các hội nghị tổng kết của một số cơ quan tổ chức văn hoá tại Sài Gòn. Trong tất cả các hội nghị đó, những hàng ghế danh dự được dành cho các cán bộ văn hoá, tuyên huấn kể cả cấp quận huyện. Những cán bộ này phát biểu, chúc tụng nhau nhưng không ai để ý đến ông. Ông ngồi lọt thỏm ở các hàng ghế sau với một vài người bạn. Tôi xin lỗi vong hồn ông để nói điều này: Cộng sản đã dành cho nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công sơn vị trí của một trong số hàng ngàn “CÔNG NHÂN SẢN XUẤT NHẠC…” không hơn không kém. Thân phận của ông trong hai mươi sáu năm sau 1975, chỉ trừ khi ông chết, còn kém hơn một cán bộ phòng văn hoá quận 1.

4. Tôi đến Mỹ trễ sau khi miền Nam đã được “giải phóng” hơn 20 năm. Ở Mỹ, tôi có hai người bạn. Gọi là bạn nhưng họ đều lớn hơn tôi trên 10 tuổi, và cả hai là người miền Nam , đã đến Mỹ từ trước 30/4/1975. Cả hai đều có bằng tiến sĩ và đều có địa vị cao trong xã hội Mỹ. Hai người bạn tôi nằm trong số những người thường hay về Việt Nam và luôn ao ước cơ hội để giúp đỡ và phụng sự quê hương Việt Nam .

Điều đáng nói là, hai người bạn tôi luôn chỉ trích xã hội Mỹ, hệ thống chính trị Mỹ, và các chính trị gia Mỹ. Nói về bất cứ lĩnh vực nào, họ cũng đều tìm ra cái xấu, cái đáng phê phán của nước Mỹ. Ngược lại, dường như bạn tôi tỏ ra dể dãi hơn đối với tình trạng ở Việt Nam và dường như không có ấn tượng gì lớn đối với tình trạng tham nhũng – thối nát trong xã hội cộng sản Việt Nam hiện nay. Có lần bạn tôi nói rằng, ông mới đến Mỹ mà sao ông chống cộng hơn tôi?

Vì sao?

Tôi đã bỏ Việt Nam ra đi khi tôi ở lứa tuổi đã quá trễ để học một ngôn ngữ mới, để tạo lập một nghề nghiệp mới, để có một mối quan hệ xã hội mới, và để có thể làm quen với khí hậu ôn đới. Thế nhưng tôi đã phải ra đi vì tâm trí tôi không thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của những điều bất công, thối nát, lừa dối, và tàn bạo đang xảy ra từng ngày xung quanh tôi.

- Một buổi sáng, tôi thấy anh xe ôm đầu ngỏ nhà tôi trên đường Lê Văn Sĩ, quận 3 dường như đang khóc. Tôi hỏi anh, và anh nói rằng chiếc xe honda cũ của anh đã bị công an thu giữ, không biết làm cách nào để xin lại. Lý do là vì xe honda ôm chỉ đựợc chở 1 người khách nhưng hôm qua, anh đã chở một người khách – môt phụ nữ có đứa con 5 tuổi. Tất nhiên, đứa bé 5 tuổi không thể ngồi một mình sau xe ôm được. Nhưng “luật pháp” không phân biệt lớn nhỏ. Anh xe ôm nói, vì đó là chuyến xe đầu tiên trong ngày, nên anh không có đủ 50 ngàn để “dúi” cho anh cảnh sát giao thông, và vì thế, chiếc xe của anh đã bị tạm giữ. Anh xe ôm này có ba đứa con. Chỉ riêng phải đóng “sổ vàng” để được giữ chổ tại trường công lập gần nhà, mỗi đứa cần có 2 triệu, chưa kể tiền học thêm hàng tháng… Trung bình mỗi ngày anh kiếm được 100 ngàn đồng bằng nghề xe ôm. Vợ anh bán bánh canh trong hẽm mỗi ngày kiếm được khoảng 50 ngàn. Thu nhập của hai vợ chông cộng lại tính ra chưa đủ tiền trường cho ba đứa con, chưa nói đến những bất trắc thường xuyên xảy ra như vụ chiếc xe bị tạm giữ.Ở Việt Nam , cứ 10 người bạn gặp, sẽ có 7 người có hoàn cảnh như anh xe ôm nói trên.

- Còn anh bạn tôi thì luôn chỉ trích nước Mỹ…Tôi đã sống ở Mỹ hơn 5 năm, đã có ít nhất hai mươi lần liên hệ với các cơ quan chính quyền. Tôi chưa hề bắt gặp một công chức nào thiếu nhã nhặn và lịch sự với tôi ngay cả khi tôi đến để xin các khoản trợ cấp. Không ai trong số hàng chục gia đình bà con và quen biết của tôi đã sống tại Mỹ hơn 20 năm phàn nàn về một lần phải bị làm khó dể hay phải lo lót cho công chức Mỹ.Ở Mỹ, không nói đến chương trình phổ thông hoàn toàn miển phí, mà bất cứ ai cũng có đủ cơ hội để đi học đại học. Gần như 100% người Việt Nam di cư đến Mỹ đều đủ tiêu chuẩn hưởng trợ cấp giáo dục (financial aid). Do đó mà đã có tới hơn 45% người Việt đến Mỹ dưới 20 tuổi học xong đại học hoặc trên đại học. (California, Department of Education, 2004-Survey). Ở Việt Nam hiện nay, không dám nói đến bậc đại học, ngay cả vào lớp một thôi, chỉ riêng tiền đóng “sổ vàng” trung bình là 1 triệu đồng cho một học sinh, khoản tiền này không được qui định bởi luật pháp nhưng không phi pháp… Khoản tiền đóng “sổ vàng” này, như báo Tuổi Trẻ từng đưa tin, có trường lên tới 5 triệu đồng cho một quốc gia có mức thu nhập trên đầu người vào khoảng 7 triệu rưởi. Nhưng đó chỉ mới là khoản nhập môn. Tổng các khoản chi học thêm, qùa cáp thầy cô giáo, và phương tiện học hành của mỗi học sinh chiếm tương đương với ít nhất là 1/3 số thu nhập của anh xe ôm kia.

- Ở bất cứ phương diện nào, bạn cũng có thể thấy một khoảng cách rõ ràng giữa hai xã hội.Dì của tôi, năm nay trên 60 tuổi đang nhận chăm sóc một cháu bé 1 tuổi tại Santa Cruze (CA) cho vợ chồng một kỹ sư người Việt. Hàng tuần dì lái cũng một chiếc Toyota 2004 đi làm 5 ngày, mỗi tháng dì lãnh 1000 dollars tiền lương, chưa kể ăn uống và quà cáp trong các dịp lễ. Mức thu nhập của dì tôi tương đương với mức lương trung bình của 4 kỹ sư điện toán giỏi tại Sài gòn hiện nay.

- Truyền thông Mỹ hôm nay (18/12/2005) xôn xao đưa những chỉ trích và đánh giá gay gắt về việc Tổng thống Bush đã có lần cho phép cơ quan an ninh quốc gia theo dõi điện thoại và email của nghi phạm khủng bố trong nước Mỹ. Cũng trong thời gian này, ở Việt Nam xảy ra một chuyện ngược lại: Công an tống giam biệt tích hai anh em nhà ở đường Nguyễn Kiệm vì tội tham gia diễn đàn Paltalk nhưng không có một dòng tin nào xuất hiện trên 500 tờ báo hiện có tại Việt Nam.

Chỉ cần nhìn sơ qua, bạn cũng có thể thấy, những điều mà bạn chưa hài lòng ở nước Mỹ là những điều mà đồng bào của bạn dù nằm mơ cũng không thấy được. Chỉ cần lướt qua vài hình ảnh và số liệu, bạn cũng có thể thấy cái bất công trong xã hội Mỹ này chỉ bằng một viên bi trong một giỏ bi bất công dưới chế độ cộng sản. Ở trên trái đất này, không hề có thiên đường. Điều mà anh và tôi tìm kiếm không phải là một xã hội hòan hảo, mà là một xã hội có ít sự bất công hơn, có ít sự lừa dối hơn, và có ít cái xấu hơn. Trong ý nghĩa này, thì nuớc Mỹlà một mô hình tốt hơn vạn lần so với cái xã hội Việt Nam cộng sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối đang thống trị xã hội.

Quí vị “Thành phần thứ ba” giống như những đứa bé nhà giàu đang sống êm ấm trong một lâu đài nhưng luôn nhìn qua cửa sổ, mơ tưởng được làm một chú bé mò cua trên cánh đồng đàng xa, dưới bầu trời đầy nắng, và bên cạnh một khu rừng nhiệt đới bí ẩn… Nhưng khi nào quí vị trở thành chú bé nhà nghèo kia, thì quí vị sẽ thấy công việc mò cua hoàn toàn không có mảy may của sự lãng mạn, nhưng là một sự khốn khó đến cùng cực vì lạnh, vì đói, vì nắng, và những những cơn sốt nghiệt ngã do cánh rừng kia mang lại.

Tóm lại

“Thành phần thứ ba” là những người có thừa nhiệt huyết và dũng khí để đấu tranh quyết liệt chống những chính quyền của những xã hội dân chủ nhưng thiếu sự can đãm tối thiểu để bảo vệ một sự công bằng căn bản nhất dưới những chế độ độc tài. Và như thế, dù không chủ ý, “thành phần thứ ba” đã bắt một nhịp cầu cho các chế độ độc tài như cộng sản Việt Nam .

Khánh Hưng

Nguồn: maito70@yahoo.com



05/17/2013 1:44 PM


linhtran
Chủ Đề :   Quyền lật đổ chính quyền _ Lê Dủ Chân

Quyền lật đổ chính quyền

Lê Dủ Chân

Nếu nói đến dân chủ hoặc dân quyền mà không nói đến QUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN của dân thì đó là một thiếu sót sai lầm nghiêm trọng, bởi vì quyền lật đổ chính quyền là quyền lực chính trị cao nhất của người dân, được thực thi để thay đổi nhà cầm quyền với mục đích bảo vệ những quyền lợi tự nhiên cơ bản của mình khi những quyền này bị nhà cầm quyền xâm phạm hay tước đoạt.

1. Nguồn gốc

Ba yếu tố ắt có và đủ để thành lập một quốc gia là: DÂN, LÃNH THỔ VÀ CHÍNH QUYỀN, trong đó "DÂN" là yếu tố quyết định. Thật vậy nếu không có dân sẽ không có lãnh thổ, không cần chính quyền. Ngược lại nếu có dân, dân sẽ chiếm hữu lãnh thổ để sinh tồn và lập nên chính quyền để phục vụ cho mình.

Quá trình lập quốc của các quốc gia trên thế giới, điển hình là sự ra đời quốc gia Israel của người Do Thái vào thế kỷ 20 sau hơn 2000 năm có dân nhưng không có lãnh thổ và chính quyền, đã chứng minh được luận điểm trên là đúng đắn.

Từ đó có thể xác định được rằng quyền lật đổ chính quyền của người dân có ngay từ ngày đầu khi một quốc gia được thành lập và quyền này không những phải được công nhận như một quyền tự nhiên của người dân mà còn được xem như là một phương pháp tối ưu để xây dựng quốc gia mỗi ngày một giàu mạnh người dân mỗi ngày một hạnh phúc.

Hiểu một cách đơn giản và thực tế thì chính quyền là một tổ chức do người dân của một nước lập nên, tổ chức này gồm một nhóm người, họ cũng là dân nhưng được đa số người dân khác tín nhiệm chọn ra để lãnh trách nhiệm điều hành xã hội phục vụ cộng đồng.

Do vậy bản chất của chính quyền là phi giai cấp và phi thời gian, không lệ thuộc, không phục vụ cho một giai cấp đặc thù nào trong xã hội và chỉ tồn tại khi nó đáp ứng được nguyện vọng của những người tạo ra nó tức là dân.

Một chính quyền không phục vụ cho người dân, ngược lại chỉ phục vụ cho chính bản thân những người cầm quyền, hoặc vì bất cứ lý do gì đã mất đi khả năng lãnh đạo làm cho đất nước suy vong, xã hội suy trầm, nhân dân đói khổ thì người dân phải hủy bỏ để lập nên một chính quyền khác.

Quy luật này không những là quyền mà còn là trách nhiệm và bổn phận của người dân trong một nước, hoàn toàn không bị ràng buộc bởi hiến pháp và luật pháp hiện hành do nhà cầm quyền đương nhiệm đặt ra.

Nhìn vào lịch sử Đông - Tây chúng ta thấy được rằng sự sụp đổ một triều đại, một chính phủ hay một chế độ đều phát xuất từ dân, quyền lực đó chính là quyền lật đổ chính quyền của dân.

Tuy nhiên trong thời đại phong kiến cũng như trong cuộc cách mạng vô sản của người cộng sản, do trình độ chính trị của người dân chưa được khai phá, nhận thức về tự do, quyền làm chủ của dân còn bị hạn chế nên quyền này đã bị tư tưởng phong kiến và tà thuyết cộng sản lèo lái, sử dụng như một phương tiện phục vụ cho tham vọng riêng tư của bọn họ. Thế cho nên sau khi đạt được mục đích cướp chính quyền, thâu tóm quyền lực, hai tập đoàn này đã dùng hệ thống tư tưởng thần quyền hoang tưởng, lý thuyết giai cấp thống trị phản động kết hợp với bạo lực để vô hiệu hóa quyền lật đổ chính quyền của dân với mục đích kéo dài vĩnh viễn thời gian cai trị cho chế độ.

Riêng tại các quốc gia có nền văn minh tiên tiến theo chế độ dân chủ, quyền lật đổ chính quyền của người dân đã được dân và nhà cầm quyền thể chế hóa và luật hóa ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ qua các văn bản gốc như:

- Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (The Unanimous Declaration of the Thirteen United States of America) ra đời ngày 4 tháng 7 năm 1776;

- Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp (Déclaration des droits de l'Homme et du citoyen) ngày 26 tháng 8 năm 1789;

- Và sau khi thế chiến lần thứ hai kết thúc, đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận qua bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) tuyên bố ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

2. Hình thức

Tùy theo chế độ và mức độ ngoan cố của nhà cầm quyền, người dân các quốc gia trên thế giới lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ bằng những hình thức sau:

- Bầu cử:

Tại các quốc gia dân chủ người dân thực thi quyền lật đổ chính quyền của mình một cách hòa bình và công khai, quyền này được cụ thể hóa minh bạch bằng luật ứng cử và bầu cử đúng theo hiến pháp của mỗi nước quy định.

Ngược lại để lật đổ một chính phủ trong chế độ độc tài, thông thường người dân phải dùng các hình thức sau mới mong đặt được mục đích của mình:

- Bất tuân dân sự:

Henry David Thoreau (1817-1862) cho rằng người dân có bổn phận dân sự hành động theo lương tâm của chính mình để từ chối tuân theo luật pháp và chỉ thị của một chính quyền bất chính, bất công và sai lạc. Và nếu không khai trừ, giải thể được chế độ này thì ít ra cũng không a tòng, tương trợ hay gần gũi kẻ phạm pháp.

Vào thế kỷ trước, bằng phương pháp biểu tình ôn hòa bất tuân dân sự, từ chối tuân thủ những luật lệ, chính sách, chủ trương, đường lối của chính phủ Anh mang tính bất công chống lại người dân và làm suy yếu đất nước, tẩy chay các sản phẩm, các cơ quan giáo dục và pháp tòa Anh cũng như từ chức không làm cho chính quyền, từ chối không đóng thuế và hủy bỏ những danh hiệu, huy chương của đế quốc Anh. Với con đường này Mohandas Karamchand Gandhi thường được gọi là Thánh Gandhi (1869-1948) đã dẫn dắt người dân Ấn Độ đến độc lập tự chủ.

Cách Mạng Nhung Tiệp Khắc diễn ra từ ngày 16 tháng 11 năm 1989 đến ngày 29 tháng 12, 1989dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước này. Hai ngày sau khi cảnh sát đã đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên tại thủ đô Praha, ngày 19 tháng 11 năm 1989, hàng loạt những cuộc biểu tình của người dân Tiệp Khắc đã diễn ra trên khắp đất nước, số lượng người tham gia biểu tình tại Praha có ngày lên đến nửa triệu, tiếp đó ngày 27 tháng 11, một cuộc đình công phản đối đồng loạt trên toàn quốc đã diễn ra trong hai giờ đồng hồ. Trước sức ép ngày càng càng lớn, vào ngày 28 tháng 11 đảng cộng sản Tiệp Khắc đã tuyên bố từ bỏ quyền lực và giải tán chế độ độc tài độc đảng đương quyền. Đến tháng 6 năm 1990, một cuộc bầu cử tự do, dân chủ, đa đảng đầu tiên kể từ năm 1946 đã được tổ chức để thành lập chính phủ mới mở ra kỷ nguyên tự do dân chủ cho người dân Tiệp Khắc.

Từ năm 1987 cho tới 1991 tại Cộng Hòa Sô Viết Estonia nhân dân Estonia biểu tình tụ tập mỗi lúc cả ba trăm ngàn người tại công trường Tallinn, tung hô khẩu hiệu tranh đấu đòi quyền tự quyết, hát những bài quốc ca, dân ca từng bị Liên-Sô cấm đoán. Khi quân đội Liên-Sô đem xe tăng đến uy hiếp, dân chúng biểu tình lấy thân làm hàng rào chống đỡ, nhờ đó chính quyền Estonia kịp trở tay giải tán quốc hội và tuyên bố độc lập.

Tại Nam Phi, với chủ trương bất tuân dân sự qua những cuộc biểu tình vĩ đại "Trong Mưa Tím" (Purple Rain Protest) và Diễn Bước Hòa Bình (Cape Town Peace March) Nelson Mandela và Tổng giám mục Desmond Tutu đã dẫn dắt nhân dân Nam Phi chấm dứt chế độ kỳ thị Apartheid năm 1994.

Cuối năm 2004 tại Công Trường Độc Lập, thủ đô Kiev nước Ukraine gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, phản đối chính quyền bằng các hình thức biểu tình ngồi, đình công, bãi thị, đòi tự do dân chủ, xóa bỏ gian lận bầu cử v.v... Họ đã thành công trong công cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị, xây dựng một xã hội dân sự, tự do, dân chủ cho đất nước này.

- Đối đầu bất bạo động:

Đây là hình thức đấu tranh đặt nền tảng trên quyền lực, ý chí và sự hy sinh của dân, không dùng vũ khí nhưng dùng số đông quần chúng làm sức mạnh nhằm đạt đến mục tiêu là lật đổ những chính quyền đi ngược lại nguyện vọng của mình. Bất bạo động không phải là không hành động mà chính là hành động nhưng không dùng bạo lực. Nó đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm cao độ và chính nghĩa để có được sự ủng hộ bền bỉ của đại đa số quần chúng.

Từ việc đối đầu bất bạo động, quyền lực của nhà cầm quyền bị đặt vào vị trí thử thách, làm yếu đi sức mạnh của bạo lực đồng thời tăng sức mạnh cho dân cho đến khi bạo lực của nhà cầm quyền bị triệt tiêu chính quyền sẽ phải sụp đổ.

Đối đầu bất bạo động gồm hàng loạt chuỗi đấu tranh bằng hình thức vận động nhân dân đồng loạt xuống đường biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa... thể hiện ý chí phản đối, không tuân lệnh, không cộng tác, bất chấp các định chế của chế độ đương quyền.

Công Đoàn Đoàn Kết là tổ chức then chốt trong việc lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại Ba Lan, được thành lập vào tháng 9 năm 1980 với chủ trương đình công, biểu tình đòi tăng lương, phản đối chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước trên khắp lãnh thổ Ba Lan. Phải mất đến 10 năm với cả ngàn cuộc đình công, biểu tình, 10.131 người bị bắt, 3.616 bị án tù, 9 chín công nhân bị bắn chết và nhiều người bị thương, người dân Ba Lan mới đạt được mục đích của mình là lật đổ chính quyền đương nhiệm thành lập chính quyền mới, tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường tự do, đưa Ba Lan vượt qua những khó khăn bước đầu và dần dần trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển cao.

Cuối năm 2004, tại Công Trường Độc Lập, thủ đô Kiev nước Ukraine gần triệu người biểu tình mặc toàn áo màu da cam, phản đối chính quyền bằng các hình thức biểu tình ngồi, đình công, bãi thị, đòi tự do dân chủ, xóa bỏ gian lận bầu cử v.v... Họ đã thành công trong công cuộc cải tổ sinh hoạt chính trị, xây dựng một xã hội dân sự, tự do, dân chủ cho đất nước này.

Vào đầu thế kỷ 21 người dân tại các nước Trung Đông và Bắc Phi đã kiên trì áp dụng hình thức đấu tranh bất bạo đông để lật đổ các chế độ độc tài lâu đời tại Tunisia, Egypt, Yemen, Sudan...

Gần đây nhất nhân dân Miến Điện sau hơn 50 năm (1962 - 2012) bị cai trị dưới chế độ độc tài quân phiệt đã thành công trong nỗ lực chuyển hóa từ một chế độ độc tài quân phiệt sang chế độ tự do dân chủ. Từ cuộc nổi dậy ôn hòa 8888 chống lại chế độ nhà nước độc đảng được khởi đầu bởi sinh viên tại thành phố Ngưỡng Quảng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, mặc dầu bị đàn áp dã man nhưng từ đó về sau tinh thần này đã lây lan trên khắp đất nước với hàng trăm ngàn người biểu tình đòi cải tổ chính trị, kinh tế và xã hội.... Sau gần 25 năm kiên trì đấu tranh bất bạo động với hàng ngàn người thiệt mạng do sự đàn áp của quân đội, hàng chục ngàn người chịu cảnh tù đày mất mát, người dân Miễn Điện đã thức tỉnh được lương tri của tập đoàn lãnh đạo, làm cho họ chấp nhận thay đổi chế độ để xây dựng tự do dân chủ và kiến thiết đất nước.

- Đối đầu bạo động:

Đối với những chính quyền ù lỳ ngoan cố quyết tâm bám trụ quyền lực chống lại nguyện vọng chính đáng của người dân bằng hành động khủng bố và đàn áp đẫm máu, đưa đến một tình thế một mất một còn giữa hai phe, với tình huống này người dân bắt buộc phải khởi động một cuộc nổi dậy, hoặc tổng nổi dậy để lật đổ nhà cầm quyền dù phải dùng đến biện pháp đối đầu có vũ trang.

Năm 1789 Nhân dân Pháp đã dùng những cuộc biểu tình bạo loạn trên toàn lãnh nước Pháp, phá ngục Bastille, giết vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette để chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế lâu đời tại nước Pháp.

Vào đầu thế kỷ 21 người dân Libya đã phải dùng hình thức vũ trang nổi dậy để lật đổ chế độ độc tài sắt máu của Muammar Al Gaddafi.

Giữa tháng 2 năm 2011, các cuộc biểu tình ôn hòa bắt đầu nổ ra. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan đến thủ đô Tripoli. Chính quyền phản ứng bằng cách ra lệnh cho quân đội và cảnh sát bắn thẳng vào những người biểu tình. Hổn loạn và bạo động diễn ra khắp nước bắt buộc người dân phải xử dụng vũ khí và tổ chức thành đội ngũ để chống lại sự đàn áp tàn bạo của quân đội. Gaddafi thuê chiến binh ngoại quốc tàn sát người biểu tình và ra lệnh cho quân đội sử dụng xe tăng, đại bác, hỏa tiễn, máy bay tấn công quân nổi dậy, xử tử những người biểu tình đang nằm điều trị trong bệnh viện, các sĩ quan quân đội bắn bỏ những quân nhân nào từ chối bắn vào người biểu tình. Càng đàn áp sức kháng cự của nhân dân càng mãnh liệt và cuối cùng với sự hổ trợ của thế giới nhân dân Libya đã chiếm được thủ đô Tripoli, Gaddafi bị lật đổ và bị giết vào ngày 20 tháng 10 năm 2011, sau 42 năm cầm quyền.

Syria là một quốc gia theo chế độ toàn trị do Đảng Baath nắm giữ quyền hành, Hiến pháp 1973 ban cho Tổng thống Assad quyền lực gần như tuyệt đối. Thủ tướng và nội các do Tổng Thống chỉ định mà không cần bất kỳ sự phê chuẩn nào. Bất kỳ ai muốn thành đạt trên con đường hoạn lộ đều phải thông qua Đảng và phải thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Assad. Những công việc béo bở trong chính quyến thường được trao cho thành viên trong gia đình Tổng thống hoặc cho người trong nhóm thiểu số Alawite hay đồng hương với Tổng thống Assad. Chính quyền Assad giam giữ độc đoán, tra tấn dã man, thủ tiêu những người bất đồng chính kiến, kiểm duyệt các websites, cản trở các bloggers, áp đặt các lệnh cấm di chuyển, kiểm soát cư trú và hạn chế đi lại, thành lập Tòa án An ninh Nhà nước Tối cao (SSSC), là một tòa án đặc biệt tồn tại bên ngoài hệ thống pháp lý thông thường để xét xử những người bị cho là gây nguy hiểm tới chế độ.

Ngày 26 tháng 01 năm 2011, hưởng ứng cuộc nổi dậy của các quốc gia trong vùng, dân chúng Syria xuống đường biểu tình đòi chính phủ cải cách chính trị, tôn trọng quyền công dân và bãi bỏ Luật Khẩn Cấp. Chính quyền thẳng tay đàn áp, hàng ngàn người bị bắt và một số người bị bắn chết ngay trong ngày đầu tiên. Để chống lại sự đàn áp của nhà cầm quyền, nhân dân Syria đã liên kết với binh lính đào ngũ thành lập những tổ chức phản kháng bằng vũ trang bởi vì họ biết rằng với chế độ độc tài Assad không thể lật đổ mà không có bạo lực và đổ máu. Do sự ngoan cố của chính quyền Assad, đến nay đã có ít nhất 70.000 người chết. Trong những ngày tới có thể dân Syria sẽ phải hy sinh nhiều hơn nữa nhưng có một đều chúng ta có thể khẳng định được là không sớm thì muộn chế độ độc tài Assad sẽ sụp đổ, Assad và đồng bọn phải đền tội và nhân dân Syria sẽ thành công trong sứ mạng lật đổ chính quyền phản động này.

3. Kết luận cho Việt Nam

Chế độ cộng sản tại Việt Nam như một phiên bản hoàn hảo của các chế độ độc tài trên thế giới gom lại. Con đẻ của nó, nhà nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hậu thân của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa, là một nhà nước độc tài toàn trị tồn tại lâu đời nhất nhì trên thế giới, tính đến nay đã hơn nữa thế kỷ (68 năm).

Sự ra đời cũng như bản chất của nhà nước này là một nghịch lý đối với văn minh tiến bộ của loài người, nó không bắt nguồn từ dân mà do đảng cộng sản Việt Nam dựng lên, không phục vụ cho dân trung thành với tổ quốc mà phục vụ cho đảng trung thành với tư tường Marx-Lê-Mao, không tồn tại bằng thực lực và sự tín nhiệm của dân mà tồn tại bằng bạo lực và giả dối.

Điều 4 trong bản hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và các đều 88, 79 trong bộ luật hình sự của chế độ là những quy định phi nhân, phi pháp chống lại quyền Lật Đổ Chính Quyền là quyền lực chính đáng và cũng là trách nhiệm cao cả của người dân đối với quốc gia và dân tộc.

Ngày nào nhà cầm quyền độc tài, độc đảng này còn tồn tại thì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và toàn vẹn lãnh thổ chỉ là những từ sáo rỗng. Để đạt được những ước mơ đó người dân Việt Nam không còn có lựa chọn nào khác ngoài việc thực thi quyền LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN của mình như các dân tộc trên thế giới đã làm.

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com



05/14/2013 8:01 PM


linhtran
Chủ Đề :   G/Đ A.T.B.Đ VÀ PHIÊN HỌP MỞ RỘNG_Video

Cuong Nguyen ncuongdieu@yahoo.com

G/Đ A.T.B.Đ VÀ PHIÊN HỌP MỞ RỘNG PHẦN I

G/Đ A.T.B.Đ VÀ PHIÊN HỌP MỞ RỘNG PHẦN II



05/14/2013 8:35 AM


linhtran
Chủ Đề :   The Woman In Black - Sương Phụ Áo Đen _ Hoàng Nhất Phương

The Woman In Black - Sương Phụ Áo Đen

Hoàng Nhất Phương

https://www.youtube.com/watch?v=7lReemWmO5o

Từ ngày vợ qua đời, Arthur Kipps (Daniel Radcliffe) trở thành người lặng lẽ. Thế giới thật sinh động còn tồn tại, hay thế giới đầy màu sắc đã biến mất chẳng ảnh hưởng gì đến chàng luật sư trẻ sớm góa vợ, có đứa con trai bốn tuổi tên Joseph. Arthur thường có cảm giác Stella - vợ của anh - vẫn quấn quýt bên cạnh. Điều lạ lẫm này cùng với công việc mỗi lúc một bế tắc, tiền bạc cạn kiệt dần, khiến anh lúc nào cũng buồn bã, ủ rũ, dáng vẻ phất phơ hoang tưởng như người không còn thuộc về cõi thế. Chính trong lúc này, anh được cử đến một thị trấn ở bờ biển phía đông Crythin Gifford khá xa nhà, để giải quyết việc bán trang viên Eel Marsh House của người phụ nữ đã qua đời tên Alice Drablow. Nhiệm vụ này cũng là cơ hội cuối cùng, để Arthur chứng minh khả năng làm việc của anh với ông chủ. Nếu không thành công, anh sẽ bị mất việc.

Quang cảnh khác thường, sự lạnh nhạt của cư dân sống ở Crythin Gifford khiến Arthur ngạc nhiên. Người ta tỏ vẻ sợ hãi, không muốn giao tiếp khi biết anh đến để tìm cách bán trang viên Eel Marsh House. Một vài người thì thầm khuyên anh hãy "biến" cho nhanh, đừng ở lại đây. Anh cũng nhận ra một điều rất kỳ lạ, thị trấn vắng tanh không hề thấy bóng những đứa trẻ. Chúng bị nhốt trong nhà như tù nhân. Trong lúc gần như thất vọng vì không thể tìm được chỗ trọ qua đêm, Arthur may mắn gặp Sam Daily (Ciarán Hinds) và vợ ông là Elisabeth (Janet Mc Teer), họ đã đón nhận và giúp đỡ anh. Qua câu chuyện trao đổi, Arthur biết con trai của họ bỗng nhiên qua đời. Cái chết bí ẩn của con khiến ông Sam trở thành người hoài nghi, khiến tâm trí bà Elisabeth luôn phiền muộn hoảng loạn.

Arthur không hiểu, vì sao thị trấn lại đắm chìm trong những điều quái lạ như vậy. Cho đến khi anh đi qua vùng đầm lầy quanh năm phủ sương mù tới Eel Marsh House, một trong những bất động sản của dòng họ Drablow. Ngay lập tức Arthur nhìn và nghe thấy những điều dị thường. Ngôi nhà xếp đầy đồ chơi đáng sợ. Những con búp bê bằng sứ lúc nào cũng sẵn sàng thay đổi hình thù, thay đổi vị trí. Tự nhiên ghế rung chuyển như có người đụng đến, tiếng bước chân vang vọng khắp nơi, khi chung quanh không có một bóng người. Và điều đáng sợ hơn cả là sự xuất hiện thần bí của sương phụ áo đen. Người phụ nữ mặc y phục màu tang này lúc xuất hiện trong cửa sổ, lúc thoắt ẩn thoắt hiện ở xa. Cố gắng tìm hiểu mối quan hệ giữa dân làng cùng gia đình Drablow, Arthur tìm thấy bằng chứng về một điều xấu có tác hại lớn lao đã ngự trị trong Eel Marsh House, kể từ khi chủ nhân qua đời.

"The Womanin Black - Sương Phụ Áo Đen" là bộ phim kinh dị dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên, xuất bản năm 1983 của nữ văn sĩ Susan Hill. Tác phẩm của bà Hill từng được chuyển thành kịch diễn trên sân khấu, thành phim chiếu trên đài truyền hình do Herbert Wise đạo diễn, Central Television và ITV Network sản xuất năm 1989. Bộ phim thành công ngoài sức tưởng tượng của mọi người, trở thành một trong những phim truyền hình danh giá của thập niên 1980. Giờ đây, dưới bàn tay phù thủy của đạo diễn James Watkins, "The Woman in Black" được tái hiện trên màn bạc, làm sống dậy cảm giác sợ hãi rùng rợn trong một thị trấn dư dầy không khí ma quái, nơi qủy dữ chiếm đóng, quyết giết trẻ em để trả thù. Cuộc viếng thăm bất ngờ của Arthur đã làm sống dậy chiến dịch "oan oan tương báo" khủng khiếp này.

Công ty Hammer Films của Anh Quốc rất nổi tiếng vì đã sản xuất những bộ phim kinh dị mang phong cách Gothic "Hammer Horror" như loạt phim "Frankenstein," "Dracula," "The Mummy," trong thập niên 1950, 1960, 1970. Khán giả không ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng tối âm u của “Frankenstein,” của "Dracula" trong "The Womenin Black," vì Hammer Films đóng vai trò sản xuất. Jame Watkins - người từng đạo diễn thành công "TheDescent 2," "Eden Lake" - đã mang thế giới kinh dị đầy bóng tối của ma qủy dàn trải trong "The Women in Black," khiến khán giả phải lạnh sống lưng, nổi da gà. Nhất là khi vai chính do Daniel Radcliffe - cậu bé phù thủy Harry Potter - đảm nhiệm. Bỏ lại đằng sau hình ảnh cậu bé phù thủy Harry Potter đeo cặp kính tròn thật hồn nhiên thật dễ thương của tuổi thơ, Daniel Radcliffe đã thành công khi hoá thân làm luật sư Arthur Kipps, nhân vật có bối cảnh cá nhân và tuổi đời rất chênh lệch với số tuổi 18 của anh.

Với ngân sách dàn dựng khiêm tốn chỉ có $15 triệu, tính đến nay tổng doanh thu của "The Woman in Black" là $127.730.736 mỹ kim, con số không nhỏ cho thấy thương hiệu Hammer Films vẫn được khán giả ưa thích, và ở chừng mực nào đó chứng tỏ Daniel Radcliffe đã thực hiện tốt vai diễn của anh. Thành công lớn nhất của "The Woman in Black" chính là bối cảnh dàn dựng cho trang viên Eel Marsh, nơi chốn đi về của hồn ma bóng quế. Trong khói sương mù, ngay cả giữa ánh sáng ban ngày, ngôi nhà trông rất quái đản. Có thể nói đây là ngôi nhà ma ám hãi hùng nhất của thể loại phim kinh dị. Khán giả bị cuốn hút vào cuộc ân oán khó hiểu giữa kẻ chết và người còn sống, giữa hệ lụy đời thường và cõi âm. Câu chuyện-thời gian-không gian thật điêu tàn…Khiến nỗi bất hạnh của vay trả trả vay, trở thành nhân quả không bao giờ dứt trên bến luân hồi thương cảm. Sống như thế nào, để khi xuôi tay nhắm mắt có thể buông xả tất cả mọi buồn-vui-sướng-khổ là điều mà "The Woman in Black" muốn nói, khi đưa lên màn bạc một phận người đến chết vẫn chưa nguôi nỗi hận.

Hoàng Nhất Phương

Nguồn: danluan.org



05/11/2013 4:12 PM


linhtran
Chủ Đề :   Giáo dục – nền tảng phát triển xã hội _ Charlie Nguyễn

Giáo dục – nền tảng phát triển xã hội

Charlie Nguyễn

Điểm qua những phát minh khoa học, nghiên cứu kinh tế, và sáng tác văn chương nổi tiếng từ hơn thế kỷ qua, hầu hết các giải thưởng Nobel đều thuộc về Âu-Mỹ. Cộng thêm vào đó là cả hàng trăm nếu không nói là hàng ngàn tác phẩm về những nghiên cứu xã hội, chính trị, giáo dục … được in ấn hàng năm. Tại sao? Có nhiều yếu tố như môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất, đầu tư của chính phủ … là những yếu tố quan trọng, nhưng chắc chắn môi trường và phương cách giáo dục đã góp phần rất lớn.

Triết gia người Mỹ John Dewey đã nhận định về giáo dục: “Giáo dục là một quá trình sống chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai;” hay nói khác hơn: “Giáo dục không phải là để chuẩn bị vào đời, nhưng giáo dục chính là cuộc đời.” Ở hầu hết các nước văn minh của thời đại, cuộc sống con người hàm chứa những giá trị nhân phẩm và quyền con người như đã được xác định trong bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Chính vì thế, ngay từ bé trẻ em ở Âu-Mỹ được dậy sống bản Tuyên ngôn Quốc Tế về con người. Mỗi con người là một cá thể độc lập phải được tôn trọng; mỗi con người cần sống và thể hiện quyền dân chủ của mình. Trẻ em được khuyến khích suy nghĩ độc lập và nói lên suy nghĩ của mình; tham gia vào các cuộc bàn thảo, tranh luận với các thầy cô và bạn bè. Ngay từ phổ thông cấp I, các cháu đã được tập làm những bài luận phê bình một sự kiện hay một tin sốt dẻo trình chiếu trên đài truyền hình. Các trường trung học đều có ban báo chí do học sinh đứng ra điều khiển dưới sự hướng dẫn của một giáo viên. Không ngạc nhiên khi chúng ta thấy các bài viết phê bình rất thẳng thắn về các môn học, về nhà trường, và ngay cả phê bình các ứng cử viên Quốc hội và cả Tổng Thống nữa. Hẳn nhiên là các bài viết có sự kiểm duyệt của giáo viên hướng dẫn để tránh lời lẽ khiếm nhã nhưng nội dung các bài viết đều là của học sinh.

Học sinh được dậy sống dân chủ ngay trong nhà trường, điển hình cụ thể nhất là các cuộc bầu cử chọn lựa ban chấp hành đại diện cho học sinh toàn trường. Em nào ra ứng cử đều phải tổ chức các buổi nói chuyện để vận động cho chính mình. Những ứng viên đạt đủ số phiếu sau vòng đầu sẽ phải tranh luận với nhau trước ngày bầu cử – rất sôi nổi, thể hiện rõ tinh thần dân chủ.

Trong tinh thần giáo dục của triết gia Dewey, không có trường Đại học nào ở Mỹ phân biệt tuổi tác hoặc Tôn giáo, màu da, chính kiến. Đặc biệt là các trường Đaị học Cộng đồng luôn có rất nhiều chương trình dành cho những người lớn tuổi, giúp họ tiếp tục tìm hiểu, đào sâu thêm về nghệ thuật, ngôn ngữ, âm nhạc, triết học, điện toán … những môn học mà họ không có điều kiện tìm hiểu khi còn nhỏ. Bởi vì giáo dục là cuộc sống, mọi người được khuyến khích học hỏi như Mahatma Gandhi nói: “Hãy sống như ngày mai ta sẽ chết, và học như ta sẽ sống muôn đời.”

Trẻ em được dậy sáng tạo. Không hề có chuyện phải học thuộc lòng từng câu từng chữ. Quan điểm giáo dục ở nhà trường Âu-Mỹ là giúp trẻ em hiểu đề tài và có thể diễn tả đề tài đó theo sự hiểu biết của mình chứ không phải lập lại những gì đã được viết ra. Mục đích giáo dục không phải là học thuộc lòng vì như Jiddu Krishnamurti nhận định những gì ta nhớ do học thuộc lòng, đọc hoặc nghe chỉ là thông tin (information) thôi, những gì chúng ta suy luận và khám phá ra từ những thông tin đó mới là kiến thức. Và nói như Steve Jobs, cố giám đốc công ty Apple, một trong những nhà tiên phong, cha đẻ của thế giới điện toán hôm nay “Sáng tạo là nối kết các sự kiện với nhau. Nếu bạn hỏi người sáng tạo làm thế nào để sáng tạo, họ sẽ hơi xấu hổ vì họ thực sự không làm gì cả, họ chỉ thấy nó như thế. Sáng tạo là điều hiển nhiên với họ bởi vì họ có thể nối kết và tổng hợp những trải nghiệm họ có.” Nói tóm lại sáng tạo là điểm đích nối kết của những kiến thức đã được trải nghiệm. Như thế, sáng tạo cũng như giáo dục – cần phải được trải nghiệm, phải được sống.

Khác hẳn với Âu-Mỹ, nền giáo dục VN vẫn đặt nặng vấn đề học thuộc lòng, và vâng lời là điều quan trọng. Vô lớp không được ý kiến ý cò, thầy cô nói sao thì phải nghe vậy. Quan điểm “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” là tốt nhưng có phần thái qúa. Trẻ em ở VN chắc chắn sẽ được bố mẹ cho ăn đòn nếu cãi thầy cô, không cần biết lý do.

Trong những năm qua đẻ ra tệ nạn học thêm lan tràn khắp nước vì không học thêm chắc khó có thể lên lớp được. Giáo dục trở thành thương mại. Là cha mẹ chúng ta phải sửng sốt khi con em mình học ngày học đêm, đúng là một cực hình so với thời chúng ta còn cắp sách đến trường. Thực sự con em chúng ta học những gì và điều chúng học có đem lại lợi ích gì cho chúng và cho xã hội không?

Thay vì dậy trẻ em cách suy tư và sáng tạo, nền giáo dục Việt Nam chỉ toàn nhai đi nhai lại mớ kiến thức đã cũ. Không có một tí sáng tạo nào bởi vì đó là mục đích của đảng CS. Viết một bài văn phải viết theo tinh thần cách mạng, theo đường hướng của ban giáo dục đề ra, chỉ có tư tưởng của đảng CS mới là đỉnh cao trí tuệ … Thế thì lấy đâu ra sáng tạo khi trẻ em phải viết thuộc lòng, bị đóng khung suy nghĩ của mình như thế? Viết khác với đường hướng tư tưởng của đảng là phản động, là thế lực thù địch, là ngồi tù; sống như thế làm sao có sáng tạo? Nếu để ý đến các bài phát biểu của các cán bộ lãnh đạo, chúng ta sẽ ghi nhận ngay lối giáo dục thuộc lòng đã ăn xâu trong não trạng của đảng – từ TBT, CTN, TT đến chủ tịch UBNN quận, phường, họ phát biểu xôi nổi cả tiếng, thao thao bất tuyệt … nhưng hầu hết là những luận điệu y như nhau, những từ ngữ giao to búa lớn, những giáo điều như nhau.

Nếu sự tưởng tượng là khởi điểm của suy tư sáng tạo như Albert Einstein nói thì con em chúng ta đã và đang bị nền giáo dục đảng trị bóc lột một cách tàn nhẫn. Làm sao con trẻ có thể tưởng tượng khi chúng không được phép nói lên suy nghĩ của chúng; khi chúng bị gò ép phải nhớ những gì đảng ghi chép trong sách giáo khoa cho dù đó là những điều xuyên tạc. Đối với người lớn cũng thế. Làm sao chúng ta có thể tưởng tượng khi chúng ta không được nói; không được viết suy nghĩ của mình cách công khai; không được đọc, nghe, xem những gì ngoài sự quản lý của đảng.

Một xã hội không thể có dân chủ thực sự nếu dân trí còn thấp kém. Muốn phát triển dân trí chúng ta cần một nền giáo dục nhân bản và dân chủ tốt. Giáo dục và dân chủ luôn đi đôi với nhau, cùng chung một mục đích là đào tạo những con người toàn diện, điều không thể thiếu cho sự phát triển xã hội. Trong khi đó chủ trương của đảng CSVN là tạo dựng một nền giáo dục phi dân chủ với mục đích duy trì vị thế đảng trị của họ. Giáo dục phi dân chủ biến sự giả trá thành sự thật, cái rất bất thường trở thành cái rất bình thường – tham nhũng sẽ không còn là tham nhũng nhưng là một loại bổng lộc được xã hội chấp nhận; làm hàng giả, ăn cắp nhãn hiệu của người khác là chuyện bình thường; đè đạp nhau bất chấp mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang xã hội không còn là việc làm gian sảo nhưng là việc làm của người khôn ngoan trong xã hội; cướp đất của dân không còn là tội phạm nhưng là sự nghiệp lãnh đạo làm giầu.

Giáo dục phi dân chủ không chỉ bóp chết sự sáng tạo cần thiết cho công cuộc phát triển xã hội đất nước, nhưng nguy hiểm hơn nữa, nó bóp chết luôn nền tảng đạo đức nhân bản, và tạo nên những thế hệ ù-lỳ chỉ biết chấp nhận, vâng phục.

© Charlie Nguyễn

Nguồn: http://www.danchimviet.info



05/10/2013 10:44 AM


linhtran
Chủ Đề :   Chính nghĩa và phi chính nghĩa của những cuộc biểu tình _ Võ Long Ẩn

Chính nghĩa và phi chính nghĩa của những cuộc biểu tình

Võ Long Ẩn

Hai chữ “biểu tình” được Paul Huỳnh Tịnh Của trình bày trong Việt Nam Quốc Âm Tư Vị như sau: Biểu: Biểu dương lực lượng; Tình: Tình nguyện hợp sức; nghĩa là biểu dương sức mạnh đồng tình hợp lực để đối kháng với chính quyền áp đặt chính sách cai trị hà khắc với dân chúng, hay với chủ nhân các tập đoàn tài phiệt bóc lột công nhân, v.v.

Những cuộc biểu tình chính nghĩa đã đạt được thành công, theo ý nguyện của nhân dân, lật đổ được chính quyền. Gồm có các cuộc biểu tình chống chế độ tài của tổng thống Phi Luật Tân cai trị đất nước trên 30 năm.

Những cuộc biểu chống lãnh đạo độc tài của Nam Dương, TT Suharto cai trị trên 32 năm và gần đây các cuộc biểu tình của các quốc gia trong phong trào “Cách Mạng Hoa Lài” thuộc các quốc gia Trung Đông, Bắc Phi v.v.

Những cuộc biểu tình phi chính nghĩa đã trở thành trò hề, trò bạo động gây bất an cho cuộc sống yên lành cho dân tộc cho nhân loại nói chung. Đó là những cuộc biểu tình đập phá ở, đốt nhà cửa xe cộ tài sản của người dân vô tội như ở Anh quốc ở Pháp v.v. Hay cuộc biểu tình ở đội quân Áo Đỏ ở Thái Lan các cuộc biểu tình này luôn bị dập tắt.

Quay lại lịch sử biểu tình tại miền Nam Việt Nam, trong thời gian chiến tranh khốc liệt, quân dân miền Nam chống sự xâm lăng của quân đội CS Hà Nội thì tại hậu phương, những tên vô loại đã làm tay sai cho cộng sản phát động những cuộc biểu tình không ngoài mục đích lật đổ chính quyền của Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà cho tới ngày 30-4-75.

Từ vĩ tuyến 17 trở vào không một tỉnh thành nào không bị khuấy phá liên tục: biểu tình, xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu ký giả đi ăn mày, tổ chức báo nói của nhóm dân biểu phản động “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản” gồm: Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Võ Long Triều, Ngô Công Đức, Phan Xuân Huy (đảng viên cộng sản nằm vùng) …

Các cuộc biểu tình được phát động như sau.

Năm 1963



Biểu tình ủng hộ tướng lãnh đao chánh; đòi xử tử hai ông Diệm Nhu.
Nguồn: Douglas Pike Photograph Collection – Vietnam Center and Archive.

Ngày 8-3- Phật tử biểu tình trước đài phát thanh Huế, đòi phát thanh bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang

Ngày 30-5, Phật tử biểu tình trước trụ sở Quốc Hội ở Saigon chống đàn áp Phật Giáo. Cũng trong ngày Phật tử biểu tình và tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ tại Huế, chống đàn áp Phất Giáo.

Ngày 31 tháng 5 tăng ni phật tử biểu tình tại Quảng Trị, chống đàn áp Phât Giáo

Ngày 2-6 Tăng Ni Phật tử biểu tình tại Nha Trang, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 3 -6 Tăng Ni, Phật Tử biểu tình la hét ném đá trước toà đại biểu chính phủ tại Huế, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 4-6 Phật tử biểu tình bạo động tại Huế, Chống đàn áp Phật Giáo

Ngày 7-6, phật tử biểu tình bạo động tại Đà Lạt chống đàn áp Phật Giáo

Ngày 11-6, tăng ni quỳ tụng kinh tại ngã tư Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt Saigon, Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, Chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 16-6, tăng ni Phât tử xuống đường bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 30-6 tăng ni Phật Tử xuống đường bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo.

Ngày 3 tháng 7, tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình tại Saigon, Đà Lạt,Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, chống đàn áp Phật Giáo và kỷ niệm thất tuần của Hoà Thương Thích Quảng Đức tự thiêu.

Ngày 13-8 tăng ni Phât tử biểu tình tại Huế đòi đưa quan tài của Đại đức Thích Thanh Trực đi tuần hành ngoài đường phố. (Chính quyền địa phương muốn rằng đám tang của Đại Đúc tự thiêu được cử hành trong chùa).

Ngày 23-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon chống đàn áp Phật Giáo. (Sau vụ Cảnh sát Dã Chiến và Lực Lượng Đăc Biệt tấn công các chùa đên 20-8)

Ngày 25-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon, chống đàn áp Phật Giáo. Và đòi thả những sinh viên, học sinh bị bắt. (tuớng Đính ra thông báo : (Tướng Tôn Thất Đình, tổng trấn Saigon họp báo lên án sinh viên học sinh làm loạn, và cho biết khoảng hơn 1,300 sinh viên học sinh đã bị bắt giữ)

Ngày 7-9 Phật tử, sinh viên xuống đường biểu tình bạo động tại Saigon chống đàn áp Phật Giáo. (tuớng Đính ra thong báo : “Sinh viên học sinh bị bắt trong các vụ xuống đường bạo động, nếu vị thành viên thì cho vào trại cải huấn,nếu thành viên thì cho vào trại Quang Trung làm binh nhì”)

Ngày 9-9 Phật tử sinh viên xuống đường biểu tình bạo động chống đàn áp Phật Giáo, và chống đàn áp sinh viên học sinh.



Biểu tình sau cuộc đảo chánh 1/11/1963.
Nguồn: Douglas Pike Photograph Collection – Vietnam Center and Archive.

Năm 1964. Này 16 tháng 8 hiến chương Vũng Tàu được công bố.

Ngày 19-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường tại Saigon chống đốc tài Nguyễn Khánh, chống dư đảng cần lao

Ngày 20-8 Phật tử sinh viên học sinh xuống đường chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao.

Ngày 21-8 phật tử và sinh viên Phật tử xuống đường biểu tình tại Huế chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao.

NGày 22-8 Phật tử sinh viên xuống đường biểu tình tại Saigon, chống độc tài Nguyễn Khánh, chống dư đảng Cần Lao đòi tự do dân chủ.

Ngày 23-8 Phật tử và sinh viên học sinh xuống đường biểu tình trước đài phát thanh Saigon, chống độc tài Nguyễn Khánh chống dư đảng Cần Lao, đòi hủy bỏ sắc luật tuyên bố tình trạng khẩn trương (ban hành ngày 7-8)

Ngày 23-8 tăng ni, Phật tử xuống đường biểu tình trước viện Hóa Đạo Saigon, đòi tự do hành đạo, đòi loại bỏ những phần tử chống Phật Giáo trong chính quyền, và đòi tân diệt dư đảng Cần Lao.

Ngày 24-8 Phật tử và sinh viên, học sinh xuống đường tại Saigon chống độc tài Nguyễn Khánh, và tố cáo Mỹ can thiệp vào nội bộ VN.

Ngày 24-8 Phật tử và sinh viên xuống đường tại Huế chống độc tài Nguyễn Khánh, đả đảo Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (hội đồng này là hậu thân của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mang năm 1963).

Ngày 25-8 Phật tử sinh viên học sinh tụ họp tại bùng binh chợ Bến Thành (còn được gọi là công trường Quách Thị Trang) chống độc tài Nguyễn Khánh. Sau đó đám đông kéo đến phủ chủ tịch ở đường Thống Nhất, đả đảo độc tài Nguyễn Khánh, đả đảo hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng và đòi Nguyễn Khánh từ chức. Đám đông kéo đến đài phát thanh, tràn vào bên trong, định phát thanh tuyên ngôn chống Nguyễn Khánh nhưng đã bi nhân viên công lực giải tán.

Ngày 25-8 một đám người tấn công làng Thanh Bồ, Đà Nẳng môt làng đa số người công giáo. Hai bên xô xác có người chết và bị thương.
(Ngày 26-8 Hội Đồng Quân Đội Cách thu hồi bản hiến chương Vũng Tàu)

Ngày 27-8 Tam đầu chế Nguyễn Khánh, Trần thiện Khiêm, Dương Văn Minh ra đời thay thế cho Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng

Ngày 27-8 Công Giáo biểu tình trước cổng bộ Tổng Tham Mưu, chống cộng sản, chống trung lập và chống những phần tử phá rối.

Ngày 28-8 Phật tử và sinh viên xuống đường chống độc tài Nguyễn Khánh. Thanh niên Công Giáo, cũng xuống đường chống những kẻ phá rối trật tự an ninh và yêu cầu chính quyền tại lập trật tự, hai bên xô xát, có người chết và bị thương.

Nggày 21-9 Phật tử và sinh viên xuống đường bạo động tại Huế và Quy Nhơn, đả đảo độc tài và lùng bắt dư đảng Cần Lao, đám đông chiếm đài phát thanh.

Ngày 26-9 Phật tử xuống đường tại Quy Nhơn chống độc tài Nguyễn Khánh và chống Mỹ.

Ngày 4-10 Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc của Thượng toạ Trí Quang do bác sĩ Lê Khắc Quyến chủ tịch, nhóm họp đầu tiên tại Huế. Ngày 30-10 cụ Trần Văn Hương được chỉ định làm thủ tướng. Nội các Trần Văn Hương ra mắt ngày 4-11.

Ngày 6-11 Phật tử xuống đường tại Saigon chống chính phủ Trần Văn Hương

Ngày 10-11, Phật tử xuống đưòng bạo động tại Saigon chống chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 13-11 Phật tử xuống đường tại Saigon, đòi thủ tướng Trần Văn Hương từ chức.

Ngày 22-11 Phật tử và sinh viên xuống đường tại Saigon, tố cáo chính phủ Trần Văn Hương phản cách mạng và dung dưỡng “bọn Cần Lao ác ôn”

Ngày 24-11,Phật tử và sinh viên xuống đường chống chính phủ Trần Văn Hương

Ngày 25-11 Phật tử và sinh viên xuống đường đả đảo chính phủ Trần Văn Hương và kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ chính phủ Trần Văn Hương. Khoảng 2000 Phật tử dựng chướng ngại vật trước trụ sở Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, dùng đá gậy cầm cự với cảnh sát. Một thanh niên bị bắn chết.

Ngày 18-11 Tăng ni Phật tử sinh viên xuống đường bạo động tại Saigon, đám đông khiên quan tài thanh niên “bị bắn chết ngày 25-11) hò hét đả đảo Trần Văn Hương. Cảnh sát bắt được 20 người có khí giới trong mình. Đám tang bèn ngồi bệt xuống đường để phản đối dư đảng Cần Lao trong chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 10-12 các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất ra thông bạch sẽ chống chính phủ Trần Văn Hương cho tới cùng và cảnh cáo Mỹ can thiệp vào nội bộ VN. Thông bạch còn lên án Thủ tướng Trần Văn Hương về bốn tội sau đây: Dùng những phần tử của chế độ Diệm, triệt hạ những tờ báo của Phật Giáo, bắt công chức phải khai rõ tôn giáo của mình nhằm mục đích loại bỏ Phật tử ra khỏi guồng máy chính quyền, phỉ bang Phật Giáo. Thủ tướng Trần Văn Hương đã có lần gọi những nhà sư xuống đường là “bọn đầu trọc làm trò khỉ”

Ngày 12-12 thủ tướng Trần Văn Hương lên đài phát thanh tuyên bố lý do tại ông bị phật giáo chống đối: “Phật Giáo đưa danh sách một số tổng bộ trưởng, bắt tôi phải chấp nhận vào nội các của tôi. Tôi không chấp nhận. Bởi vì, tôi không thể chấp nhận một quốc gia trong một quốc gia”

Năm 1965



Phật tử biểu tình ở Huế, 1966.
Nguồn UPI, Nguyễn Thanh Tài

Ngày 17-1, Phật tử xuống đường bạo động bạ tại Huế, Đà Lạt đòi lật đổ chính phủ Trần Văn Hương.

Ngày 20-1 Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Thượng toạ Thích Tâm Châu, Thượng tọa Trí Quang đồng tuyệt thực đòi lật đổ chính phủ Trần Văn Hương. Ba vị lãnh đạo tuyên bố sẽ tuyệt thực cho đến chết, nếu thủ tướng Trần Văn Huơng không từ chức…

Những nhân vật lãnh đạo các cuộc xuống đường, bạo động, nổi loạn, biểu tình không ngoài mục đích “lật đổ tất cả các chính Phủ của VNCH”. Nhưng những cuộc biểu tình phi chánh nghĩa đã không lật đổ nổi chính phủ của hai nền Cộng Hoà của miền Nam.

Nền đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ do tập đoàn tướng lãnh tay sai nhận tiền của Mỹ, vì háo danh, ham tiền (3triệu đồng tiền VN) để chia chác với nhau. Tranh nhau quyền lực đó là thời kỳ hỗn quan, hỗn quân đen tối nhất tong chính trường miền Nam.

Nền đệ nhị Cộng Hoà sụp đổ vì Dương Văn Minh, tay điệp viên nằm vùng; dinh Hoa lan là mật khu an toàn chứa chấp những cán bộ, điệp viên cao cấp, Việt cộng nằm vùng…

Những trí thức Phật tử lãnh đạo các cuộc biểu tình một số đã qua đời, số đông hiện còn sống hiện đang ẩn trốn. Trong lúc đất nước lâm nguy đã và đang bị tập đòan cộng sản, thái thú, dâng hiến cho Tàu cộng.

Những trí thức Phật tử, những người có thừa kinh nghiệm xuống đường trên các đường phố của miền Nam nay ở nơi đâu? Sơn hà đang nguy biến.



Phụ nữ biểu tình chống chính phủ quân nhân (Nguyễn Cao Kỳ) và phản đối Mỹ không cho triệu tập quốc hội, 1966.
Nguồn AP.16-3-2013

Nguồn: © 2013 DCVOnline

Tham Khảo:
- Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử, nhà xuất bản Alpha, 6771 Wilson BLVD Fall Church Hoa Kỳ.
-Lý Quý Chung, Hồi ký Không Tên, nhà xuất bản Trẻ phát hành tháng 12 năm 2004 tại Saigon



05/09/2013 11:57 AM


linhtran
Chủ Đề :   Tiểu Psy và giấc mơ mọi loài xác thịt _ Đào Tuấn

Tiểu Psy và giấc mơ mọi loài xác thịt

Đào Tuấn

Có khi nào bạn nổi giận khi trên báo chí nước ngoài, những cô gái đồng bào của bạn được quảng cáo như những con thú cảnh, “lẳng lơ và cực rẻ”



Hwang Min-Woo, tiểu Psy.

Sau khi nổi như cồn với sự xuất hiện trong Video Gangnam Style, cậu bé 8 tuổi Hwang Min Hoo đang phải đối mặt với sự bôi nhọ ác ý chưa từng thấy. “Một đứa con lai thấp kém”, “Đừng nghĩ rằng một người như nó có thể sống ở đây”…

Các bạn sẽ hỏi tôi rằng vì sao một ngôi sao nhí của K pop, người được gọi là “Tiểu Psy” lại bị kỳ thị nặng nề đến như vậy? Câu trả lời: Tiểu Psy có mẹ là một người Việt Nam.

Câu chuyện của Tiểu Psy không chỉ là sự kỳ thị mang tính chất cá biệt của một nhóm người, như những người Hàn thanh minh. Cũng hoàn toàn không phải là chuyện của cá nhân cậu bé. Chắc chắn thế. Bởi không thiếu những từ ngữ dành cho người Việt. “Bẩn thỉu”, hay “Negrito”, những từ ngữ xúc phạm đến nỗi chúng ta không dám tra nghĩa. Bởi không thiếu những ánh mắt “hình dấu hỏi” khi bạn trình một tấm hộ chiếu Việt Nam.

Tôi nhớ lại sự kỳ thị mà cậu bé 8 tuổi đang phải chịu đựng khi hôm nay đọc trên VietNamNet lời tâm sự của một người lao động Nghệ An đã phải hàng tháng giời rong ruổi qua hết công ty nọ đến công ty kia để tìm việc làm. Ước mơ có được một việc làm giản dị đến nỗi rất nhẫn tâm nếu gọi đó là một ước mơ. Nhưng điều mà anh nhận lại, chỉ là những cái lắc đầu, những cái nhìn thiếu thiện cảm, những khuôn mặt ban đầu tươi cười sau đó “biến sắc lạnh lùng”. Tốt hơn một chút thì là những lời khuyên, chân thành nhưng đầy ngậm ngùi: “Công ty này không nhận người Nghệ An con ơi!” Sự kỳ thị nặng nề đến mức những ông giám đốc người nước ngoài đang điều hành doanh nghiệp trên đất Việt cũng bị ảnh hưởng, cũng dị ứng ngay cả với những từ ngữ đơn thuần “Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh”.

Có khi nào bạn bị tổn thương trước một tấm biển cấm chó, và cấm người Việt?



Guaranteed virgin!

Có khi nào bạn nổi giận khi trên báo chí nước ngoài, những cô gái đồng bào của bạn được quảng cáo như những con thú cảnh, “lẳng lơ và cực rẻ”?

Có khi nào bạn phẫn nộ vì một ông chủ nhà hàng ở Vũng Tàu hay chính giữa Thủ đô, “đóng sập cửa trước mũi” chỉ vì bạn là người Việt?

Có khi nào bạn tự hỏi vì sao người Việt lại bị kỳ thị ở khắp nơi?

Nếu bạn thấy bị tổn thương, giận giữ, phẫn nộ trước những điều chướng tai gai mắt mà thực chất chính là sự kỳ thị đối xử bất công đó, bạn sẽ hiểu được tình cảm của những lao động Thanh – Nghệ – Tĩnh đang bị chính những đồng bào của họ đối xử ngày hôm nay, ngay trên đất nước mình.

Hôm qua, thưa các bạn, hai lao động người Việt, quê ở Hà Tĩnh đã chết sau một vụ tai nạn thảm khốc trên đất Thái. Do Việt-Thái chưa có hiệp định hợp tác lao động, những lao động Việt Nam đang phải kiếm cơm chui với một thị thực du lịch phải đổi sau mỗi 30 ngày.

Có khi nào vì bị kỳ thị trên quê hương mình, nặng nề đến nỗi họ phải phiêu bạt, chui nhủi xứ người cũng chỉ là để, một cách lương thiện, kiếm miếng ăn nuôi vợ dại con thơ?

Trong bài diễn văn “tôi có một ước mơ” phát biểu những năm 60 của thế kỷ trước, có một từ là “Mọi loài xác thịt”. Và vì ai cũng chỉ là một “loài xác thịt” bình đẳng như ai, cho nên, Mục sư Luther King đã nói đến một ngày “con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ”. Lẽ nào, ước mơ bình đẳng của Luther King giờ đây vẫn còn phải nhắc đến trước những câu chuyện đau lòng về kỳ thị giữa những người chung bọc xứ này?

Nguồn: Tiểu Psy và giấc mơ mọi loài xác thịt. Đào Tuấn



05/09/2013 11:35 AM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn Hưng Quốc _ Tôi không chống Cộng

Tôi không chống Cộng

Nguyễn Hưng Quốc - Theo VoA blog

Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản. Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốn Communism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin, cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm. Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay, có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng, chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước. Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm. Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia. Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết - tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy, chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trịtất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định. Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả - sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?” Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ - những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ - những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán. Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore). Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước. Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.


Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm: Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

1-Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
2-Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
3-Như trên.
4-Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
5-Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”, Annu, 1999, tr. 329.
6-Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
7-Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
8-Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
9-Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Opposition số 37, 2002, tr. 551-572.

Nguồn: Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc



05/09/2013 10:44 AM


linhtran
Chủ Đề :   Trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa? _ Nguyễn Gia Kiểng

Trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?

Nguyễn Gia Kiểng - E ThongLuan

Nhiều nguồn tin cho thấy là đang có dự định bỏ tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp cũng đã ghi nhận đề nghị này như một trong những vấn đề để biểu quyết với nhận xét thuận lợi. Nếu đúng như thế thì chỉ là thay thế một sai lầm bằng một sai lầm lớn hơn.

Bỏ quốc hiệu CHXHCNVN là việc phải làm bởi vì nó loại trừ những người không tán thành chủ nghĩa xã hội, nghĩa là gần như tất cả mọi người Việt Nam hiện nay. Nó là một thách đố xấc xược đối với dân tộc Việt Nam. Hơn nữa chủ nghĩa xã hội, hay chủ nghĩa Mác – Lênin, đã bị thế giới vất bỏ như một chủ nghĩa tội ác. Trên thế giới hiện nay Việt Nam là nước duy nhất còn tự xưng là "cộng hòa xã hội chủ nghĩa" (1).

Tuy vậy, trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chọn lựa khó tưởng tượng.

Cụm từ "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" trước hết là một sai phạm về ngữ pháp ở thời điểm 1945 khi ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc trên tiếng Việt còn quá nặng. Ngày nay cách viết tiếng Việt như vậy là sai, cũng sai như nếu viết "Đức Dân Chủ Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Dân Chủ Đức hay "Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, điều mà chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã nhận ra từ lâu rồi. Cụm từ sai ngữ pháp này là do ông Hồ Chí Minh ở nước ngoài quá lâu nên không còn nắm vững tiếng Việt, cũng như như hai tiếng "đả đảo", có nghĩa là "đánh đổ", chưa từng có trong ngôn ngữ Việt Nam mà ông du nhập từ Trung Quốc cùng một lúc. Duy trì một sai lầm ngữ pháp ngay trong quốc hiệu không khác quệt một vết nhọ trên mặt.

Hơn nữa những thuật ngữ "dân chủ cộng hòa", "cộng hòa dân chủ", "cộng hòa nhân dân" cũng có nghĩa chính trị rõ rệt của chúng. Đó là những thuật ngữ đồng nghĩa được Liên Xô chế tạo ra dưới thời Stalin để chỉ các chế độ cộng sản hoặc thân cộng, để chống lại cái mà họ gọi là "dân chủ tư bản", nghĩa là dân chủ như cả thế giới chấp nhận hiện nay và chúng ta cũng đang muốn tiến tới. Dùng quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là phủ nhận dân chủ ngay trong tên nước. Về nghĩa chính trị "dân chủ cộng hòa" và "xã hội chủ nghĩa" chỉ là một. Điều này cả thế giới biết. Sự kiện một số trí thức dân chủ, điển hình là nhóm Kiến Nghị 72, đề nghị trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một điều rất đáng tiếc.

Nghiêm trọng hơn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là quốc hiệu của một chế độ hung bạo đã phạm nhiều tội ác lớn.

Ngay sau Cách Mạng Tháng 8, nó đã tàn sát thẳng tay hàng trăm nghìn người yêu nước trong các đảng phái không cộng sản, gây đổ vỡ lớn trong dân tộc và khiến cuộc đấu tranh giành độc lập trở thành nhiều lần khó khăn và đẫm máu hơn vì bị đồng hóa với cuộc đấu tranh áp đặt chủ nghĩa Mác-Lênin. Rất nhiều người tham gia mặt trận Việt Minh đã phải quay lưng lại với nó vì tính mạng của họ bị đe dọa và chủ nghĩa đã được đặt lên trên lợi ích dân tộc. Những năm đầu của giai đoạn kháng chiến 1945 – 1954 đã là những năm kinh hoàng. Khẩu hiệu lúc đó "giết nhầm còn hơn tha nhầm". Người ta có thể bị giết vì bị tình nghi là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt và người ta cũng có thể bị giết chỉ vì trong người có cái gương nhỏ để chải đầu hay có miếng vải mầu xanh hay mầu đỏ vì bị kết tội là làm dấu hiệu cho máy bay hay mang cờ Pháp. Không có mục tiêu nào dù cao cả đến đâu có thể biện hộ cho những tội ác này, huống chi đây là cuộc chiến tranh đáng lẽ không có, hay dù có cũng dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, nếu chủ nghĩa Mác – Lênin không được đặt cao hơn tổ quốc. Ngày nay nhiều vị cách mạng lão thành biện luận rằng họ đã chỉ đi theo kháng chiến vì độc lập dân tộc. Họ có thể thành thực nhưng đó không phải là lập trường của những người lãnh đạo cộng sản, nghĩa là những người quyết định tất cả.

Ngay sau Hiệp Định Genève là cuộc tàn sát những người bị coi là thuộc thành phần địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất. Họ bị giết không phải vì đã làm gì bị coi là có tội mà chỉ vì bị xếp loại là thuộc thành phần địa chủ. Ai có thể quên được câu "thơ" Tố Hữu "giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ"? Theo cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam" do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản năm 2009 con số nạn nhân bị thảm sát được ghi nhận là 172.008 người. Một con số kinh khủng. Theo định nghĩa của công pháp quốc tế đây là một tội ác lớn đối với loài người.

Rồi đến chiến dịch đàn áp trí thức văn nghệ sĩ, điển hình là vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, để dập tắt mọi tư duy độc lập, kiểm soát đến cả miếng ăn manh áo để thực hiện theo nghĩa đen và tuyệt đối chế độ toàn trị. Đặng Phúc Lai (1934 – 2003) là một nhà nghiên cứu toán và triết. Ông vừa 20 tuổi năm 1954 khi đất nước bị chia cắt. Ông chọn ở lại miền Bắc thay vì theo gia đình vào Nam vì cảm tình với Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khi sang Paris để trị bệnh ung thư năm 2002 ông kể là đã bị giam giữ suốt 13 năm chỉ vì bị tình nghi là chống Đảng. Nhà văn Trần Hoài Dương (1943 – 2011) mà tôi gặp tại London kể lại cho tôi nghe chuyện anh tới thăm nhà thơ Trần Dần. Trần Dần đang ngồi uống "nước trà không có trà", nghĩa là nước sôi rót vào bình trà dù không có trà để cố tưởng tượng hương vị trà, thì bà vợ đi buôn chợ trời về báo tin mất mấy đôi dép. Hôm đó là ngày 01-9. Trần Dần hỏi vợ đã treo cờ trước cửa nhà chưa vì ngày mai là lễ quốc khánh. Khi vợ trả lời là chưa treo thì ông la lên: "Treo ngay đi! Nhà ai quên thì còn được chứ nhà mình mà quên treo cờ thì khổ lắm". Người ta cũng chưa quên câu nói của Nguyễn Tuân: "Tao mà còn sống được là nhờ biết sợ". Và hai câu thơ nổi tiếng trong giới trí thức văn nghệ sĩ: " bắt phanh trần phải phanh trần, cho may ô mới được phần may ô". Người ta cùng khổ và uất ức nhưng vẫn phải nói dối là rất sung sướng, rất hân hoan, rất phấn khởi hồ hởi. Ai còn muốn sống lại giai đoạn này?


Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chế độ khủng bố. Khủng bố để áp đặt cuộc nội chiến Nam - Bắc 1960 – 1975 kéo dài 15 năm làm đất nước tan hoang và sáu triệu người chết và tàn phế. Một trong những cái giá phải trả để theo đuổi cuộc chiến thảm khốc này là phải tôn sùng "anh cả Liên Xô và anh hai Trung Quốc". Đó là chế độ đã ký công hàm 14/9/1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa và đã im lặng khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Đó cũng là chế độ sau tháng 4-1975 đã ngạo nghễ thi hành chính sách cướp bóc trắng trợn, hạ nhục và bỏ tù tập thể đối với miền Nam, cùng với vô số biện pháp phân biệt đối xử khác, làm tan vỡ tình nghĩa dân tộc. Cũng chính nó, do một sự mê muội khó tưởng tượng, đã chọn tự hóa thân thành CHXHCNVN để rập khuôn theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ. Sự xấc xược tàn bạo đã đi tay trong tay với sự mù quáng.

Người ta còn có thể nhắc lại nhiều điều khác, như chính sách hợp tác xã dẫn cả miền Bắc tới sự đói khổ cùng cực.

Có mọi lý do để quên đi chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trở lại với quốc hiệu VNDCCH là trở lại với quốc hiệu của một trong hai phe nội chiến, với những tội ác và những sai lầm kinh khủng, và ngoáy dao vào những vết thương vẫn còn rướm máu trong lòng dân tộc. Thật khó tưởng tượng có thể còn có những người đề nghị như vậy. Không những thế nó còn là chọn lựa bất lợi cho mọi người. Đối với đảng cộng sản đó là sự thú nhận rằng giai đoạn 37 năm của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã là một sự lầm lạc, nhưng nó cũng không có giá trị của một sự sửa sai mà chỉ là sự trở lại với một chọn lựa còn độc hại hơn và chứng tỏ đảng cộng sản hoàn toàn không hối hận. Đối với nhân dân Việt Nam nó nhắc nhở một giai đoạn của đói khổ, giết chóc, thù hận, dối trá và độc ác. Xét cho cùng giai đoạn Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không tệ hại bằng giai đoạn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Nhưng thực tế là đã có nhiều người đưa ra đề nghị này trong đó có cả những trí thức muốn đổi mới. Và họ đều có cùng một lập luận. Các trí thức đưa ra đề nghị này cũng như Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp đều viện dẫn lý do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là chế độ do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Hình như sự kiện "do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập" tự nó đủ để bảo đảm sự đúng đắn của đề nghị. Trên nhiều vấn đề khác cũng thế, người ta viện dẫn "chủ tịch Hồ Chí Minh" như là một bảo đảm cho lập luận của mình.

Đã đến lúc phải nói chuyện thẳng thắn với nhau.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại : 1/ lý tưởng cộng sản; 2/ thành tích chiến đấu thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước; và 3/ thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa và lên án; các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ ngày càng bị đánh giá là không cần thiết, thậm chí có hại cho đất nước, vả lại đàng nào cũng quá xưa rồi và không liên quan gì với những người lãnh đạo hiện nay. Còn lại thần tượng Hồ Chí Minh, bùa hộ mạng cuối cùng của chế độ. Chính vì thế mà chế độ đánh bóng ông, tô điểm ông và bảo vệ ông. Bộ luật hình sự coi việc xúc phạm lãnh tụ (diễn nghĩa: đả kích Hồ Chí Minh) là một tội nặng. Và người ta đã gán ghép cho Hồ Chí Minh những đức tính mà ông không hề có. Đối với giới trí thức phản biện Hồ Chí Minh cũng là một lá bùa hộ mệnh. Đề cao ông chứng tỏ mình không phải là kẻ thù của chế độ, chỉ muốn cải tiến; phê phán những người lãnh đạo là không làm theo đúng lời dạy của Bác Hồ vừa tương đối an toàn vừa dễ lọt tai khối đảng viên cơ sở đã được nhồi sọ để tôn thờ lãnh tụ. Dần dần sự sợ hãi -sợ bị đi tù, sợ mất quyền lợi hay sợ mất lòng khối đảng viên cơ sở- được coi như một sự sáng suốt thay vì một sự nhút nhát. Một người bạn trong nước nói với tôi một cách tự nhiên: "Nói gì thì nói nhưng không nên đụng tới ông Hồ Chí Minh". Tại sao không? Thóa mạ và bôi nhọ một người đã chết thì dứt khoát là không nên rồi nhưng sự thực thì vẫn có thể nói và không những thế còn có bổn phận phải nói ra để tránh cho quần chúng khỏi là nạn nhân của những xuyên tạc bịp bợm.

Huyền thoại Hồ Chí Minh chỉ là một sự dàn dựng dối trá. Ông chỉ học tới lớp 7 rồi bỏ học sinh sống bằng những nghề lặt vặt như phụ bếp và tô ảnh. Không có bằng chứng nào là ông đã cố gắng tự học. Ông tuyệt đối không có kiến thức nào về khoa học, kỹ thuật, luật pháp, kinh tế, tài chính v.v. nói chung là những kiến thức tối cần thiết cho một người lãnh đạo. Và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách "Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học" mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu ruộng tại Trung Quốc có thể đạt được năng suất 333 (ba trăm ba mươi ba) tấn lúa mỗi năm. Ông cũng không phải là người có đạo đức. Ông bỏ rơi bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, ra lệnh giết hoặc chấp nhận để người ta giết cô Nông Thị Xuân, người phụ nữ trẻ đã có con với ông và bỏ rơi luôn đứa con để giữ hình ảnh giả dối của một người cha già dân tộc giản dị khắc khổ chỉ biết sống cho đất nước. Ông đã để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm bị giết oan về tội "địa chủ gian ác" mặc dù biết rõ bà Năm không những vô tội mà còn có công với Việt Minh.

Và ông phải chịu trách nhiệm chính về hai tội ác lớn nhất tại nước ta trong thế kỷ 20: tội tàn sát những người yêu nước không cộng sản sau Cách Mạng Tháng 8 và tội tàn sát địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất 1955. Không gì có thể biện hộ cho ông vì lúc đó ông thực sự cầm quyền và hơn nữa có toàn quyền.

Thành tích quan trọng nhất không ai chối cãi của Hồ Chí Minh là đã du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nhưng đây chỉ là một tai họa cho nước ta và tố giác sự thiếu văn hóa và tầm nhìn của Hồ Chí Minh vì lúc đó chủ nghĩa Marx đã bị bác bỏ trên chính quê hương của Marx từ 70 năm rồi (2).

Tất cả các trí thức trong nước mà tôi có dịp tiếp xúc đều biết khá rõ về Hồ Chí Minh và chẳng ai thực sự kính trọng ông. Trong chuyện trò riêng tư họ đều đánh giá ông là một người thiếu cả văn hoá và tầm nhìn lẫn đạo đức và tình cảm. Tất cả đều cho rằng về kiến thức cũng như đạo đức Hồ Chí Minh rất dưới mức trung bình. Tuy vậy trong những gì viết và nói công khai họ vẫn tỏ ra tôn kính ông. Nhiều người còn cho đó là một chiến lược khôn ngoan để đấu tranh cho dân chủ. Tôi chưa bao giờ tán thành quan điểm này. Đó chỉ là nói dối với chính mình đồng thời đóng góp lừa dối người khác và sự nói dối nào cũng đáng xấu hổ. Khối đảng viên cơ sở bị tuyên truyền nhồi sọ về thần tượng Hồ Chí Minh cần được soi sáng thay vì được củng cố trong niềm tin sai. Thảm kịch của đất nước, hàng trăm ngàn nạn nhân vô tội bị sát hại và hàng triệu nạn nhân của cuộc nội chiến buộc ta phải nói lên sự thực. Im lặng đã là có tội, hùa theo sự dối trá càng có tội hơn. Tôi không thích nói về Hồ Chí Minh vì đó là công việc của các sử gia, vả lại những sự thực về ông đã được nhiều người phơi bày. Ông đã thuộc về quá khứ và nên được để yên trong quá khứ. Tôi miễn cưỡng nói về ông vì lần này huyền thoại Hồ Chí Minh đang được sử dụng để vận động cho một đề nghị quốc hiệu mà nếu được chấp nhận sẽ là một bước lùi cho tiến trình dân chủ hóa và sẽ chia rẽ dân tộc một cách trầm trọng vào giữa lúc chúng ta đang cần hòa giải dân tộc để cùng hướng về một tương lai chung. Bình sinh ông Hồ Chí Minh đã gây nhiều đổ vỡ, không nên để ký ức ngụy tạo của ông lôi kéo đất nước vào bế tắc một lần nữa. Nhiều trí thức cũng cần nghĩ lại để đừng rơi vào cái bẫy của chính mình. Họ muốn sử dụng biểu tượng Hồ Chí Minh như một vũ khí giai đoạn để thay đổi chế độ nhưng vô tình họ cũng đóng góp củng cố chế độ vì huyền thoại Hồ Chí Minh chính là chỗ dựa còn lại của chế độ.

Trong một cái nhìn sáng suốt về tương lai Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu đúng nhất. Cộng hòa theo từ nguyên Hy Lạp res publicae của nó có nghĩa là "của toàn dân". Các nước có ảnh hưởng Hán văn dịch ra là "dân quốc" hoặc "cộng hòa". Bên hữu thích dân quốc và bên tả thích cộng hòa; hai danh từ này có cùng một nghĩa. Đài Loan là Trung Hoa Dân Quốc và Nam Cao Ly là Đại Hàn Dân Quốc trong khi Hoa Lục, Bắc Cao Ly và Việt Nam tự xưng là những nước cộng hòa. Trường hợp miền Nam Việt Nam trước đây, với quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa (cũng sai ngữ pháp như Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), là một ngoại lệ. Ngày nay danh từ "cộng hòa" đã trở thành thông dụng.

Quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam không chuyên chở một thiên kiến chính trị hay ý thức hệ nào mà chỉ có nghĩa là đất nước của mọi người Việt Nam, không loại trừ một ai. Đất nước là tài sản chung, trách nhiệm chung và tương lai chung. Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu của hòa giải dân tộc, xác nhận chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người Việt Nam. Đó chắc chắn sẽ là quốc hiệu của Việt Nam trong tương lai ngay cả nếu đảng cộng sản từ chối trong lúc này. Chế độ toàn trị sẽ cáo chung và sắp cáo chung. Việt Nam sẽ là một nước dân chủ đa nguyên với quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam. Không thể khác.

Nếu sáng suốt thì chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nên chọn quốc hiệu này ngay từ bây giờ. Họ sẽ tiết kiệm thời giờ cho một chính quyền dân chủ sau này, đồng thời để lại một di sản được gìn giữ và trân trọng, thay vì chỉ được nhớ đến cùng với những sai lầm và tội ác.

Nguyễn Gia Kiểng
(05/2013)

(1) Còn một nước có quốc hiệu gần như thế: Cộng Hoà Dân Chủ và Xã Hội Chủ Nghĩa Sri Lanka. Nhưng đây là một nước nhỏ và bị coi như một "đất nước không thành" (failed state) vì tụt hậu, nghèo đói và nội chiến.(2) Tại đại hội Gotha, tháng 5-1875, phong trào xã hội Đức (do sự thống nhất của Tổng Hội Công Nhân và Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội), xương sống của phong trào cộng sản Châu Âu lúc đó, đã bác bỏ chủ nghĩa Marx và chọn đường lối cải tổ ôn hòa. Marx và Engels đã trả đũa bằng cách viết cuốn Phản bác cương lĩnh Gotha, nhưng cuốn sách này không được hoan nghênh vì những lý luận và dự đoán của Marx đã bị thực tế chứng minh là sai.

Nguồn: danluan.org



05/03/2013 11:52 PM


linhtran
Chủ Đề :   Sự Thật _ Tactful Bear

Sự Thật

Tactful Bear

Hơn 30 năm, hôm nay bật nhớ đến anh khi chuyện trò cùng bố, “Cái anh Việt Cộng, con rể bác Th., dạo ấy nhà mình không nhờ nhưng chắc người khác dùng anh ấy nhiều lắm.” Bố cười, chậm rãi như bao giờ, “Anh Tn đấy à! Anh ấy hiền lành, thật thà và có tấm lòng tốt.”

Chiếc xe màu lá mạ, xậm hơn màu áo quần bộ đội, dừng trước cửa nhà; một người bước xuống với cái cặp đứng bằng da nhỏ màu nâu đeo quàng qua vai. Xe có tài xế. Chắc anh ta không phải là anh lính trơn. Chiếc cầu vai đầy sao và vằn vệt nhiều đường màu vàng nằm trên cái nền đỏ chót. Ngó nghênh ngáo cái số nhà một chập, bước đi nhẹ như hơi nhún nhẩy của người vác ba lô đi rừng mang dép lốp ô tô dạo ấy, vào trước thềm.

- Dạ thưa đây có phải nhà ông Ca không ạ?

Mẹ đang đứng trước cửa, chẳng hiểu việc gì, hơi lo.

- Dạ đúng, tôi là vợ ông Ca!

- Mợ! Cháu là Tn, chồng của Đ., con thứ ba của bố mẹ cháu là ông Th. và bà D.

Hai con người nhận họ hàng với nhau như thế vào những ngày đầu tháng Năm khi Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Mẹ mời anh vào nhà, làm cơm gia đình ăn chung. Tay anh cầm cái gói giấy màu vàng đất gọn lỏn trong lòng bàn tay. Anh đặt cái gói ấy lên bàn, “Cháu biếu cậu mợ ít quà!”

Gói đường cát vàng ấy chắc là phần lương thực hàng tháng của anh sĩ quan cấp cao trung của tòa báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam trực thuộc Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng.

Anh cho biết có thằng cháu vừa sinh. Bố mẹ mua cho bộ quần áo trẻ con mới làm quà. Anh hỏi thăm nhà thím Thu. và bác Kh. để đi thăm họ hàng bên vợ. Anh có ý dắt Bố sang bên phường đội nằm xéo trước cửa giới thiệu.

Bố ngại và gạt phăng

-Tôi chả làm tội tình gì, chẳng cần sang bên đấy!

- Thế mà nhất quen, nhì thân đấy Cậu ạ!

Bố cười và lảng sang chuyện khác. Người ta chưa hiểu rằng cả miền Nam đều có tội!

Vài tháng sau, anh Việt Cộng lại ghé nhà thì được biết mấy đứa con ông cậu đã đi tù tập trung trong Trại Cải Tạo. Lần này, anh nhất định chở ông cậu vợ sang bên phường đội, giới thiệu.

- Đây là ông cậu tôi! Gia đình cách mạng cả đấy!

Bố nghĩ thầm, “Chắc mình là gia đình cách mạng vì có ông anh tên là Phạm văn Đồng hiện đang ở Hà Nội tuy không làm thủ tướng thủ quân gì cả!”

Sau những đợt đổi tiền với những dã tâm của nhà cầm quyền mới, nhà tôi chỉ có vừa đủ hay hơi dư tí đỉnh. Bố mẹ biết giữ vàng làm của từ những ngày Việt Minh mới nổi lên ở miền Bắc những năm 30-40. Ngay những ngày đầu bộ đội bước vào Sài Gòn, bố đã cạo dần cái tên cửa hiệu mỗi khi trời chập tối cho hàng xóm không ai để ý đến sự lo lắng của mình. Hai chữ H.L. màu sơn đỏ trên nền gạch đá mài trắng đốm đen vẫn thấy được lờ mờ, nếu để ý kỹ. Mặt bàn đá Ý ở phòng khách, bố quay ngược mặt nhám lên trên, càng nhem nhuốc càng tốt ở thời mới. Mỗi đứa con là một chiếc xe đạp, thế là sang trọng lắm rồi, là mơ ước cả đời của lắm người dân, cán bộ mọi cấp của miền Bắc chống Mỹ cứu nước… Nga, nước… Tàu.


Khu Dakao, Saigon

Cái nhà thì không cách nào che dấu vì may mắn không có vết tích của chiến tranh. Cả cái dãy phố ấy, chỉ có nhà H.L. là nhà ba từng, lại chạy dài hai mặt đường, Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Văn Giai, trông thật lồ lộ chướng mắt giai cấp vô sản khi đi từ xa lộ quẹo vào khu Đa Kao. Thế mà thời vô sản đánh hữu sản, nhà tôi lại không bị đuổi ra khỏi nhà về vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc.

Bố cho rằng có hai cái may khi tìm cách để hiểu. Cô gái đi kiểm kê nhà cửa trước đó, theo bước thang lên từng trên, ngang qua cánh cửa vào gác lửng, không để ý nên chẳng ghi chép gì thêm cái từng làm nhà kho này. Khi bước lên sân thượng, cô định ghi thêm một từng thì Bố nói, “Trên này không phải chổ ở cô ạ, chúng tôi chỉ phơi quần áo, như cái mái nhà thôi!”

- Thế hả Bác! Mái nhà thì ghi làm gì hả Bác!

Cô gái dân Sài Gòn làm việc cho có lệ theo như nhận xét của Bố. Chắc chuyện giới thiệu của anh Việt Cộng cũng có hiệu quả, “Chúng nó chắc cũng né vì đã có lời gửi gắm!” Nếu thế thì chính anh Việt Cộng đã dùng vải thưa che mắt Đảng của anh rồi.

Hơn hai năm sau, anh Việt Cộng lại xuất hiện.

- Các em có em nào về chưa Cậu?

Ông anh thứ hai của tôi nhờ học cán sự Nông Lâm Súc thời trước được thả tù sớm, cho về chăn vịt ở nông trường Lê Minh Xuân, giết sạch 100 nghìn con vịt giống Bắc Kinh rồi phơi khô từng con. Báo Sài gòn Giải Phóng đăng hàng tít lớn “Đại thắng lợi trong việc nuôi vịt giống Bắc Kinh.” Đúng là phét như Vẹm!


Chăn vịt

Anh Việt Cộng cứ lập đi lập lại, “Thế thì phí nhân tài quá!” khi biết ông em họ của vợ đang chăn vịt. Anh ghé nông trường rồi ở đấy gần cả tuần với ông thủ trưởng đám chăn vịt. Ông anh tôi phải đi làm bên ngoài, cách trạm chính xa, mãi mấy ngày sau mới về. Khi về lại trạm thì ông thủ trưởng báo, “Anh có ông bà con ngoài Bắc vào thăm, ở đây mấy ngày đợi không được, ông ấy đi rồi.” Anh tôi ngơ ngác, thật tình vì chẳng biết dây mơ rễ má ở phía Bắc, “Tôi chả có anh em với ai ở ngoài Bắc!”

Lần xuôi Nam này, anh Việt Cộng đã thở ra với đám con ông Bác rể trong Nam, “Anh muốn mua mấy chiếc xe đạp mà không đủ tiền!” Mấy ông anh họ tôi là dân xoay sở, có đường dây ngay, “Muốn mấy xe thì anh cứ đưa mấy can xăng đây!” Thế là anh Việt Cộng bỏ giai cấp công nông dần dần tuy tính Đảng vẫn bám đầy người nông dân chất phác. Ba chiếc xe đạp được tháo tung ra từng mảnh rời, nhưng anh chỉ dám đem về Bắc hai chiếc, gửi lại một để đem về lần sau. Anh đã biết sợ khi bắt đầu có của. Bố phân tích, “Sao nó không theo cho được. Dân quê nhà nghèo chẳng có nắm cơm mà ăn. Đảng cho nắm xôi, bờm nào chả cười và sống chết theo ơn Đảng.”

Tôi trốn ra khỏi nước trước khi Đảng hoàn tất kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nghe đâu anh Việt Cộng xuôi Nam, hăm hở đem theo tờ Sự Thật có bài viết của anh về một bà mẹ trong vùng “Ngụy”, chồng mất sớm, ở vậy, nuôi ba đứa con nhỏ nên người. Đó là bài viết về bà thím ruột gần nhà. Không biết bà thím có bao giờ đọc bài viết của anh về mình trên tờ Sự Thật không bà vì đã theo chân ba đứa con chạy sang Gia Nã Đại định cư.

Đấy mới là phủ phàng ngỡ ngàng Sự Thật!

Nguồn: Tactful Bear



05/03/2013 4:13 PM


linhtran
Chủ Đề :   Dân chủ từ môi trường giáo dục gia đình _ Charlie Nguyễn

Dân chủ từ môi trường giáo dục gia đình

Charlie Nguyễn

Chúng ta đã được học từ bé truyền thống nho giáo “tiên học lễ hậu học văn.” Điều này đã trở thành nếp sống của hầu hết mọi người, nó nói lên sự tôn ti trật tự trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Chúng ta phải trân trọng những lời dậy của Thánh Hiền và các bậc tiền bối, nhưng nhiều người đã không hiểu những lời dậy này đúng theo ý nghĩa của nó. Tiên học lễ hậu học văn nói lên sự tôn trọng lẫn nhau vì lễ đi trước. Trong cách hành sử hằng ngày, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, tôn trọng lẫn nhau là điều mọi người cần phải thực hành trong mọi tình huống. Tôn trọng đòi hỏi từ cả hai phía, điều này chưa được thể hiện đúng mức ở nhiều gia đình cũng như ngoài xã hội – thường thì người lớn nói, nhỏ phải nghe; cấp trên nói, nhân viên phải nghe; chính phủ nói, dân phải nghe … và không được cãi cho dù những điều nói ra là sai, không đúng sự thật, thiếu trung thực, không có cơ sở lý luận. Vì sự tôn trọng chỉ được thể hiện ở một phía – phía của kẻ yếu, chúng ta chưa thực hiện đúng lời dậy của Thánh-Hiền. Khi sự tôn trọng không được thể hiện đúng mức, chúng ta sẽ thấy những hiện tượng “làm lớn thường hay làm láo” lan tràn trong xã hội ở mọi tầng lớp; điển hình cụ thể mới đây là TBT của đảng CS, đồng thời là GS Tiến sĩ đã phê phán nhân dân thiếu đạo đức trên TV. Đấy, lãnh đạo đất nước với học hàm Ts mà vẫn chưa hiểu những điều dậy cơ bản trong cách hành sử - không khiếm nhã; không phân biệt tuổi tác, trình độ văn hoá, chính kiến, Tôn giáo, sắc tộc, địa vị …


Trong nhiều gia đình Việt Nam, ông bố to như ông vua – bố phán điều gì con cái phải nghe theo, dù bố sai bét con cái vẫn phải câm miệng không được nói lại. Chính môi trường gia đình như thế cho chúng ta thấy vấn đề dân chủ nơi xã hội còn là ý tưởng khá xa vời. Mỗi gia đình là một thành phần của cấu trúc xã hội, nó là một xã hội thu nhỏ; do đó nếu dân chủ chưa được bắt đầu từ gia đình, chúng ta khó có thể cậy trông vào sự phát triển dân chủ nơi xã hội, đất nước.

Dân chủ được hình thành qua giáo dục không chỉ ở nhà trường nhưng quan trọng hơn là ngay từ môi trường gia đình. Theo những nghiên cứu về phát triển tâm lý, trẻ em hình thành phần lớn tư duy của chúng khi còn rất bé. Đây là khám phá đã gây nhiều ngạc nhiên, trẻ em vì chưa đủ khả năng ngôn ngữ để trình bầy suy nghĩ của chúng, nhưng không có nghĩa là chúng chưa có tư duy. Nhà tâm lý gia Carl Jung đã khẳng định rằng: “Trẻ em học hỏi qua chính cuộc sống và hành động cụ thể của người lớn chứ không phải qua lời nói của họ.” Vì thế mối quan hệ của con trẻ với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong nhà là nền tảng giáo dục, và là cơ cấu cho sự phát triển tư duy dân chủ của trẻ em. Theo nhà giáo dục Paul Wellstone thì giáo dục và dân chủ có cùng một mục đích, đó là kiến tạo nên những con người toàn diện; do đó chúng ta không thể tách rời giáo dục với dân chủ. Chúng ta cần hiểu thế nào về dân chủ trong môi trường giáo dục gia đình?

Khalil Gibran, một thi sĩ và đồng thời cũng là nhà văn nhiều tên tuổi của Thế giới. Ông sanh ra ở Lebanon nhưng được ăn học và lớn lên ở Mỹ, thấm nhuần giáo dục của cả hai nền văn hóa Ả-Rập và Âu-Mỹ. Ông chết ở tuổi còn trẻ - 48, nhưng đã để lại một kho tàng sáng tác lớn cho nhân loại. Trong tác phẩm nhà Tiên Tri (The Prophet), có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, có đoạn nói về con trẻ (xin phỏng dịch):

Và người đàn bà ôm đứa con nhỏ trong lòng hỏi, “Này Tiên Tri hãy nói cho chúng tôi về con trẻ.” Và Tiên Tri trả lời:

Con cái của bà không phải là của bà

Chúng là con trai con gái của Đời (Tạo Hoá) đã sắp đặt.

Chúng đến thế gian này qua bà nhưng không phải từ bà,

Và mặc dù chúng ở với bà, thế nhưng chúng không thuộc về bà.

Bà có thể cho chúng tình yêu, nhưng bà không thể cho chúng suy tư của bà.

Vì chúng có suy nghĩ của riêng chúng.

Bà che chở thân xác chúng, nhưng bà không thể chở che tâm hồn chúng,

Vì tâm hồn chúng ngự ở tương lai, nơi bà sẽ không thể đến, ngay cả trong giấc mơ của bà.

Bà có thể cố gắng để giống như chúng, nhưng đừng mong chúng sẽ giống như bà.

Vì cuộc đời không bao giờ chảy ngược, và ngày hôm qua không bao giờ trở lại.

Bà là cánh cung, cho con trẻ như những mũi tên sống bay về phía trước.

Đấng Tạo Hoá nhìn xa muôn dặm, và Ngài dương cung với sức mạnh thần kỳ, cho mũi tên bay lẹ bay xa.

Hãy đặt niềm tin phó thác nơi Tạo Hoá;

Ngài yêu mũi tên bay xa thế nào thì Ngài cũng yêu cánh cung vững chãi như thế.


Qua bài thơ này, Gibran đã chia sẻ với chúng ta cái nhìn rất dân chủ của ông về môi trường gia đình, và chúng ta phải nhận rằng đây là sự thật xé lòng. Càng ngẫm nghĩ chúng ta càng cảm nhận sự thâm thuý của ông – cả một triết lý giáo dục gia đình được trình bày ngắn gọn trong một bài thơ như thế. Triết lý giáo dục này là tinh hoa mà ông đã lãnh hội và khai triển từ hai nền văn hoá rất khác nhau - Ả-Rập và Âu-Mỹ.

Vấn nạn của nhiều gia đình ở mọi nơi là do thiếu sự tôn trọng hài hoà trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Cha mẹ thường vấp phải lầm lỗi là đã không nhìn nhận con cái của mình như những con người độc lập. Hầu hết cha mẹ luôn nghĩ con mình thuộc về mình – chúng phải nghe lời mình; chúng phải kết hôn với người mình chọn; chúng phải học chuyên ngành mình muốn … Chúng ta muốn con cái làm điều ta muốn. Chúng ta quên rằng mỗi con người là một nhân vật sống động không thuộc về ai cả, nhưng thuộc về Đời – Đấng Tạo Hoá. Triết lý sống trong bài thơ này bộc lộ một tình yêu thương trưởng thành – can đảm chấp nhận con mình không thuộc về mình. Chỉ có tình yêu thương trưởng thành như thế chúng ta mới có thể tạo nên môi trường sống tự do và dân chủ trong gia đình.

Nếu chúng ta coi con cái như là của riêng của mình và mình lành chủ, chúng ta vô tình biến con cái thành vật sở hữu, như thế có khác gì nhà nước CS đang coi người dân? Đảng CS đã và đang coi người dân như những vật sở hữu mà họ làm chủ, chính vì thế họ mới có những lời tuyên bố rất ngạo mạn như ”sự lãnh đạo của đảng là tất yếu lịch sử.” Trong thực tế, ai cho đảng lãnh đạo nếu không phải nhân dân? Đảng từ đâu ra nếu không phải từ nhân dân, chẳng lẽ ở trên trời rớt xuống? Đảng không đối sử với nhân dân như những con người độc lập với quyền sống dân chủ căn bản. Đảng coi dân như những cỗ máy kinh tế theo lời dạy của chủ thuyết duy vật. Ngược hẳn với Marx, người đã kết luận Tôn giáo là thuốc phiện; Alexis de Tocqueville, nhà tư tưởng chính trị đã nhận định rằng: “Tự do đích thực sẽ không thể có nếu xã hội vắng bóng luân lý, và luân lý sẽ không thể có nếu con người không có niềm tin nơi Tạo Hoá.” Chính vì thế khi một thể chế loại trừ Đấng Tạo Hoá ra khỏi đời sống của nhân dân, chính thể đó cũng tước bỏ luôn quyền sống tự do dân chủ của nhân dân. Đây là sự thật của xã hội Việt Nam từ nhiều thập niên qua.

Thiếu vắng nền giáo dục theo phương pháp dân chủ ở môi trường gia đình, chúng ta vô tình tiếp tay với đảng CSVN tạo dựng những thế hệ ù-lì chỉ biết ngậm miệng vâng lời. Đó là mô hình đảng CSVN mong muốn – toàn dân 90 triệu con người câm lặng vâng lời cho dù đảng làm những việc sai trái. Giáo dục dân chủ là điều cần thiết cho sự phát triển xã hội lành mạnh, nó là nền tảng sáng tạo đưa đất nước tiến lên về lâu về dài. Để đem dân chủ đến xã hội, chúng ta cần đem dân chủ đến môi trường gia đình trước đã. Chúng ta có trách nhiệm dậy dỗ và hướng dẫn con cái về dân chủ, không chỉ qua lời nói nhưng bằng sự thể hiện dân chủ trong phương cách sống và những việc làm cụ thể trong cuộc sống hằng ngày.

© Charlie Nguyễn

Nguồn: danluan.org



05/02/2013 9:08 AM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn Xuân Nghĩa _ Cầu viện để đánh giặc

Cầu viện để đánh giặc

Nguyễn Xuân Nghĩa

Việt Nam Cộng Hòa còn thất thủ vì... lý do kinh tế

Hàng năm cứ đến Tháng Tư người Việt chúng ta lại nhớ đến biến cố 1975 với bao ngậm ngùi và nhiều câu hỏi về cái lẽ bại trận. Có một thắc mắc ít được nhắc tới là vì sao được Hoa Kỳ viện trợ dồi dào như vậy mà Việt Nam Cộng Hòa vẫn không thành công? Bài này xin nêu ra một trong nhiều lý lẽ: chính là vì viện trợ mà không thể thành công!

Một cái nhìn khác về kinh tế cũng là chính trị.

Về bối cảnh, trong 30 năm can thiệp vào Việt Nam, từ 1943 đến 1973, sáu đời tổng thống Mỹ đã chẳng hiểu gì về Việt Nam, từ văn hóa đến lịch sử, mà lại có mục tiêu dời đổi thất thường. Nào là tìm đồng minh chống Nhật thời Thế Chiến II, rồi hỗ trợ phong trào “giải thực” nên mặc nhiên chống Pháp tại Ðông Dương, qua đến be bờ chặn làn sóng đỏ thời Chiến tranh lạnh, rồi xây dựng dân chủ để phát huy giá trị tinh thần của “Thế giới Tự do”, trong khi vẫn dùng lá bài Việt Nam tác động vào quan hệ với Liên Bang Xô Viết, với Trung Quốc, v.v...

Mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tiễn khiến Hoa Kỳ là đế quốc có lúc ngây thơ mà đôi khi lật lọng khó tin. Ra vào hùng hổ như con voi trắng trong cửa hàng đồ sứ.

Với tinh thần đó, Hoa Kỳ lao vào cuộc chiến toàn diện, gồm các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, ngoại giao, thông tin, văn hóa, qua nhiều hình thái như phá hoại, khủng bố, khuynh đảo, du kích chiến rồi trận địa chiến ở cấp sư đoàn trở lên. Và thực hiện việc đó dưới sự phán xét khắt khe của một hệ thống truyền thông có đầy tự do mà thiếu hiểu biết. Ngày nay, sự nông cạn đó vẫn làm nhiều người hiểu sai về cuộc chiến và tiếp tục nhục mạ miền Nam.

Trong khi ấy, bộ máy kinh tế lại vận hành theo quy luật khác.

Quốc Hội có thẩm quyền về công chi thu thì đòi các khoản chi ngân sách phải ưu tiên phục vụ quyền lợi Hoa Kỳ. Một đồng viện trợ Mỹ phải đem lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Mỹ - tính ra thành hệ số nhân - và cho các địa phương đã bầu lên người biểu quyết về ngân sách. Nhiều khi các đại diện dân cử đầy ảnh hưởng này lại chẳng biết gì về Á Châu, Ðông Nam Á, Việt Nam hay cộng sản. Những ông nài mù cưỡi con voi trắng.

Vì vậy, Hoa Kỳ bị tổn thất về nhân mạng, kinh tế và tinh thần mà vẫn lãnh vết nhơ lịch sử là bại trận. Phần thiệt hại của người Việt Nam chỉ là một cước chú nhỏ trong tâm tư dân Mỹ. Ðó là về bối cảnh.

Về kinh tế, Hoa Kỳ có hai mạch viện trợ song hành cho Việt Nam.

Một là chương trình CIP, một sao bản thời chiến của kế hoạch Marshall do Hoa Kỳ viện trợ cho Âu Châu tái thiết trong thời bình sau Thế Chiến II. Chương trình CIP được áp dụng từ 1955 đến 1975, trừ mấy tháng gián đoạn khi cậu ấm Kennedy gây áp lực với chính quyền Ngô Ðình Diệm. Chương trình kia là PL 480, được mệnh danh là “Nông phẩm Phụng sự Hòa bình” theo lối gọi mỹ miều từ chính quyền Kennedy.

CIP hay Commercial Import Program hay Commodity Import Program, là “Chương trình Nhập cảng Thương phẩm.” Vắn tắt thì Mỹ viện trợ cho ngân sách quốc gia Việt Nam một số ngoại tệ do Quốc Hội phê chuẩn hàng năm để chính phủ Việt Nam bán lại cho doanh gia với hối suất ưu đãi và lãi suất thấp hầu nhập cảng một số hàng Mỹ.

Doanh nghiệp xuất cảng hàng hóa Mỹ thì nhận đủ số đô la y như bán cho các thị trường tự do khác, còn doanh nghiệp Việt Nam thì tốn ít tiền hơn mà vẫn nhập được một lượng hàng cần thiết cho thị trường tiêu thụ nội địa. Tiền Việt Nam mà chính phủ Sài Gòn thu được từ doanh gia Việt Nam được đưa vào một quỹ đối giá để tài trợ ngân sách quốc gia, trong đó có cả quốc phòng, cảnh sát hay lương công chức.

Chế độ viện trợ này có nghĩa là dân ta càng tiêu thụ nhiều thì ngân sách quốc gia càng thêm tiền đánh giặc! Khi tóm lược như vậy, ta thấy ngay mâu thuẫn xương tủy giữa bài toán chiến tranh toàn diện với giải pháp đối phó về kinh tế, hối đoái và ngân sách! Hoa Kỳ tất nhiên bại trận với một chế độ viện trợ phi lý như vậy.

Khi Mỹ giảm viện trợ thì hậu phương miền Nam hết xài đồ nhập cảng do doanh nghiệp Mỹ cung cấp và ngân sách hết lương cho lính. Trong khi ấy, đầu tư vẫn bị cản trở so với tiêu thụ và càng bị cản trở vì hình thái chiến tranh phá hoại.

Tháng Tám năm 1971, khi chính quyền Nixon đơn phương thả nổi đồng bạc và hủy bỏ hệ thống tài chánh Bretton Woods thì đấy là tín hiệu nguy ngập mà chúng ta chưa nhìn ra. Qua năm sau, cuộc khủng hoảng dầu hỏa vì tình hình Trung Ðông là tín hiệu khác mà ít ai thấy. Hậu phương chỉ than vãn về lạm phát hay xăng dầu lên giá mà chưa hiểu rằng miền Nam đang bị bức tử - xiết bao tử.

Kỳ diệu nhất là chương trình CIP chứng minh lý luận tuyên truyền của phe Cộng sản. Rằng Mỹ gây chiến chỉ để doanh nghiệp hay tài phiệt Mỹ bán hàng!

Chương trình kia, PL 480 hay Nông phẩm Phụng sự Hòa bình, có nghĩa là Việt Nam nhận được một số nông sản Mỹ để bán lại cho dân và lấy tiền tài trợ ngân sách. Ðây là một phi lý khác.

Lý tưởng ban đầu của PL480 từ chính quyền Eisenhower vào năm 1954 là cứu đói các nước nghèo. Nhưng Quốc Hội Mỹ chuyển dần qua mục tiêu chính trị là giúp nông gia Mỹ có thị trường còn Hành pháp thì viện dẫn mục tiêu chiến lược là dùng viện trợ nông sản để kết nạp đồng minh.

Thế rồi, quan niệm về đồng minh có thể dời đổi từng thời, thậm chí từng mùa bầu cử, trong khi quốc gia thọ nhận viện trợ do Bộ Canh Nông và cơ quan USAID quản lý, tùy chương trình, thì xây dựng toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế trên chế độ viện trợ đó. Rồi bị ràng buộc mà thu hẹp khả năng xoay trở, cho tới khi bị bó tay.

Vì mục đích nâng đỡ nông gia Mỹ, Chương trình PL480 còn có quy định thắt họng: quốc gia cầu viện không được dùng nông sản viện trợ làm nguyên nhiên vật liệu chế biến ra mặt hàng khả dĩ cạnh tranh với hàng Mỹ. Bông vải hay sữa bột của Mỹ không thể làm áo quần hay thực phẩm bán trên các thị trường có loại sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ.

Ngoài hoàn cảnh ngặt nghèo do chiến cuộc gây ra, ngoại viện Mỹ khó giúp quốc gia cầu viện đầu tư theo hướng tích cực là phát triển ngoại thương để có độc lập về kinh tế. Nên chỉ còn chánh sách tiêu cực - mà ăn khách thời đó - là “thay thế nhập cảng.”

Hai quốc gia giàu kinh nghiệm về viện trợ Mỹ là Ðài Loan và Nam Hàn đã đặt ra quốc sách là phải chấm dứt sự lệ thuộc vào viện trợ càng sớm càng hay. Họ thắt lưng buộc bụng để tự túc tự cường rồi trở thành rồng cọp kinh tế. Miền Nam thì không, vì nhiều người tin rằng “Mỹ không thể bỏ Việt Nam.” Có muốn xoay ra thì đã có miền Bắc kéo vào bằng pháo kích như mưa, nhờ nguồn viện trợ của Liên Xô và sự chỉ đạo của Trung Quốc!

Mà hình như là bi hài kịch đó vẫn chưa dứt, với những “món nợ đáng tởm” mà Hà Nội phải trả cho Bắc Kinh... Thế hệ ngày nay nên suy ngẫm lại.

Và cử tri người Mỹ gốc Việt nên tận dụng sự hiểu biết lẫn lá phiếu để không tái diễn thảm kịch này cho xứ khác - và cho Việt Nam khi lãnh đạo Mỹ lại đòi “chuyển trục” tại Ðông Á. Một thí dụ cụ thể là nhìn vào đạo luật Nông Sản, Farm Bill. Thê thảm..

Nguồn: nguoi-viet.com



05/01/2013 10:14 PM


linhtran
Chủ Đề :   Việt Nam: Trận chiến giành sự thật lịch sử _ Richard Botkin

Việt Nam: Trận chiến giành sự thật lịch sử

Richard Botkin – DCVOnline lược dịch

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 38, xác định lại sự thật về cuộc chiến Việt Nam.

Ba mươi tám năm trước đây, hôm nay, cuộc chiến tranh Việt Nam, đối với người Mỹ, đã chính thức kết thúc trong ô nhục và không vẻ vang. Đối với hàng triệu người Việt Nam yêu chuộng tự do bị bỏ lại, kết thúc của “chiến tranh chống Mỹ” đơn giản là sự bắt đầu của một chuỗi thời gian dài gần như vô tận, đầy tăm tối, và đau khổ.


Tank của CSVN tiến vào Dinh Độc Lập, 30-04-1975. Ảnh AP.

Những người trong chúng ta đủ tuổi để biết đến ngày 30 tháng Tư năm 1975, sẽ mãi mãi nhớ những bản tin cuối cùng từ Sài Gòn bị át đi vì đoàn quân bộ binh và thiết giáp của Cộng sản Bắc Việt, với hình ảnh của đám đông vô vọng, cố gắng len chân vào các chuyến tản cư của Mỹ, hình ảnh của tàu hải quân Mỹ ngoài khơi đầy người tị nạn, và trên sàn tàu tràn ngập máy bay trực thăng đang được đẩy xuống biển sâu – hình ảnh nhũng chiếc trực thăng chìm dần trong biển cả được so sánh với sự phí lạm lớn lao máu xương và của cải của người Mỹ. Và kể từ buổi hoàng hôn hôm đó những vết thương chiến tranh Việt Nam đã không bao giờ hoàn toàn lành lặn hay đã được ghi lại trong tiềm thức bằng những quan điểm thích đáng.

Đánh giá tình hình, nhiều năm sau đó, là một chính khách đã nghỉ hưu từ lâu và một phần đã được phục hồi danh dự, Richard Nixon, người sẽ cho chúng ta một nhận định chỉ có hai dòng, có thể xem đây là một nhận xét có ý nghĩa nhất, về kinh nghiệm của chúng ta tại Việt Nam khi ông nói:

“Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ bị hiểu lầm hơn so với chiến tranh Việt Nam. Nó đã được đưa tin sai lạc lúc đó, và giờ đây nó lại được biết đến một cách sai lầm.”

Chúng ta đang mất nhanh dần đi thế hệ của những người đã chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam. Họ lần lượt qua đời – và trong nhóm này cũng phải kể đến hàng triệu người Việt Nam tị nạn cộng sản đến sống trên đất nước này – những nhân chứng lịch sử ngôi thứ nhất, và khả năng nói lên sự thật, để thảo luận về những thiếu sót nghiêm trọng về lịch sử hoặc bác bỏ vô số những huyền thoại, một nửa sự thật và những lừa dối trắng trợn về cuộc chiến tranh đang tràn lan khắp nơi và phần lớn không gặp một thách đố nào và hiện đang được xem như là những sự thực. Lịch sử loại đó đã được viết bởi những tác giả, những người chống lại sự tham gia của Mỹ trong chiến tranh, nhiều người đó đã ngồi trong tháp ngà ở đại học, trốn quân dịch – là những người hiện nay đang giữ vai trò kiểm soát các ngành lịch sử ở các trường đại học trên toàn quốc và cũng là những người có ảnh hưởng lớn với các phương tiện truyền thông .

Ít người có thể tranh cãi rằng thế hệ của những người đem lại chiến thắng của Mỹ trong Thế chiến II – đã được mô tả là thế hệ vĩ đại nhất – đã làm được một việc tuyệt vời. Tuy nhiên, điều khó hiểu được là “Thế hệ Việt Nam” đã không được định nghĩa bởi những chiến sĩ đã lặng lẽ và vinh dự đứng lên đáp lời sông núi, nhưng lại do những người đàn ông và đàn bà đã tham gia tích cực trong phong trào phản chiến và, trong khá nhiều trường hợp, thực sự họ là cái loa cho kẻ thù của chúng ta mà không phải chịu một hậu quả nào.

Và lịch sử đã nói nói hay biết gì về những đồng minh Việt Nam của chúng ta? Là người Mỹ, chúng ta có thể đến Washington, DC, để đọc và chạm tay vào tên của mỗi người trong số 58.187 chiến binh và tám phụ nữ đã hy sinh tại Việt Nam. Trong khi các con số có thể không chính xác lắm, bạn đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta đã hy sinh ít nhất gấp năm lần số tử vong của Mỹ, và Việt Nam khi đó là quốc gia chỉ có một phần mười dân số so với Hoa Kỳ. Hàng chục ngàn người khác – đa số là sĩ quan quân đội trước đây – đã không thoát nổi những gì cộng sản mỹ từ hóa gọi là “Trại Cải tạo”. Những con số này không kể hàng trăm ngàn thường dân vô tội đã chết cũng như hàng triệu người ly tán không nhà cửa, hầu hết họ bị đầy đoạ dưới bàn tay hung bạo của cộng sản. (Thí dụ tồi tệ nhất là những cuộc pháo kích vào thường dân ở tỉnh Quảng Trị trong cuộc tấn công Mùa Hè đỏ lửa năm 1972 và sau đó một lần nữa trên một phạm vi quy mô, và lớn hơn nhiều trong cuộc tấn công cuối cùng vào mùa Xuân năm 1975 tại nhiều nơi trên khắp Việt Nam.) Thêm vào đó, có khoảng 250.000 người đã thiệt mạng trên đường vượt biển chạy trốn thiên đường cộng sản sau năm 1975. Và những con số này chỉ riêng cho dân quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH). Không kể đến hàng triệu người đã bị Khmer Đỏ sát hại dã man tại Campuchia, hoặc hàng trăm ngàn người thiểu số vùng cao nguyên của Lào và Thái Lan. Đám quần chúng vô danh đó không được kể đến cùng những hy sinh to lớn của họ hầu hết đã, một cách thuận lợi, bị gạt ra ngoài các trang lịch sử.

Chắc chắn là điều vô ích để hâm lại câu hỏi “Nếu …?” trong lịch sử – Nhưng điều quan trọng là mọi người cần hiểu rằng đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta đã cận kề với chiến thắng, hoặc ít nhất là cũng giữ được chân kẻ xâm lược miền Bắc, sau khi cuộc rút quân của Mỹ đã hoàn tất. Nhiều người Mỹ hẳn còn nhớ cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 khi đó lực lượng đồng minh đã gây ra thương vong đáng kể cho lực lượng của Hồ Chí Minh. Trong khi Tết Mậu Thân 68 là một chiến thắng chiến thuật cho khối đồng minh thì cộng sản đã thành công trong việc phá vỡ ý chí chính trị của người Mỹ để tiếp tục chiến tranh mở ngỏ. Điều này đã dẫn đến chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh và sau cùng là cuộc rút lui của Mỹ.


Phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Ảng OntheNet.

Trong khi chính khách, tướng lĩnh và quân nhân Việt Nam, trong suốt cuộc chiến và sau đó, hầu như đều được miêu tả là những con hạm tham nhũng, vô hiệu và không muốn chiến đấu, là một điều kỳ lạ đã xảy ra trên đường Việt Nam hóa chiến tranh. (Nếu ai đã từng đặt vấn đề về ý chí chiến đấu của đồng minh Việt của chúng ta thì con số thương vong của họ đã nói lên tất cả những gì cần để nói về chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh.) Những điểm này đã được ghi nhận sâu rộng trong giới lãnh đạo quân sự của Mỹ, từ Tướng Creighton Abrams (Abrams là sĩ quan cao cấp của Mỹ – MACV – trong Việt Nam 1968–72) xuống cấp cố vấn cơ sở rằng khả năng quân sự của Việt Nam Cộng Hòa cải thiện rõ rệt trong quá trình rút quân của Mỹ. Không có ai thấy sự cải thiện đó rõ ràng và lo ngại hơn là những người vẽ kế hoạch chiến tranh tại Hà Nội.

Thử thách lớn nhất của chương trình Việt Nam hóa là cuộc tổng tấn công Mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Với số quân ít nhất nhiều gấp hai lần số quân chính quy đã có trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, cùng một số lượng lớn xe bọc sắt, pháo binh và súng phòng không mới nhất do Xô Viết viện trợ, cuộc tấn công ba mũi nhọn nhằm đánh ngón đòn trực tiếp cuối cùng. Cuộc tấn công thất bại. Lực lượng Việt Nam Cộng Hòa, sau khi lãnh những cú sốc ban đầu, phản công mạnh. Trong các mặt trận đẫm máu kẻ xâm lược bị đánh dội trở lại. Ngoại trừ phần phía bắc lãnh thổ VNCH, gần vùng phi quân sự, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại tất cả các phần lãnh thổ bị chiếm đóng trước đó.

Giữa cuộc tấn công Mùa Hè đỏ lửa năm 1972 đến cuối năm 1973, rất nhiều trận chiến đã diễn ra giữa hai phe quốc cộng. Hiệp định Paris, bảo đảm cho Mỹ sẽ được đón tù binh chiến tranh, và một ngõ thoát “danh dự”, là một trò hề. Mặc dù sự xảo trá của cộng sản và họ vi phạm hiệp ước từ ngày đầu, triển vọng cho Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn khá tốt. Vào cuối năm 1973, chiến thắng của phe cộng sản không phải là một việc đã rồi. Những cố vấn Mỹ, trong số những người cuối cùng rời khỏi Việt Nam, phần lớn đều tin tưởng rằng Việt Nam Cộng Hòa có thể một mình đứng vững miễn là họ được viện trợ đầy đủ.

Buồn thay, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng bị thua không phải trên chiến trường nhưng tại phòng họp của Quốc hội Mỹ. Vào giữa năm 1973 Quốc hội thông qua luật hạn chế khả năng Tổng thống của Nixon để đối phó với hành vi vi phạm hiệp ước của phe cộng sản và có thể tôn trọng các cam kết cá nhân của ông như đã hứa với Tổng Thống Thiệu. Ngoài ra, viện trợ quân sự và tài chính năm 1974, trực tiếp cho đồng minh của chúng ta đã bị cắt giảm 32 phần trăm so với mức của năm 1973, và, cũng thế, bị cắt một lần nữa cho năm tài chính 1975. Sức mua tương đương thực tế (cần nhớ lại các lệnh cấm vận dầu Ả Rập và lạm phát do giá nhiên liệu tăng cao trong năm 1973 và 1974), làm việc cắt giảm trở nên khắc nghiệt hơn. Phía cộng sản Bắc Việt không có những hạn chế đó vì Liên Xô và Trung Quốc thực sự đã tăng gấp đôi viện trợ CSVN trong cùng giai đoạn. Vào cuối năm 1974 và đầu năm 1975, các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã ra chiến trường với những hạn chế về hậu cần khiến họ chắc chắn sẽ gặp thất bại. Trong khi chúng ta không thể nói chắc chắn rằng nếu họ đã được tiếp vận đầy đủ họ sẽ thắng hoặc ít nhất là tăng nâng cao giá của chiến thắng vượt quá khả năng chi trả của Hà Nội, chúng ta biết chắc chắn rằng bằng cách cắt đứt viện trợ cho miền Nam Việt Nam, chúng ta đã đảm bảo sự sụp đổ của VNCH.

Rất ít người ngoài cộng đồng người Mỹ gốc Việt quan tâm nhớ lại hoàn cảnh đuua đến sự bại trận là một điều chắc chắn. Có lẽ đó là câu chuyện quan trọng nhất chưa bao giờ được thực sự kể lại về sự kết thúc của cuộc chiến Việt Nam.

Kết thúc của chiến tranh … cuộc chiến giành lại sự thật lịch sử

Chúng ta đang mất đi những chiến binh thuộc “Thế hệ Việt Nam” tại một mấu chốt đáng lo ngại, và cách người Mỹ sẽ nhớ về cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn bất định. Khi họ “ra đi” thì người ta cũng mất những cơ hội để nói thật, nói thẳng về sự ngăn cản chủ nghĩa cộng sản và việc chống đỡ các quân cờ domino ở châu Á. Sự quyết tâm chung của Mỹ và Nam Việt Nam đã mua được đoạn thời gian quan trọng cho phần còn lại của Châu Á đang phát triển, và có thể ở những nơi khác, để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường tự do. Và đây không chỉ là quan điểm riêng của Mỹ, nhưng còn là nhận xét từ những người như Lý Quang Diệu ở Singapore, khó có thể nói là một tay sai của Mỹ. Những hạt giống của nỗ lực đó, nằm yên vào cuối tháng Tư năm 1975, đã đưa đến một vụ mùa bội thu tự do và thịnh vượng, gần 40 năm sau đó.

Ở Việt Nam hôm nay, dù vẫn là một quốc gia cộng sản, đi dạo xung quanh trung tâm thành phố Sài Gòn người ta dễ dàng tìm thấy hình ảnh tiệm thịt gà chiên Kentucky hơn là thấy băng rôn Hồ Chí Minh hô hào công nhân đi làm cách mạng. Chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do đang rõ ràng tiến lên cao. Đó chính là bằng chứng cho thấy những nỗ lực của chúng ta để đưng về bên phải của lịch sử.

Cuộc chiến giành lấy con tim và trí tuệ vẫn chưa kết thúc. Đã quá lâu, sự mô tả những nỗ lực của chúng ta để ngăn chặn làn sóng đỏ là viển vông, đơn giản, lỗi thời. Những chiến binh Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam đã bị gạt ra ngoài lề xã hội, xem như kẻ bị lừa, bị trì độn, và là những nạn nhân, chứ không phải là những người danh dự, hào hùng và thắng trận. Chân dung của người đồng minh Nam Việt của chúng ta đã, đang và phần lớn vẫn hoàn toàn bị làm cho sai lạc đi, bị ghi chép không đúng cách trong vô số sách vở và phim ảnh – nghệ thuật và tiểu thuyết được trình bày như thực tế qua các cuốn phim thái quá như “Deer Hunter”, “Apocalypse Now”, “Platoon” và ngay cả “Rambo”. Hiển nhiên, những người chiến sĩ Hoa Kỳ đáp lời sông núi và đồng minh Nam Việt kiên quyết của chúng ta phải có một vị trí xứng đáng và tốt hơn trong lịch sử.


Đồng minh: Harry” Tran Ngoc Hue và Australian WO2 Barry Long. Ảnh: axishistory.com.

Richard Botkin là tác giả của “Cưỡi Sấm: Câu chuyện chiến tranh Việt Nam – Danh dự và Chiến thắng”, mà hiện nay đang được thực hiện thành một phim tài liệu dài đầy đủ. Mục đích của dự án này là để thay đổi cách thế giới nhớ lại cuộc chiến Việt Nam, đơn giản bằng cách nói lên sự thật.

Nguồn: dcvonline.com



05/01/2013 6:26 PM


linhtran
Chủ Đề :   Ngô Nhân Dụng _ 30 Tháng Tư, lo trước về tương lai

30 Tháng Tư, lo trước về tương lai

Ngô Nhân Dụng

Chúng ta không thể tránh được, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm lại chợt nhớ về quá khứ. Niềm tưởng nhớ thường có trong một ngày giỗ. Mà đúng hôm nay là một ngày giỗ. Ngoài những vị tướng chỉ huy tử tiết, như Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, còn biết bao nhiêu các binh sĩ, sĩ quan khác cũng đã chết để bày tỏ khí tiết trong cùng một ngày. Có vị sĩ quan cảnh sát chọn công viên Lam Sơn làm nơi thể hiện lời nguyền chết vinh hơn sống nhục. Nhiều vị sĩ quan, công chức, đã về nhà, cùng chết với gia đình. Chúng ta hướng về tất cả những anh hùng liệt sĩ đó trong ngày giỗ tập thể hôm nay.

Và nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa. Trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có nhiều nhóm quân nhân (Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, vân vân) đã quyết định cùng chết với nhau. Họ đứng khoác vai nhau, tự sát bằng những trái lựu đạn. Họ đã lựa chọn cùng nhau thể hiện tình “đồng sinh đồng tử, huynh đệ chi binh” một lần cuối cùng, trước khi tan hàng vĩnh viễn.

Chúng ta biết những chiến binh này có thể lựa chọn cách khác. Họ có thể chiếm cứ bất cứ ngôi nhà nào bên đường, lấy đó làm nơi tử thủ. Họ có thể bắn cho hết những viên đạn cuối cùng trước khi bị bên địch hạ sát. Giống như những người lính Nhật sau cùng trong trận Iwo Jima, lấy mạng đổi mạng. Nhưng vào giây phút tuyệt vọng nhất của đời mình, những người chiến binh này vẫn chứng tỏ họ vẫn sống nền đạo lý ngàn năm của dân tộc. Họ không muốn lôi kéo thêm những người lính khác phải chết với mình. Dù vừa mấy giờ phút trước đó, nhìn chỉ thấy đó là quân địch. Vì một tấm lòng từ bi vẫn chảy trong dòng máu Việt, các chiến sĩ này đã thấy: Cha mẹ, vợ con những người lính vô danh bên kia chắc cũng đang ngóng chờ ngày họ sống sót trở về. Nhớ lại những hành động tự sát tập thể trong giây phút tuyệt vọng đó, chúng ta chợt hiểu lời nguyện mà cha ông đã để lại: “Ðem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo). Chúng ta đều có thể hãnh diện về hành động tự sát của những người lính Việt Nam Cộng Hòa này.

Các thế hệ sau phải làm gì để những người đã chết đều không ai chết uổng? Những con người tuẫn tiết đó đều chết trong khi chiến đấu bảo vệ quyền sống trong tự do dân chủ của người Việt ở miền Nam. Từ năm 1975 đến nay mấy thế hệ vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu thiết lập một chế độ dân chủ tự do trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến nhiều bạn trẻ còn non nớt hay sinh sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, ở trong Nam hay ngoài Bắc, đang dấn thân trên con đường đó. Họ xứng đáng là những người nối dõi khí tiết hào hùng của các tiền nhân. Những người như Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ðắc Kiên, Huỳnh Thục Vi, Trịnh Kim Tiến, Việt Khang, vân vân, bị đánh đập, tù đày, gia đình bị dọa nạt, đàn áp, có bà mẹ đã tự thiêu chết; chỉ vì họ đòi phải cho dân tộc Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Các bạn trẻ này đã thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc; và cũng theo đuổi chí nguyện của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, và những những tử sĩ hy sinh ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Trong ngày 30 Tháng Tư nhìn lại 38 năm qua, chúng ta vui mừng vì cuộc vận động tranh đấu cho dân chủ tự do ở nước ta hiện ngày càng tiến mạnh hơn và nhanh hơn. Ðảng Cộng Sản đang trên đà tan rã, không thể nào tránh được. Giáo Sư Ðào Văn Dương, một người đã hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, thường nói với các học sinh cũ đến thăm cụ: “Các anh chị sẽ thấy, chế độ Cộng Sản sẽ chết trước mình.” Viễn ảnh đó không còn xa xôi nữa. Chế độ Cộng Sản đang trong giờ hấp hối. Cái chết này thực sự bắt đầu từ năm 1975. Ðó là thời điểm những mà những thủ đoạn lừa gạt tinh vi nhất của đảng Cộng Sản bắt đầu bị lộ diện; và càng ngày càng đưa họ xuống dốc.

Từ năm 1945, đảng Cộng Sản đã núp dưới chiêu bài dân tộc để lôi cuốn nhân dân. Họ núp dưới danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước” để đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết. Trong khi mục tiêu chính của họ là bành trướng một chủ nghĩa, một chế độ chính trị. Công cuộc bành trướng đó do Nga Xô và Trung Cộng lãnh đạo; còn nuôi tham vọng sau khi chiếm được toàn thể Việt Nam rồi sẽ nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á rồi lan khắp Châu Á và thế giới. Ðảng Cộng Sản đưa dân tộc Việt Nam ra hứng bom đạn trong cuộc tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng Sản. Họ có vẻ hãnh diện về vai trò tiên phong này. Lê Duẩn nói: Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc. Năm 1976 Phạm Văn Ðồng tới một hội nghị các nước Á Phi còn dậy chính phủ các nước khác rằng họ chưa thực sự độc lập, chưa thoát khỏi chế độ thực dân. Ông nói: “Chỉ khi nào theo chủ nghĩa xã hội thì mới thực sự độc lập,” khiến các người tham dự rùng mình.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể dùng chiêu bài yêu nước như trước nữa. Không thể dùng khẩu hiệu “chống Mỹ” để biện minh cho các chính sách độc đoán và sai lầm làm dân ngày càng nghèo đói. Ðảng Cộng Sản để lộ bộ mặt thật của họ, là một guồng máy chuyên chế, tham nhũng và bất lực trước các vấn đề hiện đại hóa đất nước. Người dân Việt cũng có dịp so sánh hai chế độ ở miền Nam và Bắc, trước năm 1975. Nhiều nhà trí thức miền Bắc nhìn thấy những dấu vết của một xã hội tự do ở miền Nam, mặc dù chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn dễ thở hơn ở miền Bắc. Một cậu bé năm đó 13 tuổi ở Thanh Hóa, sau cũng nhận ra khi nói “Giải phóng” thì phải thấy chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc! Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Thiệu bảo: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói...” Sau năm 1975 người đầu tiên nhìn ra lời đó đúng, là ông Trương Như Tảng, một Việt Cộng thứ thiệt. Thấy rồi, ông ta cũng tìm đường vượt biên. Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản ở Âu Châu càng giúp người Việt Nam thấy rõ cả của chế độ mà Hồ Chí Minh đã gây dựng lên theo kiểu mẫu ông học ở Nga Xô chỉ tàn hại đất nước. Nhưng chưa bao giờ dân Việt Nam chán ngán và thù ghét chế độ Cộng Sản như bây giờ. Ðúng vào lúc chế độ đó đang lúng túng. Không những không biết lần mò ra đường nào để giữ cho đời sống kinh tế của nhân dân phát triển, mà họ còn không biết có cách nào để giải quyết những tranh chấp quyền lợi bên trong với nhau.

Nhưng chúng ta phải lo lắng trước, khi nhìn thấy tình trạng đảng Cộng Sản tan rã. Không thể đứng chờ và chứng kiến, không lo lắng. Những liệt sĩ Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn đã được huấn luyện với khẩu hiệu: “Lúc bình an phải lo trước cơn nguy biến sẽ tới” (cư an, tư nguy). Bây giờ là lúc thể hiện châm ngôn đó.

Chế độ Cộng Sản thế nào cũng tàn tạ. Giống như một trái cây chín rồi, tự nó sẽ rụng. Giới thanh niên, trí thức trong cả nước đang rung cây cho trái rụng càng sớm càng tốt. Ðiều đáng ưu tư của dân tộc bây giờ không còn là lo chấm dứt chế độ tham nhũng bất công đó. Ðiều cần lo ngay tự bây giờ, là sau khi chế độ này tàn thì dân tộc Việt Nam xây dựng lại đất nước ra sao?

Trước hết, làm sao cho tiến trình dân chủ hóa được thực hiện mà không vấp phải những chướng ngại, như đã từng diễn ra ở nhiều nước đã trải qua kinh nghiệm chuyển từ độc tài hay chuyên chế sang chế độ dân chủ? Trong mục này tuần trước, chúng tôi đã trình bày trường hợp Bulgaria, một chế độ Cộng Sản đã “tự đảo chính,” một ngày sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ðảng Cộng Sản đã sửa hiến pháp, chính họ xóa bỏ điều số một (giống như điều bốn trong hiến pháp Việt Nam bây giờ) dành độc quyền cai trị cho đảng. Họ tự đổi tên, tổ chức bầu cử tự do, và thắng cử. Ở Rumania cũng vậy, chính các lãnh tụ Cộng Sản đã giết vợ chồng Nicolae Ceausescu để chạy theo các cuộc cách mạng 1989 ở Ðông Âu. Nhưng họ đã hành động chỉ để cướp lấy ngọn cờ cách mạng, để duy trì cả hệ thống quyền hành và tiếp tục trục lợi.

Thủ đoạn “tiếm danh nghĩa cách mạng” và “tiếm quyền cai trị” đã từng được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng lành nghề, trong năm 1945. Nhưng đó cũng chỉ là một, trong nhiều mối nguy mà tiến trình dân chủ hóa có thể vướng mắc, cần phải biết để tránh vết xe đổ. Tại một nước đã chuyển từ độc tài quân phiệt sang dân chủ tự do như Chile, tiến trình dân chủ hóa đã bị cản trở trong 15 năm vì ngay từ đầu các nhà tranh đấu dân chủ đã nhượng bộ quá nhiều khi thương thuyết cuộc chuyển giao quyền hành với Tướng Augusto Pinochet. Tại những nước như Nga, Ukraine, tiến trình dân chủ hóa vụng về, để cho một số người tập trung các nguồn lợi kinh tế vào trong tay. Những nhà tư bản độc quyền này đã dùng tiền bạc chi phối và “tiếm vị” thao túng cả guồng máy nhà nước. Ngay tại những nước dân chủ hóa thành công nhất, như Ba Lan và Tiệp Khắc, thái độ “dửng dưng với chính trị” của những nhà lãnh đạo như Walesa, Havel, đã tạo ra một khoảng trống chính trị khiến nhiều vấn đề của quốc gia không được giải quyết sớm bằng các định chế và thủ tục dân chủ. Một hậu quả dễ thấy nhất, là nước Tiệp Khắc đã phải chia đôi, thành Cộng Hòa Tiệp và Slovac, mặc dù vào lúc quyết định chia đôi đó, dân chúng cả hai miền đều muốn giữ thể chế liên bang (trên 54% ở cả hai vùng).

Dân chủ hóa là một con đường đầy trông gai, một dòng sông có nhiều mỏm đá ngầm. Ngày 30 Tháng Tư này, chúng ta cần suy nghĩ ngay về vấn đề đó, để chuẩn bị tương lai một nước Việt Nam tự do dân chủ. Ðó là một cách đền ơn nghĩa những người đã chết trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trong khi đang tranh đấu bảo vệ một mảnh đất tự do của nước Việt Nam.

Ngô Nhân Dụng

Nguồn: nguoi-viet.com



05/01/2013 5:27 PM


linhtran
Chủ Đề :   Đoản khúc buồn 30/4 _ Quách Hoàng Lân

Đoản khúc buồn 30/4

Quách Hoàng Lân - Theo blog Quách Hoàng Lân

Khi tôi ra đời, đất nước đã thống nhất được 5 năm. Khi tôi là một đứa trẻ, với những gì tôi được học trong nhà trường thì ngày thống nhất 30/4 được mô tả như là ngày hội chiến thắng của toàn dân tộc. Theo năm tháng, tôi lớn dần và những góc nhìn khác biệt về cuộc chiến bắc nam lần thứ 2 (lần thứ nhất là Trịnh-Nguyễn phân tranh) làm cho tôi hoài nghi ý nghĩa của cuộc chiến.

Câu hỏi day dứt mãi trong tôi là: Ai là người chiến thắng thực sự trong cuộc chiến này? Không thể nói chiến thắng này là của toàn dân tộc vì sau cuộc chiến hơn 3 triệu người đã phải rời bỏ tổ quốc ra đi, nhiều người trong số họ đã bỏ mạng trên biển, nhiều người ở lại đã bị giam cầm tra tấn trong các trại tập trung hay bị đẩy lên vùng ma thiêng nước độc, không thể nói chiến thắng là của họ. Không thể nói chiến thắng này là của dân miền bắc vì nếu nói thế thì hóa ra dân bắc xâm lược miền nam à? Chiến thắng này có thể gán cho những người cộng sản được không? Có thể, bởi vì sau cuộc chiến toàn đất nước đã bị nhuộm đỏ. Tuy nhiên, nếu xem chiến thắng này là của Đảng cộng sản thì cái giá mà dân tộc phải trả là quá đắt: đó là từ đó trở đi dân tộc lại tiếp tục rơi vào vòng nô lệ của một thứ tư tưởng ngoại lai là chủ nghĩa Mac-Lê-Mao, và đẩy dân tộc tới chỗ bị người tàu chi phối ngay trong bộ não. Tôi nghĩ chúng ta đã mất biển đảo và một phần đất liền, điều đó thật tệ, nhưng điều tệ hơn là cái đầu của chúng ta đặc biệt của những nhà lãnh đạo chẳng có định hướng gì cả ngoài việc ngó sang bên Tàu xem họ làm gì để làm theo. Tất cả những biểu hiện của tư tưởng chống lại sự hán hóa trong bộ não luôn bị đàn áp thẳng tay và cực kỳ thô bạo. Nhiều người đã bảo, chiến thắng 30/4 đánh dấu một thời kỳ Bắc thuộc mới. Tóm lại, chiến thắng này chỉ có thể xem là thuộc về những người cộng sản quốc tế (những người Cs Liên Xô+Trung Quốc + Việt nam) chứ không thể xem là của riêng người CS Việt Nam. Tôi đã khóc khi nghĩ về thân phận của dân tộc mình, đất nước mình, đã bị các đế quốc (Pháp, Mỹ, Tàu) xem như một cô điếm đẹp và hiền lành để chúng tranh giành với nhau (các bạn có thể xem phim “Một người Mỹ trầm lặng” để hiểu thêm cái paradigm của mấy đế quốc đó đối với dân tộc Việt), trong khi đó những đại diện ưu tú của dân tộc luôn tìm cách bỏ tổ quốc ra đi để bán chất xám cho chính các đế quốc đó.

Vậy, những ai có thể tự hào về chiến thắng 30/4? Như trên đã nói, chiến thắng này không thuộc về dân tộc Việt, cũng không thuộc hoàn toàn về những người cộng sản Việt, cho nên không ai có thể tự hào về chiến thắng 30/4. Vậy có nên gọi 30/4 là ngày “Chiến Thắng” hay không? Theo tôi là hoàn toàn không nên. Việc thống nhất đất nước là cần thiết dù cho chúng ta đã chọn một cách thức tồi tệ để có được nó. Chúng ta vẫn có thể kỷ niệm 30/4 và chỉ nên gọi đó là ngày “thống nhất đất nước” để tránh kích động hận thù trong quá khứ. Liệu chúng ta có thể hàn gắn được vết thương chiến tranh đã hằn sâu trong tâm hồn của người dân ở hai bên chiến tuyến? Đến bây giờ 38 năm sau ngày thống nhất, vết thương tâm hồn đó lại mưng mủ và làm đau nhói tim ta! Có thể hàn gắn được vết thương đó không, khi mà cứ đến ngày này, bên chiến tuyến này vẫn linh đình kỷ niệm “chiến thắng” một cách ngạo mạn, còn bên chiến tuyến kia lại ôm sầu của một ngày “quốc hận”.

Tôi vẫn nghĩ lạc quan là vẫn có thể hàn gắn được vết thương này. Tuy nhiên, để làm được điều đó, tức là để hòa giải dân tộc thì cần một sự dũng cảm và quyết đoán của cả hai phía, và đặc biệt là của những người cộng sản lãnh đạo đất nước hiện thời. Điều đầu tiên cần làm là đánh giá lại cuộc chiến một cách khách quan thông qua đối thoại bình đẳng giữa những người ở hai bên chiến tuyến. Những người cộng sản cần phải dũng cảm thừa nhận một cách thành thực rằng họ đã thắng trong chiến tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình, trong điều hành đất nước. Và họ cần phải hòa giải chân thành bằng cách chia sẻ hay nhường lại quyền điều hành đất nước cho những người có tài năng và tâm huyết bất kể đó là người thuộc chiến tuyến hay đảng phái nào.

Nguồn: danluan.org



05/01/2013 4:38 PM


linhtran
Chủ Đề :   Ngày 30 tháng Tư, nhìn lại và đi tới _ Dương Bắc Giải

Ngày 30 tháng Tư, nhìn lại và đi tới

Dương Bắc Giải

Ở Úc Đại Lợi, 5 ngày trước ngày tưởng niệm 30/4 của Việt Nam là một ngày lễ lớn: ngày ANZACS. Một cách bán chính thức, ngày 25 tháng 4 được coi như là ngày Quốc Khánh. Thông thường, ngày quốc khánh khắp nơi trên thế giới là một dịp để vui mừng. Ngày ANZACS của Úc là một ngày để tưởng tiếc và lắng lòng ý nghĩa hy sinh của quân đội Úc trong trận chiến đại bại trên bán đảo Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, năm 1915. Trong chiến dịch Gallipoli kéo dài 7 tháng, Quân đoàn Lục quân Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan (ANZACS, Australian anh New Zealand Army Corps) gần như bị tiêu diệt trên chiến trường (8,700 chết và 26,000 bị thương) và phải ‘di tản chiến thuật’ và kế hoạch xâm nhập Thổ Nhĩ Kỳ bị thất bại. Nhưng ở đây người dân được nghỉ lễ để tưởng niệm một trận chiến bại không phải là chuyện bất thường. Cũng không phải sức chiến đấu dũng cảm quân đội ANZACS trong nghịch cảnh tồi tệ nhất của mọi chiến thuật quân sự đã đi vào huyền thoại của quốc gia là chuyện khác thường, điều ngoạn mục là sự hòa giải giữa những kẻ cựu thù sau khi chiến tranh kết thúc.

Sau khi quân đồng minh đánh bại đế quốc Ottaman năm 1918, Thổ Nhĩ Kỳ độc lập và Mustapha Kemal, người chỉ huy trận địa Gallipoli, trở thành vị tổng thống đầu tiên của nước này. Những con người vĩ đại là vì họ có tư tưởng vĩ đại đưa đến hành động vĩ đại. Tổng thống Mustapha Kemal đã không nhục mạ đoàn quân Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan bại trận mà còn chính thức dành riêng khu vực Gallipoli cho người Úc hàng năm đến viếng thăm, tưởng niệm, tu bổ phần mộ của con em họ trong tình yêu của chính đất nước của ông. Hãy nghe ông nói với lời hòa giải trứ danh với quân thù năm 1934:

‘Với những con người anh hùng đã đổ máu và nằm xuống ở đây… Các anh chị ngày hôm nay đã nghỉ yên trên một đất nước thân thiện. Xin hãy an giấc nghìn thu. Trong lòng chúng tôi không có sự khác biệt nào giữa những người Úc (the Johnnies) và người Thổ Nhĩ Kỳ (the Mehmets) nằm sát cạnh nhau trong nghĩa trang này… và kìa, những bà mẹ đã gởi con mình ở đây từ những xứ sở xa xôi hãy lau khô dòng nước mắt; con cái các người hiện đang nằm trong lòng chúng tôi và được an nghỉ. Vì đã nằm xuống trên đất nước này, họ cũng đã trở thành con cái của chúng tôi.’

Nhân ngày 30 tháng 4 năm nay, nhìn người rồi nghĩ đến ta, khó có sự cay đắng nào hơn. Đành rằng mong đợi cộng sản Việt Nam đủ tầm cao thượng và có lòng nhân ái để nói với những người lính Mỹ đã đến miền Nam chiến đấu với quân dân miền Nam và đã nằm xuống ở miền Nam những lời nhân ái hòa giải của Mustapha Kemal sau chiến tranh là không thể tưởng tượng được, thế còn với quân dân miền Nam Việt Nam cùng huyết thống, ngôn ngữ và chia sẻ lịch sử thì sao? 38 năm đã qua nhưng mỗi lần ngày 30 tháng 4 trở về là vết thương chia rẽ đất nước càng thêm sâu đậm. Điều nghịch thường hơn nữa là sự đối xử của cộng sản Việt Nam với quân dân miền Nam, trên thực tế còn tàn ác hơn cả với người dị chủng. Vì sự bất thường nào của lịch sử, trong tâm lý của người Việt Nam hay vì thứ chủ nghĩa nào đã khiến người Việt Nam đối xử với nhau như thế? Chắc chắn lịch sử và tâm lý bệnh hoạn của một dân tộc tôn sùng bạo lực đã dự phần trong sự biến đổi người Việt Nam thành dị dạng và cái nguyên nhân chính yếu đích danh nó phải gọi là chủ nghĩa cộng sản. Cái thứ chủ nghĩa cộng sản được ông Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam đã đưa đất nước và con người Việt Nam đến nông nỗi này.

Xét cho kỹ, không phải dân tộc Việt Nam không có những đức tính vĩ đại của một dân tộc lớn mà chỉ người cộng sản Việt nam, một bộ phận cực nhỏ của dân tộc Việt Nam, đã mất những đức tính này vì chạy theo chủ nghĩa cộng sản. Đi dưới bảng chỉ đường của chủ nghĩa Cộng sản, đảng CSVN tạo ra chiến tranh để cướp chính quyền, đào sâu và nuôi dưỡng thù hận giai cấp để giữ chính quyền và tuyên truyền xảo trá để che dấu một mặt xấu xa của chế độ. Những hành động của nhà cầm quyền cộng sản sau năm 1975 đã chứng minh cho những quan sát trên.

Tạo ra chiến tranh để có cớ cướp chính quyền

Ông Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ta có thể là những người tốt nhưng chủ nghĩa cộng sản đã biến họ thành những con người khác. Việc đảng cộng sản cướp được chính quyền ở miền Bắc năm 1946 đã là lịch sử nhưng nếu đảng cộng sản Việt Nam không chủ trương và khởi xướng giải phóng miền Nam thì đất nước Việt Nam đã đâu đến nông nỗi này. Miền Nam có ai muốn được giải phóng khỏi cuộc sống thoải mái và trong chế độ dân chủ tự do đâu. Lẽ phải và lẽ công bằng thì phải thấy rằng đảng cộng sản Việt Nam vì khởi động chiến tranh họ phải bồi thường tất cả thiệt hại của chiến tranh trên mọi miền đất nước, bồi thường cho phía Việt Nam Cộng Hòa và cả Hoa kỳ. Một người xông vào nhà gia chủ, đánh người rồi chiếm nhà, xua đuổi chủ nhà rồi còn đòi chủ nhà bồi thường thiệt hại do bị gia chủ đánh lại. Cái ‘công lý’ này là của bọn côn đồ. Miền Nam chỉ là nạn nhân của cộng sản Việt Nam và người Mỹ là đồng minh của VNCH trong trận tuyến chống cộng sản, tương tự như Liên Xô và Trung Quốc là đồng minh của cộng sản Việt Nam trên trận tuyến chống tự do dân chủ. Chiến tranh đã phải xảy ra vì cộng sản tổ chức chiến tranh buộc miền Nam phải chống trả, để rồi họ mượn cơ hội dùng sức mạnh cướp chính quyền. Chiến tranh là một cái ‘nghề’ duy nhất được các ông Mác - Lê truyền lại cho cộng sản để kiếm sống. Tham vọng được sự ủy thác của người dân để quản trị đất nước là mục tiêu của mọi tổ chức chính trị, không riêng gì đảng cộng sản, nhưng với các đảng phái chính trị lương thiện họ tranh thủ sự ủy thác của người dân bằng cách vận động, thuyết phục sự đồng thuận cho một dự án chia sẻ tương lai, cộng sản Việt Nam thì bằng cách giết người và tước đoạt mọi quyền của con người để áp đặt cái dự án tương lai không ai chấp nhận. Đầu nguồn của mọi tội đồ là đây.

Đào sâu và nuôi dưỡng hận thù giai cấp


Hệ thống nói dối hạng nhì trên toàn cầu đang bị các phong trào, tổ chức và con người dân chủ ngay trong lòng đảng cộng sản lật tẩy qua mạng lưới internet, facebook, twitter…Tranh Pawel Kuczynski

Phải tạo ra hận thù để người dân giết nhau, đấu tố nhau để chế độ không có người chống đối. Sự hận thù, nhất là khi được khuyến khích và bảo đảm không bị trừng phạt, khiến người ta có thể giết người không gớm tay. Chỉ trong chế độ cộng sản mới thấy có sự khuyến khích ‘em bé vót chông’ để giết người mà không ghê tay. Ở miền Nam không có em bé nào, cô gái nào ngồi vót chông để giết người miền Bắc. Quân đội miền Nam không có ai bắn vào người dân ở miền Bắc, chỉ toàn ngược lại. Trong Album 30/4 của giới trẻ trong nước vừa phát hành trên các trang mạng, chúng ta thấy ‘trùng trùng đoàn quân tiến theo con đường của bác…đạp lên xác thù’ là xác ai? Chỉ là xác mẹ, xác cha con, chồng vợ, người thân, bạn bè nằm chết la liệt trên các con đường tỵ nạn cộng sản ở miền Nam. Có người còn bị ‘chết hai lần thịt xương nát tan’ trên đại lộ Kinh Hoàng năm 1972. Có người còn sống nhưng bị chôn cho chết ở Huế năm 1968.

Hận thù giai cấp và đấu tranh giai cấp để mọi người đều trở nên vô sản, không còn tài sản, không còn tư hữu để chế độ thu gom mọi tài sản mà độc quyền ban phát. Nghĩ đến Bắc Hàn hiện nay mà kinh, chế độ bao cấp đã tước đoạt người dân cả quyền tự vệ của bản năng. Đến phải ăn cỏ mà vẫn cho là đang sống trên thiên đàng và cám ơn lãnh tụ. Miền Bắc Việt Nam trong thời bao cấp chưa đến nỗi vinh quang như thế, nhưng sự kháng cự của người dân cũng đã bị bẻ gãy từ trong bao tử.

Người Việt Nam trước thời cộng sản không có sự thù hận đó. Kìa, Nguyễn Trãi đã đánh cho quân Minh một trận tan tác kình ngư nhưng quyết lấy đại nghĩa thắng hung tàn và đã cấp lương thực cho họ trở về nguyên quán (thì há gì ngày hôm nay đảng cộng sản phải sợ hãi hậu duệ cái đám tàn quân của Nguyễn Trãi khi xưa đến độ phải bịt mắt người dân là đảng ta bị ‘người lạ’, ‘tàu lạ’ đánh phá, cướp bóc và đuổi ra khỏi lãnh thổ của mình?). Lòng nhân hậu vì thế đã có trong nề nếp đạo đức của người Việt Nam chỉ có thời cộng sản mới khai thác lòng thù hận và những thói tật xấu xa, ác độc của con người để bảo vệ chế độ được sống.

Tuyên truyền xảo quyệt

Ông Thiếu tướng công an Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược – Bộ Công an - trong bài viết “Việt nam đã 5 lần bị [Trung quốc] ‘bán đứng" có nhận xét là Trung quốc có ‘hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh”. Nếu Trung quốc có hệ thống nói dối hạng nhất thì Việt Nam chạy theo học đòi Trung Quốc phải có hệ thống nói dối hạng nhì trên hành tinh vậy. Nhìn lại những lời cộng sản kêu gọi người dân tiến theo con đường của bác, như độc lập, chủ quyền, tự do, hạnh phúc, dân giàu nước mạnh xã hội văn minh, mà ngao ngán. Dưới ánh sáng của nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa hôm nay, mọi mặt nạ đã rơi xuống để hiện nguyên hình là những cái bánh vẽ và những chiêu bài bịp bợm. Hệ thống tuyên truyền nói dối của cộng sản Việt Nam lớn hạng nhì trên hành tinh đã ru ngủ và an ủi người dân trong suốt thời gian ‘đời ta có đảng’.

Độc lập gì đâu khi Trung Quốc gọi dạ bảo vâng, bộ chính trị CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng và nhận chỉ thị về trị nước theo ý muốn của Trung Quốc. Chủ quyền là gì khi lãnh thổ bị xâm phạm, sáp nhập, cướp đoạt, ngư dân bị bắn giết, đánh đập ngay trên lãnh thổ của mình mà cộng sản khiếp sợ đến không dám gọi cả tên quân thù. Có tự do thì đâu có chế độ cộng sản, hạnh phúc nào khi đất đai bị cướp đoạt rồi còn bị bỏ tù, dân giàu thì cộng sản mất, nước mạnh thì cộng sản tan, xã hội văn minh thì cộng sản giải thể. Dù trên những cái loa độc quyền phát thanh của nhà cầm quyền cộng sản các chiêu bài này vẫn còn được mang ra bày bán trong buổi chợ chiều xã hội chủ nghĩa, nó đã mất tính hấp dẫn của một món hàng. Nhất là món hàng có nhãn hiệu làm tại Trung Quốc.

Người ta nói những nghịch thường mà nhà cầm quyền cộng sản làm được là vì họ có thể làm được.

Kể từ ngày 30 tháng 4 năm nay sẽ khác với những ngày 30/4 năm trước không phải vì cộng sản Việt Nam đã thay đổi mà chính người dân Việt Nam đã thay đổi. Hệ thống nói dối hạng nhì trên toàn cầu đang bị các phong trào, tổ chức và con người dân chủ ngay trong lòng đảng cộng sản lật tẩy qua mạng lưới internet, facebook, twitter… Người dân Việt Nam đã ý thức quyền con người là bất khả xâm phạm và đang áp lực nhà cầm quyền CS phải tôn trọng ý nguyện của họ. Cơ hội nói lên ý nguyện của công dân đang được tổ chức trên khắp nước trong đợt sửa đổi hiến pháp 1992 hiện nay.

Cộng sản Việt Nam trốn tránh nghĩa vụ thực hiện hòa giải dân tộc hoặc tổ chức hòa giải dân tộc là điều chúng ta có thể đoán được. Những con người sắp chết rất sợ chết. Dự thảo sửa đổi bản Hiến Pháp 1992 cho thấy đảng cộng sản gia tăng ý đồ bảo hiểm cho mạng sống của chế độ. Nhưng một chế độ tồi dở thì tự trong bản chất đã tiềm tàng mầm mống của định mệnh. Nó tất yếu sẽ bị đào thải sau hồi chuông báo tử. Người dân Việt Nam cả hai miền đất nước có thể dị biệt về ý thức chính trị nhưng có chung một mẫu số chính trị. Chúng ta đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Sự hòa giải giữa chúng ta - những nạn nhân của cộng sản - sẽ là tiền đề cho mọi biến chuyển thời thế sắp tới. Chúng ta chỉ có thể thay đổi số phận của chúng ta nếu chúng ta quyết tâm muốn làm như thế.

Dương Bắc Giải

Tác giả Dương Bắc Giải tên thật là Dương Thu Sơn, đia chỉ 43 Railway Pde Condell Park, NSW, Australia. Hiện là công chức Bộ Y tế New South Wales. Nguyên là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến của quân lực VNCH. Là thành viên của Tập Họp Dân Chủ Đa Nguyên nhưng bài viết này là một suy nghĩ cá nhân nhân ngày 30/4 không phản ảnh quan điểm của THDCDN.

Nguồn: danluan.org



05/01/2013 4:34 PM


linhtran
Re :   Phân Ưu Nhạc Mẫu ATBĐ Dương Phước Ngân

"NganDuong" npd200067@yahoo.com

THƯ CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ

- AituBinhdien toan quoc HK, ATBD Bac Cali, ATBD Nam Cali, ATBD Houston, ATBD vung HoathinhDon va MD.
- Đồng môn Quốc Học 59-62, Đồng môn Quốc Học Đồng Khánh Virginia VA MD.
- Hội SP Qui Nhơn Hải Ngoại.
- Các bà con nội ngoại, bạn bè, thân hữu

Đã gọi điện, email, gửi vòng hoa, cầu nguyện, thăm viếng điếu tang và tiễn đưa linh cữu của mẹ, bà nội, bà ngoại chúng tôi:

Bà Công Tằng Tôn Nữ Tô Lý

Đến nơi an nghỉ cuối cùng tốt đẹp.
Trong lúc tang gia bối rối có điều gì sai sót xin qui vị niệm tình tha thứ cho.

Thay mặt tang quyến,
Gia đình Nguyen Van Nam Son,
Gia đình Dương Phước Ngân va Đông Hải,



04/29/2013 9:40 AM


linhtran
Re :   Phân Ưu Nhạc Mẫu ATBĐ Dương Phước Ngân

"Nhat-Bich Tan" tannhatbich@yahoo.com

  Thanh kinh chia buon anh chi Duong phuoc Ngan .
  Nguyen cau cho Ba Cu som sieu thoat .
      Vo chong Bich Ai va gia dinh



"Sanh Hoang" nguyensanh99@yahoo.com

Anh Chị Ngân ,chia buồn với anh chị.Là người chỉ huy một thời vang bóng cương quyết và hài hòa của tôi,tôi biết anh Ngân (và nhất là chị,người vợ lính hiền hơn cả ma-xơ trong chốn tu kín nhà dòng) đang .... quá đỗi ....nữa hồn thương đau ...một cảnh ...hai ba quê lúc này.Mong thời gian sẽ đẩy đưa anh chị quên ...bớt đi những buồn phiền.Cuối cùng thì bác cũng rong ruỗi nơi một cõi thong dong Niết bàn.Thân kính,người lính DTE/Phú Bài một thời binh lửa của anh.thằng Sanh tàn dập




"dinhvinhhoang" dinhvinhhoang@verizon.net

ĐƯỢC TIN THÂN MẪU CỦA BẠN DƯƠNG PHƯỚC NGÂN VỪA TẠ THẾ TẠI VIỆT NAM,
CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG ANH CHỊ NGÂN VÀ TANG QUYẾN
CẦU NGUYỆN HƯƠNG LINH BÀ CỤ ĐƯỢC VÃNG SANH CÕI A-DI-ĐÀ

T.M. Gia Đình CTNCT Ái Tử Bình Điền Tampa Florida
Hoàng Thế Định




"QueDang, VA" hgque@aol.com




"QueDang, VA" hgque@aol.com

Nhận được tin buồn nhạc mẫu của anh Dương Phước Ngân là Bà quả phụ Nguyễn Văn Minh nhủ danh Công tằng Tôn nữ Tô Lý mãn phần tại Sài Gòn VN, hưởng thọ 93 tuổi. Anh chị em gia đình Ái Tử Bình Điền vùng Hoa Thịnh Đốn thành thật chia buồn cùng anh chị Dương Phước Ngân cùng tang quyến. Thành kính cầu nguyện hương linh cụ bà sớm vãng sanh cực lạc quốc.

Thay mặt Gia Đình CTNCT Ái Tử Bình Điền Vùng Hoa Thịnh Đốn
Nguyễn Đình Trọng



04/25/2013 12:03 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn Cao Kỳ, đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước _Trần Giao Thủy

Nguyễn Cao Kỳ, đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước

Trần Giao Thủy


… Không thể có chuyện chế độ Hà Nội sẽ yêu cầu Trung Cộng viện trợ quân sự. Và nếu nó xảy ra, nếu nó xảy ra, tôi nghĩ rằng đó sẽ là dịp tốt để chúng tôi thống nhất đất nước.” Nguyễn Cao Kỳ, 1967.

Mới đây blogger Le Minh Khai vừa nhắc đến một nhân vật lịch sử Việt Nam cận đại, ông Nguyễn Cao Kỳ, tướng không quân VNCH, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (CTUBHPTU), Phó Tổng thống VNCH, v.v.

Blogger Le Minh Khai nhắc lại quan điểm của ông Nguyễn Cao Kỳ đối với việc Cộng sản Trung Hoa (Trung Cộng, TC) tham chiến tại Việt Nam, cùng với một vài nhận định. Tài liệu trưng dẫn là 3 trang [149-151] trích từ tập tại liệu của Bộ Ngoại giao Úc, gồm 478 trang, tựa đề “South Vietnam – Visitors to Australia – Nguyen Cao Ky” [3014/10/10/4 PART 1](1) hiện lưu trữ tại Thư khố Quốc gia Úc (Australia National Archives).

Theo tài liệu này, ông Nguyễn Cao Kỳ đã trả lời một số câu hỏi trong buổi tiệc trưa do Câu lạc bộ Báo chí Úc tổ chức tại Canberra ngày 19 tháng Giêng 1967.

Sau đây là câu hỏi thứ nhất liên quan đến, phần một là chiến tranh du kích do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện ở Bắc Việt, phần hai là sự đe dọa của Trung Cộng tương quan với sự đoàn kết của dân Việt chống lại hiểm họa đó.


Nguyễn Cao Kỳ: Không thể tiết lộ bí mật quân sự… nhưng đó là một điều tốt; một gợi ý tốt.

Trả lời phần thứ nhất, ông Nguyễn Cao Kỳ cho biết là ông không thể tiết lộ bí mật quân sự, nhưng ông cho đó là một điều tốt; một gợi ý tốt.

Về đe dọa của Trung Cộng đối với Việt Nam, ông Nguyễn Cao Kỳ, CTUBHPTU lúc đó, cho hay là ông không tin rằng Hà Nội có thể yêu cầu Trung Cộng viện trợ quân sự hay đưa quân đội Cộng sản vào miền Bắc Việt Nam.


Nguyễn Cao Kỳ: …Vì nếu lãnh đạo Hà Nội làm như vậy thì tôi chắc chắn rằng tất cả người Việt Nam từ Bắc chí Nam sẽ đoàn kết đứng lên tiêu diệt chế độ [cộng sản] và bảo vệ đất nước….

“…Tôi nói “Không”. Vì nếu lãnh đạo Hà Nội làm như vậy thì tôi chắc chắn rằng tất cả người Việt Nam từ Bắc chí Nam sẽ đoàn kết đứng lên tiêu diệt chế độ [cộng sản] và bảo vệ đất nước của chúng tôi. Không thể có chuyện chế độ Hà Nội sẽ yêu cầu Trung Cộng viện trợ quân sự. Và nếu nó xảy ra, nếu nó xảy ra, tôi nghĩ rằng đó sẽ là dịp tốt để chúng tôi thống nhất đất nước.”

Tuy nhiên, ông Nguyễn Cao Kỳ cho báo giới Úc biết là tất cả vũ khí đạn dược tịch thu được của cộng sản ở chiến trường miền Nam đều là vũ khí của Trung Cộng tuy chưa khi nào bắt được quân TC. Và theo tin tình báo, Ông Kỳ cho biết tiếp, thì TC chỉ có mặt ở Bắc Việt trong vai trò cố vấn hay kỹ thuật sửa đường sắt.

Trước khi có nhận định về những tuyên bố trên đây của ông Nguyễn Cao Khi trả lời báo giới Úc năm 1967, hãy thử tìm đọc lại một số tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Hoa công bố khoảng giữa thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990.

Tương tự như những tài liệu về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Cộng viện trợ Việt Nam chống Pháp(2), một số lớn các tài liệu khác do Đảng CSTH công bố trong cùng thời gian đã được một số học giả nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam dùng để có thể minh hoạ, xác định được những nguyên nhân thúc đẩy, quá trình quyết định, mức độ và hệ quả của việc Trung Cộng tham gia trong chiến tranh Việt Nam. Phần lớn các dữ kiện, số liệu trong bài viết này trích dẫn từ một luận văn của Chen Jian, hiện là giáo sư ban Sử, về quan hệ Mỹ-Trung tại đại học Cornell.(3)

Đến nay lịch sử đã ghi chép rõ là sau hiệp định Geneva 1954, Trung Cộng muốn thấy Việt Nam chia đôi không hạn định.

Trả lời yêu cầu chính thức của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam với Bắc Kinh vào mùa Hè 1958, về “chiến lược cách mạnh miền Nam”, lãnh đạo Hoa Đỏ đã viết cho Hà Nội, “Công tác quan trọng nhất, căn bản nhất và khẩn thiết nhất” là “làm thế nào để thúc đẩy cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tái thiết miền Bắc.”

Trong cuộc họp giữa Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Hà Nội năm 1960, Chu Ân lai khuyến cáo Hà Nội đên có biện pháp mềm dẻo với miền Nam bằng quân sự và chính trị. Điều này cho thấy đàn anh phương Bắc của chính quyền Hà Nội không hoan hỉ lắm khi Cộng sản Bắc Việt tự ý bắt đầu chiến tranh vũ trang tại miền Nam (1959-60).

Quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội là “môi hở răng lạnh” suốt thập niên 1950 đến những năm đầu thập niên 1960 nên Trung Cộng một mặt đã làm ngơ với cuộc “các mạng ở miền Nam” của Cộng sản Bắc Việt đồng thời, trên mặt chiến lược, chính quyền ở Hoa Lục cũng không muốn đẩy Mỹ phải có mặt một cách tích cực hơn trong vùng Đông Á.

Trong hoàn cảnh đó, Trung Cộng bắt đầu có những viện trợ quân sự quan trọng cho Việt Nam từ 1963.

Từ 1956 đến 1963, theo nguồn tin của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa, Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt khoảng 320 triệu nhân dân tệ; Súng ống và đạn dựơc đưa sang Việt Nam gồm 270.000 khẩu súng, hơn 10.000 trọng pháo, 200 triệu viên đạn đủ loại, 2,02 triệu đạn trọng pháo, 15.000 bộ điện đàm, 5.000 vô tuyến điện đàm, và hơn 1.000 quân xa, 15 phi cơ, 28 chiến thuyền và 1,18 triệu bộ quân phục dù không trực tiếp có mặt ở chiến trường Việt Nam.

Bắc Kinh quyết định tăng viện cho Việt Nam

Sau báo cáo của phái đoàn Cộng sản (CS) Bắc Việt do Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh dẫn đầu, vào mùa Hè 1962 tại Bắc Kinh, cho hay về việc leo thang chiến tranh ở Miền nam và khả năng Mỹ có thể bỏ bom ở miền Bắc, Trung Cộng cam kết sẽ trang bị thêm cho 230 tiểu đoàn Cộng quân Việt Nam.

Tháng 3, 1963, La Thụy Khanh [Luo Ruiqing] dẫn đầu phái đoàn quân sự TC viếng thăm Hà Nội cho hay sẽ can thiệp nếu Mỹ tấn công Bắc Việt. Tháng 5, 1963, Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shaoqi] đã hứa với Hồ Chí Minh tại Hà Nội, nếu cuộc chiến lan rộng vì chiến tranh giải phóng miền Nam thì Bắc Việt có thể dựa vào Trung Hoa như một hậu cứ chiến lược. Tháng 6, 1964, Văn Tiến Dũng đi Bắc Kinh và được Mao Trạch Đông [Mao Zedong] hứa “yểm trợ vô điều kiện”, và nói Trung Cộng và Việt Cộng (VC. Cộng sản Việt Nam, hay tên chính thức lúc đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nên đoàn kết chặt chẽ chống lại kẻ thù chung. Đầu tháng 7, 1964, ba phái đoàn quân sự Lào, TC và VC họp tại Hà Nội về cách điều hợp chiến trường nếu chiến tranh Đông Dương lan rộng. Phái đoàn TC hứa sẽ tăng viện trợ quân sự, và kinh tế cũng như sẽ huấn luyện phi công Việt Nam, và nếu Mỹ tấn công ra Bắc, thì TC bằng “mọi phương tiện có thể và cần thiết” sẽ yểm trợ Bắc Việt. Lúc này là giai đoạn TC bày tỏ quyết tâm mạnh nhất để ủng hộ cuộc “cách mạng” của Bắc Việt.

Cũng trong giai đoạn này, Vương Gia Tường (Wang Jiaxiang), Vụ trưởng Vụ Quan hệ Quốc tế Trung ương, đã trở thành con chốt thí của Mao khi Vương viết bản báo cáo với ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Hoa, khuyến cáo không nên để bị hệ lụy, phải đương đầu với Mỹ trong một cuộc chiến tương tự như chiến tranh Triều Tiên. Kết quả, Vương Gia Tường bị phê phán là theo chủ nghĩa đầu hàng, xét lại, bị đày đi Tín Dương, Hà Nam,và chết năm 1974. Tuy nhiên, sự thay đổi chính sách của Bắc Kinh với cuộc chiến ở Vịêt Nam không phải vì yêu cầu của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mà vì nội tình của Trung Cộng và quan hệ không còn mặn nồng với Liên bang Sô Viết trong giai đoạn đó.

Khi Sự kiện Vịnh Bắc Việt xảy ra [tháng 8, 1964] thì Ủy ban Quân sự Trung ương [UBQSTU] của CHNDTH đã ra lệnh cho hai Quân khu Côn Minh và Quảng Châu chuẩn bị tác chiến đối phó với tấn công bất ngờ của Mỹ cũng như đã di chuyển một số đơn vị không quân và hệ thống phòng không đến vùng biên giới Trung-Việt. Mao triệt để hóa vai trò đồng minh chiến lược với Bắc Việt bằng khẩu hiệu “Chống Mỹ, Viện Việt”, tổ chức mít tinh khắp nơi với những khẩu hiệu “đoàn kết với nhân dân Việt Nam”, chống “đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam”, “Cuộc xâm lăng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng là cuộc xâm lược chống lại Trung Hoa”, v.v.

Đến mùa Xuân 1965, khi Washington đã quyết định gởi thêm quân sang Việt Nam và bắt đầu chiến dịch “Sấm Rền” [“Rolling Thunder”] thì Bắc Kinh đã đi đến quyết định về ba nguyên tắc hình thành chiến lược của TC. Trước nhất, nếu Mỹ đi xa hơn việc bỏ bom miền Bắc và đưa quân xâm lăng Bắc Việt thì TC sẽ gởi quân tham chiến. Thứ hai, Bắc Kinh sẽ gởi tín hiệu rõ ràng để Mỹ không thể tự do bành trướng chiến trường, khoan nói đến việc đưa chiến tranh vào nội địa Trung Hoa. Thứ ba, Bắc Kinh sẽ bằng mọi cách tránh đụng độ quân sự với Mỹ; nhưng nếu cần thiết thì TC sẽ không lùi bước nếu bị thách đố. Tháng 3, 1965, một bài xã luận trên tờ Nhân Dân – cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CS Trung Hoa – tuyên bố Trung Hoa sẵn sàng giúp “nhân dân Việt Nam anh hùng tất cả vật chất cần thiết kể cả vũ khí đủ lọai cũng như tất cả mọi quân dụng khác”. Và nếu cần, Trung Hoa sẵn sàng “gởi quân sang cùng chiến đấu vơi nhân dân Việt Nam để tiêu diệt bọn xâm lược Mỹ”.

Tháng Tư, 1965, tại thủ đô Tirana của Albania, Chu Ân Lai [Zhou Enlai] cũng đã nhờ Tổng thống Pakistan, Mohammad Ayub Khan, gởi tới Mỹ những lời nhắn tương tự. Vẫn theo tài liệu của Cộng sản Trung Hoa, đầu tháng 4, 1965, Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất của Đảng Lao Động Việt Nam và Võ Nguyên Giáp đã dẫn một phái đoàn bí mật sang Bắc Kinh gặp Lưu Thiếu Kỳ đại diện cho Trung ương Đảng CS Trung Hoa; ngay trong cuộc họp này Duẩn, nói rằng nhân dân Việt Nam “luôn luôn tin rằng Trung Hoa là người bạn đáng tin nhất của Việt Nam,” và “viện trợ của Trung Hoa cho Việt Nam luôn luôn đứng đầu về lượng cũng như phẩm.” Trong cuộc họp mật này, Duẩn cũng bày tỏ nguyện vọng được TC gởi sang Bắc Việt những phi công tình nguyện, đoàn quân tình nguyện, và những đơn vị tình nguyện khác như công binh để xây dựng cầu, đường bộ và đường sắt. Duẩn cũng bày tỏ lòng tin là viện trợ của TC sẽ gúp VC đạt được bốn mục đích: hạn chế vùng Mỹ oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 [Nghệ An] hoặc vĩ tuyến 20 [Thanh Hóa]; bảo vệ được Hà Nội và các vùng phía bắc thủ đô khi bị bỏ bom; bảo vệ đường vận chuyển chính của Bắc Việt; và nâng cao tinh thần của nhân dân Việt Nam.

Tuy đã có những hứa hẹn như thế, phía TC không thỏa mãn tất cả những yêu cầu của VC: không gởi phi công tình nguyện; không gởi quân bảo vệ hệ thống vận tải chính và các cứ điểm quan trọng xuống tới vĩ tuyến thứ 19 vì TC, như đã tuyên bố trước, sẽ không gởi các đơn vị phòng không xuống quá vĩ tuyến thứ 21 [Hà Nội]. Mặt khác Duẩn cũng đã yêu cầu TC viện trợ xây dựng, bảo trì và bảo vệ hệ thống đường bộ, và đường sắt tại Bắc Việt. Không rõ vì lý do gì, trên thực tế, trong câu chuyện xin viện trợ, Duẩn chỉ nói đến đường sắt.

Tháng 5, 1965 Hồ Chí Minh lại bí mật sang Tàu. Hồ gặp Mao vào ngày 16 tháng 5 tại Trường Sa, thủ phủ của Hồ Nam [quê quán của Mao]. Tại đây Hồ cám ơn Mao đã giúp Việt Nam và hứa rằng Việt Nam sẽ nhận phần lớn trách nhiệm trong chiến tranh nhưng muốn được TC giúp xây 12 con đường mới cho Việt Nam. Mao chấp thuận không do dự. Đầu tháng 6, Văn Tiến Dũng, dựa trên kết quả của chuyến đi của Hồ Chí Minh, đã đi gặp La Thụy Khanh. Lần này TC hứa sẽ gởi lực lượng không và hải quân sang bảo vệ Bắc Việt nếu Mỹ giúp Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa) tấn công ra Bắc bằng không quân và hải quân.


Những người đi cầu viện TC: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Phạm Văn Đồng,…

Viện trợ của Cộng sản Trung Hoa trong giai đoạn 1965-1969

Trong giai đoạn 1965-69 TC đã giúp VC ở ba phương diện: công binh TC đã xây dựng, bảo trì và bảo vệ các phi trường, đường bộ và đường sắt ở Bắc Việt; sử dụng pháo binh, quân trọng pháo chống máy bay, để bảo vệ những khu vực và mục tiêu chiến lược quan trọng ở miền bắc Bắc Việt; và cung ứng một số lượng lớn những thiết bị quân sự và những quân dụng vật dụng và dân sự khác. [Sẽ không được đề cập đến chi tiết trong phạm vi bài viết này].

Đoàn công binh Trung Cộng sang Việt Nam

Bộ Tổng Tham mưu (TTM) Bắc Việt điện cho Bộ TTM Trung Cộng, ngày 17 tháng 4, 1965 – khi phái đòan của Lê Duẩn đang ở Moscow, yêu cầu đưa công binh TC sang các đảo ngoài khơi Vịnh Bắc Việt để xây dựng các hệ thống phòng thủ ở đó. Ngày hôm sau, nhận lệnh của UBQSTU của CHNDTH, Bộ TTM TC đã thành lập “Lực lượng Công binh Tình nguyện của Nhân dân Trung Hoa” [CPVEF] trong đó có cả một số đơn vị công binh xuất sắc nhất của Trung Cộng để đảm trách công tác xây dựng, tái xây dựng đường sắt, các công sự phòng thủ, và xây dựng phi trường tại Việt Nam.

Ngày 21 và 22 tháng 4, 1965, La Thụy Khanh và Dương Thành Vũ [Yang Chengwu] lần lượt gặp, xác nhận với Võ Nguyên Giáp là công binh TC sẽ sang Việt Nam công tác.

Sau nhiều cuộc đàm phán, Cộng sản Trung Hoa và Cộng sản Bắc Việt ký kết một thỏa ước về việc viện trợ cho Việt Nam xây dựng đường sắt mới đồng thời cung cấp những thiết bị vận tải. Theo hiệp định này và một lô những thỏa thuận ký kết sau đó TC sẽ giúp VC trong 100 dự án. Trong đó quan trọng nhất là công tác xây hệ thống đường sắt Hà Nội – Hữu Nghị Quan, Hà Nội – Thái Nguyên, xây thêm hơn một chục nhà ga, cầu, đường hầm mới. Xây hệ thống đường sắt đúng tiêu chuẩn từ Kép đến Thái Nguyên như một tuyến phụ giữa Hà Nội – Thái Nguyên và Hà Nội – Hữu Nghị Quan; xây dựng hàng loạt cầu, phà, đường sắt tạm ở vùng miền bắc Bắc Việt; và củng cố thêm 11 cầu đường sắt để tăng khả năng chống đỡ bom đạn và nước lụt.

Về việc xây 12 con đường mới mà Hồ Chí minh đã xin với Mao trong cuộc họp mật ở Trường Sa, Bộ TTM Trung Hoa đã theo lệnh của Mao lập dự án gởi 100.000 lính công binh. Ngày 25 tháng 5, Chu Ân Lại trực tiếp chủ tọa, tham dự thảo luận về dự án này và giải thích vì Bắc Việt phải tăng cường quân số trên đường vận chuyển ở Nam Lào khi Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam nên Trung Hoa sẽ nhận trách nhiệm cùng cố và mở rộng hệ thống đường xá ở Bắc Việt, nhất là vùng thượng du. Vương Thành Vũ, tại đây, đã báo cáo hai phương án thực hiện, Một là gởi 100.000 công binh sang Việt Nam xây một lượt 12 con đường mới như Hồ Chí Minh đã đề nghị và hai là chỉ gởi 80.000 quân sang Việt Nam xây 5-7 con đường cần nhất trước. Vương đề nghị phương án thứ hai và Chu đồng ý, dù cả hai sẽ được trình bày và sẽ cho Việt Nam hay là Trung Hoa ngả về phương án ít người.

Cuối tháng 5, 1965, một phái đoàn Việt Nam sang họp ở Bắc Kinh nhất định đòi thực hiện phương án đầu và Cộng sản Trung Hoa đã đồng ý. 30 tháng 5, 1965 hai hai nước cộng sản Trung Hoa và Việt Nam ký kết hiệp định để TC xây 12 con đường mới ở miền Bắc của Bắc Việt, nối vào hệ thống đường xá của Trung Hoa. Đồng thời, trong giai đoạn xây dựng, TC có trách nhiệm phòng thủ, bảo vệ công trình cũng như các đơn vị công binh nếu bị Mỹ oanh tạc.

Bắt đầu từ tháng 6, 1965, TC gởi 7 sư đoàn CPVEF đến Việt Nam ở nhiều thời điểm khác nhau. Sư đoàn CPVEF số một sang Việt Nam gồm 6 Trung đoàn công binh hỏa xa giỏi nhất (có thêm 2 trung đoàn khác đến Việt Nam vào tháng 8), một toán thăm dò đường sắt và 12 tiểu đoạn trọng pháo phòng không. Tổng số quân của sư đoán TC này khoảng 32.700 người ở lúc cao nhất; họ công tác tại Việt Nam từ 23 tháng 6, 1965 đến cuối năm 1969. Thống kê của Trung Hoa cho biết đơn vị sau cùng của sư đoàn công binh này rời Việt Nam vào tháng 6, 1970. Tổng kết sư đoàn công binh này đã xây 117 km đường xe lửa, tu bổ 362km dường sắt cũ, xây 39 cầu mới và 14 đường hầm cùng 20 nhà ga xe lửa.

Sư đoàn công binh thứ nhì của TC sang Việt Nam sớm nhất (6/6/1965) gồm 3 trung đoàn công binh, 1 lữ đoàn thủy học, 1 lữ đoàn vận tải đường biển, một lữ đoàn truyền tin công binh, 1 tiểu đoàn quân xa vận tải và vài đơn bị trọng pháo phòng không, tổng cộng khỏang 12.000 người lính. Công tác chính của sư đoàn công binh thứ hai này là xây dựng những công thụ phòng thủ, đặt hệ thống truyền tin trên 15 hòn đảo ngoài khơi cùng 8 cứ điểm duyên hải thuộc Vịnh Bắc Việt. Sư đoàn công binh này sẽ cùng quân Bắc Việt phản công nếu quân Mỹ xâm lẵng miền Bắc. Tất cả những đơn vị thuộc sư đoàn này đã rời Việt Nam qua nhiều đợt trong năm 1966 vì những mâu thuẫn giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Sư đoàn công binh thứ ba của TC sang Việt Nam đa số là công binh không quân với công tác chính là xây phức thể phi trường Yên Báy để máy bay phản lực có thể hoạt động, đồng thời xây hầm trú ẩn cho phi cơ. Việt Nam yêu cầu Trung Hoa giúp cho dự án này từ tháng Giêng, 1965. Tháng 5, 1965, đoàn thăm dò TC đến Yên Báy. Tháng 11, 1965 đoàn công binh chủ lực vào Việt Nam. Phi trường Yên báy hoàn tất vào tháng 5, 1969. Hầm trú ẩn cho máy bay xây xong vào tháng 10, 1969; sau đó sư đoàn công binh không quân này đã nhanh chóng rút khỏi Việt Nam.

Sư đoàn công binh thứ tư, thứ năm và thứ sáu của TC tại Việt Nam là những đơng vị xây dựng xa lộ có khoảng 80.000 quân. Năm trung đoàn của sư đoàn thứ tư là các đơn vị thuộc Quân khu Quảng Châu. Công tác chính của sư đoàn thứ t này là tái thiết trục lộ thuộc tỉnh Quảng Tây đến Cao Bằng, Thái Nguyên và Hà Nội. Năm trung đoàn của sư đoàn công binh thứ 5 thuộc Quân khu Thẩm Dương. Công tác chính của sư đoàn này là xây một con đường mới từ Lào Cai đến Yên Báy nối về Hà Nội. Sáu tiểu đoàn của sư đoàn thứ sáu thuộc Quân khu Côn Minh và quân đoàn đường sắt. Công tác chính của sư đoàn này là xây đường từ thành phố Văn Sơn ở Vân Nam nối liền với những con đường do sư đoàn thứ 5 xây dựng. Ngoài ra sư đoàn thứ 6 này còn xây đường dọc biên giới Việt Trung để nối liên những trục lộ Nam-Bắc giữa Việt Nam và Trung Hoa. Tất cả những sư đoàn công binh này đều có những đơn vị trọng pháo phòng không riêng. Ba sư đoàn, 4, 5, 6 đến Việt Nam vào khoảng tháng 10, tháng 11, 1965 và rời Việt Nam khoảng tháng 10, 1968. Thống kê chính thức của Giải phóng quân cho biết họ (ba sư đoàn vừa kể) đã kiến thiết và tái thiết 7 con đường dài tổng cộng 1.206 km, 395 cây cầu dài tổng cộng 6.854 m, 4441 đường cống dài tổng cộng 46.938 m. Khoảng 30.5 triệu mét khối đất đá đã di dời trong các dự án vừa kể.

Sư đoàn công binh thứ 7 – gồm 3 trung đoàn công binh xây dựng, vài tiểu đoàn trọng pháo phòng không, có tổng số 16.000 quân lính – đến Việt Nam vào tháng 12, 1968 thay chỗ cho sư đoàn thứ hai. Công tác chính của sư đoàn này là xây dựng các công sự phòng thủ ngầm trong khu vực châu thổ sông Hồng và xây hầm trú cho máy bay tại phi trường ở Hà Nội. Sư đoàn này hòan tất công tác và đã rời Việt Nam vào tháng 11, 1969.

Ngoài 7 sư đoàn công binh xây dựng tại Việt Nam, theo hiệp định ký kết tháng 7 năm 1965, TC còn gởi sang Việt Nam một lữ đoàn công binh truyền tin. Lữ đoàn này phụ trách việc sửa chữa và xây dựng hệ thống truyền tin trong khu vực Lai Châu-Sơn La-Điện Biên Phủ. Trước khi về lại Trung Hoa lữ đoàn công binh này đã dựng 894 km đường dây điện thoại và xây 4 trạm điện thoại.

Tóm lại, các đơn vị công binh cuả TC sang Việt Nam công tác từ khoảng cuối năm 1965 đến cuối năm 1968. Công tác thực hiện gồm xây dựng các công sự phòng thủ, đường lộ, đường sắt ở thượng du Bắc Việt. Đa số các dự án đó đều nằm ở phía Bắc Hà Nội và không có công trình nào nằm dưới vĩ tuyến 20. Đại đa số quân TC đã rút về nước vào cuối năm 1969. Đầu năm 1970, tất cả công binh TC đã rời khỏi Việt Nam.

Pháo binh phòng không bảo vệ những mục tiêu quan trọng ở miền Bắc và che chắn cho đoàn công binh TC

Trong cả hai, chuyến đi Bắc Kinh của Lê Duẩn và cuộc họp của Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông vào tháng 4 và 16/5, phía Việt Nam đã yêu cầu TC gởi pháo binh sang Việt Nam. Trong cuộc họp với La Thụy Khanh vào đầu tháng 6, 1965, Văn Tiến Dũng còn xin TC gởi hai sư đoàn pháo binh để bảo vệ Hà Nội và khu vực phía bắc Hà Nội trong trường hợp Mỹ oanh tạc. La Thụy Khanh đồng ý.

24/7/1965 Bộ TTM Bắc Việt gởi điện tín cho Bộ TTM TC chính thức yêu cầu Cộng sản Trung Hoa “gởi hai sư đoàn pháo binh đã chuẩn bị xong từ lâu để tham dự chiến dịch tại Việt Nam. Càng sớm càng tốt. Nếu được, những đơn vị này có thể đến Việt Nam ngày 1/8/1965.” Ngày hôm sau, Bộ TTM TC gởi điện tín cho hay họ sẽ gởi hai sư đoàn pháo binh và 1 trung đoàn sang Việt Nam ngay để bảo vệ đoạn Bắc Ninh-Lạng Sơn của con đường sắt Hà Nội-Hữu Nghị Quan và đoạn Yên Báy-Lào Cai thuộc đường hỏa xa Hà Nội-Lào Cai. Đó là hai đường xe lửa nối Bắc Việt với Trung Hoa. Ngày 1 tháng 8, 1965, hai sư đoàn pháo binh 61 và 63 của TC lần lượt tiến vào Việt Nam qua ngả Vân Nam và Quảng Tây.

Sư đoàn 61 đến Yên Báy vào ngày 5 tháng 8. Bốn ngày sau là cuộc đụng độ đầu tiên của đơn vị pháo binh này với máy bay F-4 của Mỹ. Với súng phòng không 37 ly và 85 ly pháo binh TC đã bắn hạ một máy bay F-4. Theo hồ sơ của TC thì đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị đơn vị pháo binh TC bắn rớt. Sư đoàn 63 đến Việt Nam qua ngả khu vực Kép, và ngày 23 tháng 8, theo tường trình, đã đụng trận, bắn rơi 1, và gây thiệt hại cho 1 phi cơ khác của Mỹ.

Có tất cả 63 trung đoàn thuộc 16 sư đoàn gồm 1500.000 quân TC đã tham chiến tại Việt Nam trong khoảng từ tháng 8, 1965 đến tháng 3, 1969. Những đoàn quân này đến Việt Nam trong 8 thời kỳ khác nhau, gồm những đơn vị pháo binh, không quân, hải quân và đôi khi từ Quân khu Côn Minh và Quảng Châu. Theo kinh nghiệm đã có trong chiến tranh Triều Tiên, quân TC có mặt tại Việt Nam trong khoảng thời gian 6 tháng, sau đó được thay thế bằng đơn vị khác, và cứ thế luân phiên. Công tác chính của đoàn quân TC là bảo vệ các cứ điểm và mục tiêu quan trọng, như các cầu có đường xe lửa trên hai tuyến Hà Nội-Hữu Nghị Quan và Hà Nội-Lào Cai, và bảo vệ đoàn công binh TC. Không có dấu hiệu nào cho thấy quân TC tham gia các chiến dịch ở phía nam Hà Nội hay trong các chiến dịch bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Đơn vị pháo binh cuối cùng của TC đã ròi Việt Nam vào trung tuần tháng 3, 1969. Thống kê của TC tự cho là những đoàn quân TC đó đã tham dự 2.154 trận chiến, đã băn rớt 1.707 máy bay Mỹ cũng như gây thiệt hại cho 1.608 máy bay khác. [
Nếu so sánh với tài liêu của Hoa Kỳ, có nhiều khả năng thống kê của Cộng sản Trung Hoa đã thổi phồng những con số máy bay Mỹ bị pháo binh TC bắn rơi và làm hư hại ở Bắc Việt.]

Dù đã được giới lãnh đạo của hai đảng Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam thảo luận trong mùa xuân-hè 1965, không lực của TC không khi nào tham chiến trên bầu trời Việt Nam cùng lúc với những đoàn pháo binh TC có mặt ở miền bắc Bắc Việt.

Tuy nhiên, chính sách phòng không của TC đối với máy bay Mỹ đã có thay đổi lớn vào đầu năm 1965. Trước đó UBQSTU CHNDTH đều ra lệnh cho lãnh đạo các cấp ở địa phương phải triệt để thận trọng trong mọi hành động chống trả lại máy bay Mỹ – mục tiêu chính trị quan trọng hơn kết quả ở chiến trường. Chính sách này đã rẽ ngoặt vào đầu tháng 4 (ngày 8-9) khi hai toán chiến đấu cơ của Mỹ bay vào không phận Trung Hoa ở đảo Hải Nam.

Theo lệnh của UBQSTU, 4 phi cơ của TC đã cất cánh theo dõi những máy bay của Mỹ. Được biết, máy bay Mỹ đã khai hỏa. Ngày 9 tháng 4, 1965, Tham mưu phó Vương Thành Vũ, báo cáo vụ việc với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông và đề nghị TC cần đánh mạnh vào những máy bay của Mỹ xâm lăng bầu trời Trung Hoa. Buổi chiều cùng ngày, Mao Trạch Đông ra lệnh cho không và hải quân TC đưa những đơn vị thiện chiến nhất đến trấn thủ ở miền Nam Trung Hoa và ở vùng biển phía nam [Biển Đông] thống nhất lực lượng và phản công khi máy bay Mỹ xâm lăng không phận Trung Hoa. Đến ngày 17 tháng 4, UBQSTU chính thức ra lệnh mới theo quyết định của Mao Trạch Đông. Từ đó đến tháng 11, 1968, theo thống kê của TC thì không quân TC đã tham dự 155 chiến dịch chống máy bay Mỹ xâm lăng không phận và đã bắn rơi 12 máy bay chiến đấu và những loại khác (không kể những máy bay không người lái). Không ai rõ tại sao TC thay đổi chính sách phòng không nhưng kết quả là TC đã gởi một thông điệp rất rõ cho Mỹ đồng thời trấn an VC.

Về những nhận định của ông Nguyễn Cao Kỳ năm 1967

1. Chiến tranh du kích của VNCH ở Bắc Việt (VNDCCH) – Ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương lúc đó, một là đang tiếu lâm làm duyên với báo giới Úc, hoặc hai là ông dấu đầu hở đuôi khi nói ông không thể tiết lộ chiến tranh du kích vì là bí mật quân sự đồng thời cho rằng chiến tranh du kích là một đề nghị, môt gợi ý hay.

2. Về viện trợ quân sự của TC cho Bắc Việt – Trong câu trả lời, ông Nguyễn Cao Kỳ cho hay là ông không tin rằng Hà Nội có thể yêu cầu Trung Cộng viện trợ quân sự hay đưa quân đội Cộng sản vào miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, ông đã cho báo giới Úc biết là tất cả vũ khí đạn dược tịch thu được của cộng sản ở chiến trường miền Nam đều là vũ khí của Trung Cộng tuy chưa khi nào bắt được quân TC. Và theo tin tình báo, Ông Kỳ cho biết tiếp, thì TC chỉ có mặt ở Bắc Việt trong vai trò cố vấn hay kỹ thuật sửa đường sắt.

Năm 2009, qua mạng Internet, tài liêu “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chống Pháp” chỉ được Việt Nam gián tiếp công bố qua bản dịch và hiệu đính của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Di, tức là 19 năm sau sau khi nhà xuất bản Giải phóng quân đã phát hành [năm 1990]. Nói cách khác CSVN chỉ công bố sự kiện này 53 năm sau khi đoàn cố vấn quân sự TC về nước. Nếu CSVN không thay đổi về mặt phổ biến tài liệu chiến tranh, và nếu CSVN vẫn độc tài toàn trị, có lẽ, người ta phải đợi ít nhất đến 2020-23 mới có thể xem được tài liệu của VNDCCH hay của Đảng CSVN nói về “viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam chống Mỹ” ở miền bắc Việt Nam.

Học giả thế giới nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam từ lâu đều cho rằng TC đã giữ một vai trò quan trọng trong việc viện trợ cho Cộng sản Việt Nam trong suốt cuộc chiến tuy không có tài liệu của hai đồng minh cộng sản cho đến khi CSTH công bố những tài liệu chiến tranh vào thập niên 1980 và đầu thập niên 1990.


Ông Kỳ biết là có “cố vấn” và “cán sự” TC sửa đường xe lửa ở miền Bắc cũng như vũ khí của TC tràn ngập ở chiến trường miền Nam.

Những số liêu và dữ kiện thượng dẫn [dù chỉ dựa trên thông tin, tài liệu do Đảng CSTH công bố] đã cho giới nghiên cứu hiểu rõ thêm về vai trò của Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam. Những dữ kiện và số liệu này cũng cho thấy ông Nguyễn Cao Kỳ hoàn toàn không hiểu biết, hay giả vờ như không hiểu biết gì về Cộng sản Việt Nam.

3.
Sự đoàn kết của dân Việt Nam trước hiểm họa TC – Ông Nguyễn Cao Kỳ nói:

“…Tôi nói “Không”. Vì nếu lãnh đạo Hà Nội làm như vậy thì tôi chắc chắn rằng tất cả người Việt Nam từ Bắc chí Nam sẽ đoàn kết đứng lên tiêu diệt chế độ [cộng sản] và bảo vệ đất nước của chúng tôi. Không thể có chuyện chế độ Hà Nội sẽ yêu cầu Trung Cộng viện trợ quân sự. Và nếu nó xảy ra, nếu nó xảy ra, tôi nghĩ rằng đó sẽ là dịp tốt để chúng tôi thống nhất đất nước.”

Thứ nhất, theo ông Nguyễn Cao Kỳ nếu quân Trung Cộng có mặt ở miền Bắc thì toàn dân cả nước sẽ đứng lên tiêu diệt chế độ cộng sản bảo vệ và đó cũng là cơ hội thống nhất đất nước. Thứ hai, tin tình báo đã cho ông Kỳ biết là có “cố vấn” và “cán sự” TC sửa đường xe lửa ở miền Bắc cũng như vũ khí của TC tràn ngập ở chiến trường miền Nam. Người đọc tài liệu lịch sử rất khó có thể tìm thấy logic trong lý luận của ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương vào năm 1967.

Đó là chuyện cuối thế kỷ thứ 20.

Bây giờ, đang ở thập niên thứ nhì của thế kỷ 21, Cộng sản Trung Hoa có mặt – khai thác beauxite ở cao nguyên miền Trung, v.v. TC có ảnh hưởng ngay trong bộ phận trung ương của Đảng CSVN và khắp nơi trên tòan lãnh thổ Việt Nam, từ bắc vào nam, từ đất liền ra biển đông và hải đảo.

Đến khi nào thì người ta mới thấy được sự đoàn kết của dân Việt Nam trước hiểm họa của Cộng sản Trung Hoa?

Nguồn: © 2013 DCVOnline

Tham khảo:
(1) South Vietnam – Visitors to Australia – Nguyen Cao Ky. Series 1838, 3014/10/10/4 PART 1.
(2) Trần Giao Thủy, Một tài liệu về cuộc chiến 1946-1954, Truyền Thông Communication, Số 32 & 33, Hạ – Thu 2009.
(3) Chen Jian, China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-69, The China Quarterly, No. 142 (Jun., 1995), pp. 356-387.



04/24/2013 11:10 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nỗi buồn 30/4 và những nghĩ suy _ Lê Diễn Đức

Nỗi buồn 30/4 và những nghĩ suy

Lê Diễn Đức

Tôi không hứng thú lắm khi viết về ngày 30/4 vì đã nhiều năm nay, năm nào cũng viết, nhưng những bài viết thường chỉ mang đến cho tôi những nỗi buồn hơn là những ký ức khó quên.

Cái buổi hôm ấy, lúc mọi người trong nhà tù Hỏa Lò khấp khởi vui mừng "chiến thắng" khi được giám thị thông báo, thì tôi đau xót, im lặng và hụt hẫng. Tôi vẫn hy vọng sau khi ra tù, sẽ tìm cách trốn vào Nam để sống. Với cái lý lịch ở tù, sự tồn tại vươn lên của tôi trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) chắc chắn sẽ vô cùng nan giải.

Tôi đã từng kín đáo hỏi thăm, tìm hiểu cách "chạy" vào Nam từ một người bạn tù. Khó khăn nhất là đoạn từ sông Bến Hải vào đến sông Hàn, Đà nẵng. Còn qua được sông Hàn thì mọi việc êm xuôi. Lúc này tôi vẫn hy vọng bộ đội miền Bắc không tiến được vào sâu hơn nữa. Tôi không nghĩ đến một cái "chiến thắng" nhanh chóng như vậy!

Thật chua xót. Tôi từng là anh chàng học sinh, biết được đi nước ngoài du học nhưng vẫn rủ đám bạn bè trong lớp lấy máu viết thư xin đi bộ đội. Ra chiến trường, dù có chết, với chúng tôi thật vô cùng ý nghĩa. Tôi đã tận mắt trông thấy và tham gia cứu thương trong những trận dội bom của máy bay Mỹ xuống làng mạc miền Bắc làm chết nhiều người. Chỉ với lòng căm thù đế quốc Mỹ. Sôi sục ý chí trả nợ nước thù nhà.

Nhưng rồi dần dà tôi đã hiểu. Đây là chiến tranh. Một cuộc chiến tranh khốc liệt, tắm máu, huynh đệ tương tàn, cho việc nhuộm đỏ toàn đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), một cuộc chiến ý thức hệ, rõ ràng và nhất quán. Mỹ và miền Nam đã phải nỗ lực ngăn chặn và bảo vệ tự do.

Năm 1954, Việt Nam chia hai. Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, là quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc. Miền Nam sẽ thanh bình, phát triển và đi lên nếu như miền Bắc không gây chiến và phá rối. Người ta có thể thống nhất đất nước bằng nhiều cách, không cần đổ máu, không cần đến "bạo lực cách mạng", mà nước Đức là một ví dụ.

Nhưng để đánh chiếm miền Nam, miền Bắc có thể "đốt cả dãy Trường Sơn", dồn cả dân tộc vào máu lửa, quyết tâm trở thành "tiền đồn" của cả phe XHCN.

Hồ Chí Minh từng nói: “Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại, và coi Liên Xô là Tổ quốc Cách Mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”- (1959, HCM toàn tập, tập 11, trang 166).

Còn Lê Duẩn, trả lời phỏng vấn BBC Việt Ngữ, Nguyễn Mạnh Cầm, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã nói: "Chính sách này dựa trên nền tảng "một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!".

Vâng, hầu như tất cả mọi phương tiện cho cuộc chiến, sản xuất, cũng như mọi nhu yếu phẩm cho đời sống, từ hạt gạo đến cây kim, sợi chỉ, đều do Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thống cộng sản đổ tiền vào cung cấp. Nhưng vì "tất cả cho chiến trường", dân miền Bắc đã phải cam chịu cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn, dồn hết tinh thần và vật chất cho công cuộc "giải phóng miền Nam".

Và miền Bắc đã "giải phóng" miền Nam. Ngày 30/4/1975.

Trong bài "Phản nhân văn", nói về cuốn sách "Bên Thắng Cuộc" của nhà báo Huy Đức, tờ Công an Nhân dân (CAND) viết:

"Đáng kinh ngạc nhất là Huy Đức “nhai lại” ý kiến sai trái, xạo xược của Dương Thu Hương. Trước khi sang châu Âu sống lưu vong, bà ta phun ra hàng loạt phát ngôn điên loạn, trong mớ hổ lốn, hồ đồ đó, có đoạn nói rằng, ngày mới đặt chân đến Sài Gòn, bà ta đã choáng ngợp trước cuộc sống tiện nghi ở miền Nam, khác rất xa với cuộc sống khó khăn ở miền Bắc: “Tôi đã ngồi phệt xuống vỉa hè Sài Gòn khóc, tôi biết miền Nam đã giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại...”.

Giờ đây, Huy Đức lại bắt câu đó với hàm ý khen miền Nam nhiều hàng hóa và đời sống sung túc hơn miền Bắc, tự do dân chủ hơn miền Bắc nên đã “giải phóng” ngược lại miền Bắc! Về đoạn này, trên mạng có bài viết ký tên “nhà văn Đông La” phân tích: “Cái nền văn minh mà Huy Đức thấy qua “mấy chiếc xe đạp bóng lộn”, “cặp nhẫn vàng chóe”, “những chiếc máy Akai, radio cassette” rồi “rạp chiếu bóng, nhạc viện và sân khấu ca nhạc”... đều có từ “925 tỷ USD” mà Mỹ đã chi cho cuộc chiến ở Việt Nam kèm theo 58.000 nhân mạng nữa để rồi mất trắng trở về...”.

Không chỉ nhà văn Dương Thu Hương khóc mà sau ngày "giải phóng", nhiều người khác đã vỡ mộng! Phải có tấm lòng thật nhân văn mới hiểu rằng, tiếng khóc của Dương Thu Hương là thành thật và là sự cảnh báo. Những thứ mà họ "giải phóng" và huỷ hoại thì chính họ chứ không ai khác lại đã quay lại một thập niên sau đó.


Sài Gòn tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO

925 tỷ USD đã Mỹ chi cho cuộc chiến ở Việt Nam. Vâng, nhưng thử hỏi bao nhiêu tỷ USD mà Liên Xô, Trung Quốc và phe XHCN đã rót cho miền Bắc kèm theo hàng triệu nhân mạng cũng ra đi không trở về?

Người miền Nam không chỉ có "những chiếc xe đạp bóng lộn", "cặp nhẫn vàng choé"... Việt Nam Cộng hoà (VNCH), trong 20 năm, tuy chưa có một nền dân chủ hoàn toàn, phải đối mặt với tình trạng chiến tranh, nhưng đã có một nền kinh tế đa dạng, một xã hội văn minh, một nền giáo dục kỷ cương đáng tự hào, một tập quán sinh hoạt công cộng lịch lãm và tiến bộ. Những người gắn bó với VNCH có lý do chính đáng để tiếc nuối. Những thứ này sau 1975 đã dần dần bị băng hoại.

Còn “mấy chiếc xe đạp bóng lộn”, “cặp nhẫn vàng chóe”, “những chiếc máy Akai, radio cassette”, tất tật mọi thứ của miền Nam sau ngày 30/04/1975, muốn hay không muốn, chúng vẫn trùng trùng nối nhau ra Bắc. Tôi vẫn nhớ cuối năm 1975, hình ảnh ở khu tập thể quân đội số 3B đường Ông Ích Khiêm, Hà Nội. Cứ tối đến, hàng xóm quây quần, xúm xít ngồi xem phim qua chiếc Motorola của gia đình mang từ trong Nam ra. Máy truyền hình ở miền Bắc lúc đó là cả nột tài sản lớn.

Bài báo CAND viết tiếp:

"Cũng cần phải nhắc lại rằng: từ số tiền khổng lồ đó, Mỹ đã đổi ra 7,5 triệu lít chất độc da cam/dioxin; 7,85 triệu tấn bom đạn để rải xuống Việt Nam, giết chết khoảng 4 triệu người, gây thương tật cho hàng triệu người khác, nhất là những đứa trẻ nạn nhân của chất độc da cam/dioxin; tàn phá hàng ngàn thành phố, thị xã, làng mạc, trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo...

Thế nhưng Huy Đức, Dương Thu Hương và một vài “nhà dân chủ” mới được “bơm”, cố tình không hiểu điều đó, họ tôn thờ tiện nghi vật chất hơn phẩm giá và lòng tự trọng của một dân tộc, sùng bái “bơ”, “sữa”... hơn xương máu của những người con dân đất Việt đã ngã xuống để có độc lập, tự do hôm nay!".

Tôi không nghĩ rằng, "số tiền khổng lồ đó, Mỹ đổi ra 7,85 triệu tấn bom đạn, để giết chết khoảng 4 triệu người và thương tật cho hàng triệu người khác". Cái chết của khoảng 4 triệu người và thương tật của hàng triệu người khác có sự can dự của cả hàng triệu tấn đạn dược của Liên Xô, Trung Quốc. Cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968, những cuộc pháo kích, đánh mìn, nổ bom vào các chợ, trường học, rạp hát... Cuối cùng, đây là con số của cả cuộc chiến. Chiến tranh, bên nào cũng đều phải sử dụng đến súng đạn.

Còn "7,5 triệu lít chất độc da cam/dioxin" diệt cỏ, phát quang của Mỹ không nhắm vào dân thường mà nhắm vào nơi ẩn trú của Việt Cộng. Có thể nó để lại di hại cho môi trường nhưng không quá bị thổi phồng như bộ máy tuyên truyền của cộng sản. Tôi đã vào sống trong Nam và đi nhiều nơi, ở đâu cũng thấy màu xanh cây lá. Những đám rừng bị chất độc da cam xa lắc lơ đâu đó tôi không có cơ hội nhìn thấy. Còn nạn phá rừng giờ đây khủng khiếp hơn nhiều. Bọn cơ hội bắt tay với các quan chức cộng sản phá rừng, lấy gỗ làm giàu, mà Trầm Bê hay Cường Đô La là những ví dụ. Thực phẩm độc hại mà dân Việt dùng hôm nay, chủ yếu từ Trung Quốc, công khai huỷ diệt nòi giống Việt, làm cho bệnh ung thư của Việt Nam ở vị trí cao nhất thế giới và mỗi năm chết khoảng 75 ngàn người, man rợ và bi thảm hơn nhiều. Người ta cứ thích nhớ mãi cái đã qua đi gần 40 năm mà cho phép mình "quên" hiện tại trước mặt!

Sùng bái "bơ", "sữa" không ai hơn những quan chức cộng sản, những "đại gia" đỏ phè phỡn với ô tô siêu sang trọng, nhà lầu, người hầu kẻ hạ, con cái đi du học nước ngoài. XHCN không thấy đâu, nhưng tư bản chủ nghĩa ngấm sâu vào từng sinh hoạt nhỏ nhất của giới chức có quyền, của những ông "vua tập thể" trong triều đại phong kiến-cộng sản quái thai này.


Quân đội Bắc Việt áp giải tù binh miền Nam, tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO

Tôi quen thân với ông Nguyễn Lương Thuật, một cựu sĩ quan hải quân VNCH, cư ngụ ở Seattle, tiểu bang Washington. Chiều 29/4/1975 ông chỉ huy một chiến hạm và đã tiếp nhận hàng trăm người leo lên tàu di tản khỏi Sài Gòn., Ông đã đứng ngẩn ngơ nhìn con tàu xa dần bến bờ quê hương và thầm nghĩ, thôi, dù sao cũng đã chấm dứt một cuộc chiến, những người cộng sản đã thắng, đất nước thống nhất, mong rằng họ sẽ đưa đất nước phát triển, bình yên và dân chúng được hạnh phúc. Ông đã chết năm 2007 vì ung thư và mang theo giấc mơ vô cùng vị tha của mình xuống mồ.

Máu xương của những người con đất Việt đã ngã xuống, nước nhà thống nhất, độc lập, nhưng hoàn toàn không có tự do. Người Việt phải bỏ nước ra đi, tha phương cầu thực, sự chia rẽ vẫn nhức nhối. Đất nước nằm trong tay một tập đoàn bao gồm các băng nhóm trục lợi. Quyền tự do của công dân bị bóp nghẹt và đàn áp. Không có bầu cử tự do, không có báo chí tự do, cả một hệ thống chính trị là một nhà tù vĩ đại giam cầm, khống chế dân tộc.

Những người đã từng dấn thân, bị tù đày cho chính thể hôm nay đã phải thất vọng. Có lẽ câu nói của ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, mang tính đại diện nhất: "Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay".

Cầm quyền 38 năm, và còn tiếp tục 39, rồi 40 năm và có thể sẽ lâu hơn, ĐCSVN đã chứng tỏ là một tập đoàn phản động, phản bội, chạy theo đồng tiền bất chấp lợi ích và chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Nhân dân, những người đã bỏ xương máu để có nhà nước hôm nay, trở thành kẻ nô lệ, bị lừa gạt và sống trong sợ hãi của sự đàn áp, bị u mê bởi những trò mị dân "mua thần bán thánh", hoặc bị lên đồng điên khùng bằng những chất kích hoạt khác. Đất nước là tổng thể của một bức tranh ô hợp, lạc loạn, kẻ có địa vị giàu có cứ tiếp tục giàu có thêm, kẻ bần cùng vật lộn với miếng ăn hàng ngày, phó mặc sự đời, kỷ cương phép nước và các giá trị đạo đức của xã hội đảo lộn.

38 năm "giải phóng" thực sự trở thành 38 năm kinh hoàng của thời kỳ phong kiến-tư bản man sơ, hoang dã với mỹ từ "kinh tế thị trường định hướng XHCN". Vâng, chỉ mới "định hướng" thôi, còn tiến về đâu không biết. 38 năm đi hoài, đi loanh quanh, đi mãi về một nơi mà chẳng bao giờ biết nó là cái gì cả, có tồn tại hay không.

Lê Diễn Đức

Nguồn: Lê Diễn Đức Blog



04/24/2013 10:16 PM


linhtran
Re :   Phân Ưu Nhạc Mẫu ATBĐ Dương Phước Ngân

"Yvan Hoang" kytruongbia46@yahoo.com

 PHÂN-ƯU




Tin đau buồn Nhạc Mẫu của A.T.B.Đ. Dương Phước Ngân.
Bà Quả Phụ NGUYỄN VĂN MINH.
Nhũ Danh : CÔNG TẰNG TÔN NỮ TỐ LY.
Pháp Danh : THỊ - THÔNG .
Đã tạ thế hồi 08g sáng,ngày 20 tháng 04 năm 2013.
Tại Sài-Gòn , VIỆT-NAM.
HƯỞNG THỌ 93 Tuổi .
Toàn thể GĐ. A.T.B.Đ. Online...GROUPS.
Chân thành chia buồn với
Anh Chị  Dương Phước Ngân , Đông-Hải ; cùng toàn thể Tang Quyến.
Nguyện cầu HƯƠNG-LINH Cụ Bà CÔNG TẰNG TÔN NỮ TỐ LY
Được sớm SIÊU SANH CỰC LẠC QUỐC .

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

GĐ A.T.B.Đ. Online...




"Xuan Nguyen" balamatusa@gmail.com


Photo
 
PHÂN ƯU
NHẬN ÐƯỢC TIN BUỒN NHẠC MẪU ATBĐ DƯƠNG PHƯỚC NGÂN:
Bà Quả Phụ NGUYỄN VĂN MINH
Nhủ Danh CÔNG TẰNG TÔN NỮ TÔ LÝ
Pháp Danh THỊ THÔNG 
VỪA QUA ÐỜI LÚC 8 GIỜ SÁNG NGÀY  20/4/2013 
TẠI SÀI GÒN, VIỆT NAM
HƯỞNG THỌ 93 TUỔI
GIA ÐÌNH CTNCT AÍ TỬ BÌNH ÐIỀN  HOUSTON VÀ VÙNG PHỤ CẤN 
CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG ANH CHỊ
DƯƠNG PHƯỚC NGÂN-ĐÔNG HẢI  VÀ  TOÀN THỂ TANG QUYẾN
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH  CỤ BÀ CÔNG TẰNG TÔN NỮ TỐ LY 
ÐƯỢC SIÊU SANH  CỰC LẠC  QUỐC
 
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
 
GÐ ATBÐ HOUSTON TX 

Photo

  



04/24/2013 8:07 PM


linhtran
Chủ Đề :   Phân Ưu Nhạc Mẫu ATBĐ Dương Phước Ngân

"Quyen Duong" ngubinh1991@yahoo.com

PHÂN ƯU

NHẬN ÐƯỢC TIN BUỒN NHẠC MẪU ATBĐ DƯƠNG PHƯỚC NGÂN:

Bà Quả Phụ NGUYỄN VĂN MINH
Nhủ Danh CÔNG TẰNG TÔN NỮ TÔ LÝ
Pháp Danh THỊ THÔNG

VỪA QUA ÐỜI LÚC 8 GIỜ SÁNG NGÀY 20/4/2013
TẠI SÀI GÒN, VIỆT NAM

HƯỞNG THỌ 93 TUỔI

TOÀN THỂ ANH EM GIA ĐÌNH ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN BẮC CALI
CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG ANH CHỊ
DƯƠNG PHƯỚC NGÂN-ĐÔNG HẢI VÀ TOÀN THỂ TANG QUYẾN
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH CỤ BÀ CÔNG TẰNG TÔN NỮ TỐ LY
ÐƯỢC SIÊU SANH CỰC LẠC QUỐC

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

T/M GIA ĐÌNH ATBĐ BẮC CALI
HỘI TRƯỞNG - LÊ HỮU NGA




"Chau Nguyen" chau8511@yahoo.com

PHÂN ƯU

NHẬN ÐƯỢC TIN BUỒN NHẠC MẪU ATBĐ DƯƠNG PHƯỚC NGÂN:

Bà Quả Phụ NGUYỄN VĂN MINH
Nhủ Danh CÔNG TẰNG TÔN NỮ TÔ LÝ
Pháp Danh THỊ THÔNG

VỪA QUA ÐỜI LÚC 8 GIỜ SÁNG NGÀY 20/4/2013
TẠI SÀI GÒN, VIỆT NAM

HƯỞNG THỌ 93 TUỔI

TOÀN THỂ ANH EM GIA ĐÌNH ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN BẮC CALI
CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG ANH CHỊ
DƯƠNG PHƯỚC NGÂN-ĐÔNG HẢI VÀ TOÀN THỂ TANG QUYẾN
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH CỤ BÀ CÔNG TẰNG TÔN NỮ TỐ LY
ÐƯỢC SIÊU SANH CỰC LẠC QUỐC

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

BCH/ GIA ĐÌNH ATBĐ NAM CALI



04/24/2013 7:49 PM


linhtran
Chủ Đề :   30-4-1975: Thắng cuộc hay Tội đồ? _ Trần Gia Phụng

30-4-1975: Thắng cuộc hay Tội đồ?

Trần Gia Phụng

Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975. Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc. Nhân ngày 30 tháng 4 sắp đến có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

I. Thế nào là bên Thắng cuộc?

Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc? Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.

Những bên tham chiến vừa qua là: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN), Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN). Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN. Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và MTDTGPMN tuy hai mà một, do đảng Lao Động (LĐ) điều khiển. Tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, được mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và “giải phóng hoàn toàn miền Nam...” (1). Sau Đại hội nầy, đảng LĐ thành lập MTDTGPMNVN, ra mắt tại Hà Nội ngày 12-12-1960 và ra mắt tại xã Tân Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (vùng chiến khu Dương Minh Châu) ngày 20-12-1960.

Trong chế độ dân chủ, quyền tuyên chiến, quyền quyết định chiến tranh, một vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến vận mạng đất nước, thuộc về quốc hội, đại diện toàn dân quyết định. Ở BVN, quyết định chiến tranh và tuyên chiến, lại do đảng LĐ quyết định, chứ không do quốc hội, chứng tỏ rõ ràng rằng đảng LĐ nắm quyền tuyệt đối ở BVN, và nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là bù nhìn của đảng LĐ mà thôi. Thế là BVN khởi binh đánh NVN.

Tuy viện cớ thống nhất đất nước, nhưng thực sự đảng LĐ quyết tâm đánh chiếm miền Nam vừa vì tham vọng bành trướng cố hữu của CS, vừa làm tay sai quốc tế cho Liên Xô và Trung Quốc. Lê Duẩn bí thư thứ nhất đảng LĐ, đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (2)

Liên Xô (LX) và Trung Quốc (TQ) đều mang đặc tính chung của các nước CS là luôn luôn chủ trương bành trướng, bá quyền. Tại LX, ngày 15-10-1964, Leonid Brezhnev đảo chánh và lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev. Brezhnev, tăng cường viện trợ BVN, gởi quân và chuyên viên sang giúp BVN. Đây là khởi đầu chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà về sau các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev, theo đó. “Nguyên lý Xô viết về luật quốc tế khẳng định quyền của Cộng đồng Cộng sản can thiệp bất cứ ở đâu mà các lực lượng nội tại và ngoại lai thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản tìm cách biến đổi sự phát triển một nước theo chủ nghĩa xã hội hướng về chủ nghĩa tư bản, một tình thế được xem có tính cách đe dọa đối với tất cả các nước cộng sản.” (3)

Trung Quốc ở sát ngay phía bắc của Việt Nam. Từ năm 1950, TQ giúp CSVN vừa vì sự cầu viện của CSVN và của Hồ Chí Minh, vừa vì lợi ích an ninh bản địa TQ. Mao Trạch Đông đã từng nói: “Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau.”

Thật vậy, từ năm 1956, mối bang giao TQ - LX rạn nứt. Liên Xô bao vây TQ ở phía bắc và phía tây. Phía tây nam, Ấn Độ chận TQ. Phía đông (biển Thái Bình) là hàng rào ba nước đồng minh của Hoa Kỳ và ký hiệp ước phòng thủ song phương với Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nếu để cho Hoa Kỳ bao vây luôn BVN, thì TQ bị chận hết các đường ra biển. Vì vậy, TQ giúp BVN chẳng những do ý thức hệ CS và sự cầu viện của BVN, nhưng đồng thời cũng do TQ bị bao vây các mặt, trừ một phần phía nam TQ là BVN.

Năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam không đồng ý chia hai đất nước, nhưng nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Genève (20-7-1954). Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa năm 1955. Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ tự do dân chủ, dầu hạn chế vì chiến tranh, duy trì nền văn hóa dân tộc cổ truyền, hệ thống giáo dục khai phóng, cởi mở, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại cuộc xâm lăng của BVN. Tuy nhiên, vì yếu sức, VNCH phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Sau thế chiến thứ hai, từ năm 1946, trên thế giới bắt đầu xảy ra chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và CS. Hai khối tư bản và CS tranh chấp quyết liệt trên toàn cầu. Tuy vậy Hoa Kỳ và Liên Xô tránh đụng độ trực tiếp vì cả hai đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai đều thiệt hại. Tình trạng tranh chấp căng thẳng nhưng không đánh nhau nầy, gọi là chiến tranh lạnh.

Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối CS dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực. Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị CS chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo. Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ.

Vì vậy, khi TQ (ngày 18-1-1950) rồi LX (ngày 30-1-1950) thừa nhận nhà nước VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thì Hoa Kỳ (ngày 4-2-1950) và Anh (ngày 7-2-1950) thừa nhận chính phủ QGVN do Bảo Đại làm quốc trưởng. Từ đó, Hoa Kỳ giúp Pháp và QGVN chống lại CSVN.

Sau hiệp định Genève, Việt Nam bị chia hai. Để ngăn chận làn sóng CS ở Đông Á, nhất là ngăn chận Trung Quốc xuống phía nam, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954. Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ).

Trong phụ bản (protocol) của hiệp ước SEATO, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và NVN được liệt kê trong vùng lãnh thổ được SEATO bảo vệ. Hoa Kỳ dựa vào phụ bản nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á, và giúp xây dựng NVN thành một “tiền đồn chống cộng”. Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi cố vấn sang giúp NVN. Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến.

Tuy nhiên, vào cuối thập niên 60, tình hình thay đổi.

1) Giới phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

2) Trong khối CS, cuộc tranh chấp LX-TQ càng ngày càng trầm trọng. Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chính sách ngoại giao toàn cầu. Khi lên cầm quyền năm 1969, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định rút quân ra khỏi NVN bằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh nhằm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ; đồng thời Nixon thay đổi chính sách ngoại giao đối với khối CS, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô, đào sâu sự chia rẽ giữa LX và TQ.

Richard Nixon sang thăm TQ từ 21-2 đến 28-2-1972, và ký kết với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bản Thông cáo chung Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng cho chính sách của cả hai bên về Đông Á cho đến ngày nay. Tiếp theo, Richard Nixon thăm Liên Xô từ 22 đến 30-5-1972, cùng Leonid Brezhnev ký kết hiệp ước SALT (Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp ước giới hạn võ khí chiến lược) ngày 26-5-1972, và hứa hẹn sẽ cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc (most favored nation).

Sau hai cuộc viếng thăm nầy, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam. Quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ cho VNCH. Quân đội VNCH thiếu nhiên liệu, thiếu phương tiện chiến đấu, đành buông súng; VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975.

II. Ai là bên Thắng cuộc?

Dựa trên mục đích của các bên tham chiến và diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam được sơ lược trên đây, vấn đề đặt ra là ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

Trước hết và rõ ràng nhất, sau cuộc chiến vừa qua, người CS thường huyênh hoang tự hào là họ là kẻ thắng cuộc. Quả thật, ngày 30-4-1975, VNCH sụp đổ, VNDCCH chiếm được NVN, thực hiện mục tiêu “giải phóng” miền Nam đã được đề ra trong Đại hội III đảng LĐ ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Tuy nhiên, sau khi CS làm chủ toàn bộ đất nước, CS có thật sự là bên thắng cuộc hay không?

Ngay tức khắc, sau khi CS chiếm NVN, khoảng 150.000 người di tản ra nước ngoài. Tiếp đến là phong trào vượt biên. Dầu CS kiểm soát gắt gao, khoảng trên 1.500.000 bỏ nước ra đi bằng tất cả các phương tiện, “cây cột đèn cũng muốn ra đi”, trong đó khoảng 500.000 người bỏ mình ở biển Đông. Biển Đông trở thành nghĩa địa biển lớn nhất thế giới. Ở trong nước, nhiều phong trào nổi lên chống đối CS đều bị đàn áp. Như thế, CS chiến thắng bằng súng ống, chiếm được đất đai, nhưng hoàn toàn thất bại về nhân tâm, không chiếm được lòng người, không thống nhất được lòng dân.

Những người ra đi bị ghép tội “phản động”, chạy theo bơ sữa “đế quốc Mỹ” năm 1975, sau đó bỗng chốc trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều yêu nước”. Nhà nước CS kêu gọi hòa giải hòa hợp với “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chỉ có một nhóm người đếm được trên đầu ngón tay, tìm kiếm chút hư danh, về nước nói là “đóng góp xây dựng đất nước”, trong khi đại đa số người Việt hải ngoại chẳng có nhu cầu hòa giải hòa hợp với CS toàn trị. Về Việt Nam du hí thì có, nhưng về Việt Nam để giúp chế độ CS thì không. Như thế, CSVN có phải là “bên thắng cuộc” hay không?

Phải vay nợ súng ống thì mới có súng ống chiến đấu. Cộng sả n Vay nợ LX và TQ. Vay nợ thì phải trả nợ. Sau năm 1975, CSVN trả nợ LX, giao hải cảng Cam Ranh cho LX và muốn chạy theo LX để xù nợ TQ, liền bị TQ dạy cho một bài học năm 1979, làm 6 tỉnh biên giới tan hoang. Năm 1990, khối Đông Âu sụp đổ, CSVN quay qua đầu phục TQ ở Thành Đô (TQ), đưa đến các hiệp ước 1999 và 2000, mất đất mất biển. Sau đó còn nhiều chuyện tiếp theo, thuê rừng, khai thác bauxite, tấn công ngư dân...

Sau năm 1975, một điểm nổi bật là hầu hết người BVN, từ cán bộ, bộ đội, đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc. Người Bắc (1975) thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà CS gọi là "nhạc vàng", đọc sách Nam, từ tiểu thuyết trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam. Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng LĐ (năm 1976 cải danh thành đảng CS) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam. Chẳng những thế, hầu như toàn thề BVN cũng được Nam hóa, trang bị bằng sản phẩm của NVN, nghĩa là được đồng hóa theo NVN. Cho đến nay, CSVN muốn trở lại con đường của NVN, duy chỉ muốn bảo vệ quyền lực đảng CSVN. Ngang đây, cũng tạm đủ để cho thấy CSVN có phải là kẻ thắng cuộc hay không?

Về phần VNCH, ngày 30-4-1975, quân đội VNCH bị thiếu tiếp liệu, súng ống, đành phải ngưng chiến đấu. Chính phủ VNCH sụp đổ. Cộng sản đặt ách thống trị lên NVN. Tuy nhiên, dân chúng còn bị kẹt lại ở trong nước, vẫn quy hướng về chính thể VNCH, vẫn mong muốn hít thở không khí tự do dân chủ của VNCH, luôn luôn tưởng nhớ VNCH, nghĩa là linh hồn VNCH vẫn còn đó. Vì bị đàn áp, dân chúng đành lặng thinh, nhưng ai ai cũng mong sẽ có ngày giải trừ CS, tái xây dựng chế độ Cộng hòa. Vậy làm thế nào giải thích hiện tượng nầy? Phải chăng VNCH chỉ tạm thời thất bại năm 1975 nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt. Anh linh VNCH còn đó. Ai cũng tin sẽ có ngày VNCH phục sinh. Thời gian sẽ trả lời.

Về các nước ngoài: Hoa Kỳ mang tiếng là đã bị CSVN đánh cho “Mỹ cút”, nhưng thật sự Mỹ không cút, Mỹ cũng chẳng “tháo chạy” (như tựa đề quyển sách Khi đồng minh tháo chạy), mà phải nói cho thật đúng diễn tiến lịch sử là Mỹ tức Hoa Kỳ ngưng, không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và Hoa Kỳ đã thành công trong các mục tiêu chiến lược của họ: Rút quân khỏi Việt Nam, giải quyết chuyện nội bộ Hoa Kỳ, bắt tay với Trung Quốc, và cuối cùng chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh với LX khi LX sụp đổ năm 1991. Riêng nội bộ Hoa Kỳ, nhân dân Hoa Kỳ mất gần 60,000 thanh niên ưu tú trong chiến tranh Việt Nam. Đổi lại Hoa Kỳ thí nghiệm nhiều loại võ khí tối tân tại Việt Nam, kể cả những chuyến oanh kích thử nghiệm đầu tiên của B52. Tư bản kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ thu lợi như thế nào thì không được thống kê đầy đủ.

Ngoài ra, một số đồng minh của Hoa Kỳ cũng hưởng lợi: Nhật Bản phục hưng nhanh chóng nền kỹ nghệ sau thế thiến thứ hai nhờ cung cấp hàng tiêu dùng cho Việt Nam, nhất là cho quân nhân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam. Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân nhờ VNCH làm lá chắn ngăn chận làn sóng CS và các nước nầy kịp phục hồi kinh tế và an ninh để chống lại sự bành trướng của TQ.

Trung Quốc thu lợi nhiều mặt. Trước hết, thông qua chiến tranh Việt Nam, TQ bắt tay được với Mỹ năm 1972, được Mỹ thừa nhận chỉ có một nước TQ, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ TQ, công nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy, ý ám chỉ Liên Xô. Đó là những điều TQ mong muốn nhất.

Về biển Đông, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ để TQ viện trợ cho BVN đáng NVN. Vì vậy năm 1974, nhân cơ hội VNCH bị Mỹ bỏ rơi, bị BVN tấn công dồn dập, TQ ra tay cướp đoạt Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH. Sau năm 1975, khi CSVN chạy theo LX, muốn trốn nợ TQ. Trung Quốc liền đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, dạy cho CSVN một bài học. Vì vậy, khi Đông Âu lung lay, CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng TQ năm 1990, đưa đến hai hiệp ước 1999 và 2000. Trung Quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam. Như vậy, tuy không được tiếng là bên thắng cuộc, nhưng TQ là kẻ thu hoạch nhiều nhất sau chiến tranh Việt Nam.

Liên Xô viện trợ cho BVN không kém gì TQ. Đầu năm 1975, viện trợ của LX cho BVN để BVN đánh NVN tăng gấp bốn lần so với trước. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.) Sau năm 1975, Việt Nam gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế) ngày 27-6-1978. Ngày 3-11-1978, Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN, sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX,Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước. Từ sau hiệp ước nầy, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào sử dụng hải cảng Cam Ranh làm căn cứ tại Viễn đông.

Có hai ảnh hưởng gián tiếp đáng ghi nhận sau chiến tranh Việt Nam:

1) Khi rời bỏ Việt Nam năm 1975, Hoa Kỳ chủ trương để lại nguyên vẹn và không phá hủy tất cả máy móc thiết bị mà Hoa Kỳ giao lại cho VNCH. Cộng sản rất mừng tiếp nhận được những chiến lợi phẩm nầy. Sau ngày 30-4-1975, đại diện các nước CS trên thế đến thăm viếng NVN, chúc mừng sự thành công của CSVN, rất ngạc nhiên về những chiến lợi phẩm nầy, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, y khoa của Hoa Kỳ so với Liên Xô mà lâu nay Liên Xô bưng bít, giấu kín. Nhờ đó, các nước Đông Âu mới biết rõ sự cách biệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, khiến họ giảm tin tưởng đối với đàn anh Liên Xô và bắt đầu nhìn về phía Hoa Kỳ, nhập cảng sản phẩm của Hoa Kỳ, tạo tâm lý thuận lợi cho sự sụp đổ của khối CS.

2) Làn sóng vượt biên vĩ đại của người Việt Nam chạy ra nước ngoài tỵ nạn CS sau năm 1975, khiến cho lương tâm thế giới, nhất là các nước Tây Âu, lâu nay thiên tả là một “thời trang”, bừng tỉnh về giấc mộng “xã hội chủ nghĩa”, ghê sợ và chán ghét các chế độ CS. Các nước Tây Âu quay qua giúp đỡ các phong trào kháng chiến ở các nước CS Đông Âu, góp phần dần dần đưa đến sự sụp đổ của hệ thống CS Đông Âu.

III. Kết luận

Đặt kết quả chiến tranh Việt Nam trong chiều rộng của không gian và trong chiều dài của thời gian, mà vẫn khó có thể thẩm định ai là bên thắng cuộc. Tuy nhiên chắc chắn có hai điều rất rõ ràng:

1) Toàn dân Việt Nam ở cả Bắc và Nam Việt Nam đều thua cuộc về nhiều mặt. Ngoài thiệt hại vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, hàng triệu gia đình tan nát vì chủ nghĩa CS, hàng triệu người tử vong vì chiến tranh do CS gây ra, nền văn hóa và đạo đức suy đồi trầm trọng.

2) Thủ phạm của tấn thảm kịch nầy chính là kẻ đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai bạo tàn, chính là kẻ đã rước voi về giày mồ tổ tiên, chính là kẻ chủ trương gây chiến để phục vụ quyền lợi ngoại bang và chỉ làm lợi cho ngoại bang dù là CS hay tư bản. Chúng là những tên phản quốc dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho kẻ thù phương bắc. Đám nầy không ai khác hơn là tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN. Sau năm 1975, chúng dần dần lộ diện. Chúng mất trắng tất cả vốn liếng chính trị mà chúng đã dày công lừa phỉnh toàn dân Việt Nam và thế giới. Chúng không phải là bên thắng cuộc. Chúng chẳng những trở thành kẻ thua cuộc, mà chúng còn là tội đồ dân tộc. Lịch sử sẽ ghi tội, hậu thế sẽ đời đời lên án.

Trần Gia Phụng

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

_____________________________

Chú thích:

(1) Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 2001, tt. 154-155.

(2) Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

(3) The New Lexicon Webster's Encyclopedic Dictionary of English Language, Nxb. Lexicon, New York, 1988, mục "Brezhnev Doctrine".

(4) La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch. Montreal: Nxb. Tạp chí Truyền Thông (in lại), số 32 & 33, 2009, tr. 27.)



04/24/2013 7:48 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn Hưng Quốc _ Khủng bố

Khủng bố

Nguyễn Hưng Quốc


Cảnh hỗn loạn sau vụ nổ bom tại cuộc đua marathon ở Boston, ngày 15/4/2013.

Chiều Thứ Hai 15 tháng Tư, hai quả bom tự chế nổ ngay ở mức đến của cuộc thi marathon tại thành phố Boston thuộc tiểu bang Massachusetts, Mỹ. Đây là cuộc thi marathon có truyền thống lâu đời (bắt đầu từ năm 1897) và là một trong những cuộc thi marathon nổi tiếng nhất thế giới. Năm nay có đến trên 23.000 người tham dự và cả hàng trăm ngàn người dự khán đứng chật trên các ngả đường. Hai tiếng đồng hồ sau khi những người chạy đua đầu tiên cán đích, lúc cả hàng ngàn người khác đang hổn hển cố hết sức hoàn tất cuộc thi, bỗng nghe “ầm ầm”, hai quả bom nổ liên tiếp. Tiếng nổ chát chúa. Mọi người hốt hoảng chạy tán loạn. Ba người chết và trên 170 người khác bị thương.

Tin tức về cuộc nổ bom hầu như ngay tức khắc lan đi khắp thế giới.

Lúc ấy ở Úc là sáng sớm ngày Thứ Ba. Tôi thức dậy lúc năm giờ rưỡi, và, như thói quen, mở computer, liếc qua các tờ báo mạng ở Úc và ở Mỹ, ở đâu tôi cũng thấy tin tức về vụ nổ bom nằm trên cùng. Tôi liếc qua, vừa nghĩ đến cuộc khủng bố vừa nghĩ đến thành phố Boston, nơi tôi ghé thăm cách đây không lâu. Rồi tôi đi bơi ở một hồ tắm trong thành phố. Trên đường từ bãi đậu xe vào hồ bơi, gặp một người bạn già người Úc, ông ấy vồ ngay tôi hỏi về vụ nổ bom ở Boston mà ông ấy mới nghe loáng thoáng từ radio trên xe. Vừa nhảy xuống hồ bơi, một người bạn khác, cũng người Úc và cũng khá già, nhào đến nói chuyện về vụ nổ bom ấy. Mấy phút sau, một người bạn Việt Nam đến, lại nói về vụ nổ bom. Một tiếng đồng hồ ở hồ bơi, có bốn năm người đến nói chuyện về biến cố ấy. Ra khỏi hồ bơi, đi ngang qua phòng soát vé, tôi thấy cả hàng chục người đứng trước màn ảnh ti vi trên tường theo dõi tin tức ở Boston. Đến trường, các đồng nghiệp của tôi lại cũng xôn xao bàn tán về cùng một đề tài. Sau đó, một người bạn của tôi, nói chuyện qua điện thoại, cũng đề cập đến chuyện ấy. Rồi xuýt xoa: “May mà mình không ở Boston lúc này!” Rồi dặn dò: “Sắp tới, anh đi Mỹ, nhớ cẩn thận!” Tôi cười hỏi lại: “Cẩn thận là sao?” Bạn tôi cười, không biết trả lời ra sao cả.

Tôi kể dông dài những chuyện trong ngày ở Úc để cho thấy tác động của vụ nổ bom ở Boston, cách thành phố nơi tôi đang ở đến 17.000 cây số. Mà, nghĩ xem, vụ nổ bom ấy, thật ra, không quá lớn. Với ba người chết, tác hại của vụ nổ bom ấy chỉ bằng một tai nạn nho nhỏ vẫn thường xảy ra đây đó, hằng ngày. Vậy mà, khác hẳn các tai nạn khác vốn phần lớn chỉ được đề cập trên báo chí địa phương rồi nhanh chóng bị chìm hút vào quên lãng, vụ nổ bom ở Boston lại gây chấn động khắp thế giới. Và khiến mọi người lo sợ.

Đó là sự khác nhau giữa khủng bố và các loại bạo động khác.

Bạo động thì ở đâu và thời nào cũng có. Việc giết người hầu như xảy ra hằng ngày. Dư luận thường chỉ chú ý đến những vụ giết người tập thể: Một người nào đó, vì lý do nào đó, cầm dao hay cầm súng nhào đến các trường học hoặc các trung tâm thương mại / trung tâm du lịch, giết hết người này đến người khác. Ở Úc, vụ giết người tập thể gây sôi nổi trong dư luận nhất là vụ Martin Bryant, một thanh niên 28 tuổi, cầm súng bắn xối xả vào các du khách ở Port Arthur, Tasmania, giết chết 35 người và làm bị thương 23 người vào ngày 28 tháng Tư năm 1996. Ở Mỹ, gần đây nhất, vụ Adam Lanza, một thanh niên 20 tuổi, mang súng vào một trường tiểu học ở Newtown, Connecticut, giết chết 27 người, bao gồm 21 trẻ em và sáu thầy cô giáo, vào ngày 14/12/2012 rồi sau đó tự tử. Tất cả các vụ giết người ấy đều là bạo động. Là tàn sát. Nhưng không phải khủng bố.

Một thời gian ngắn ngay sau vụ nổ bom ở Boston, Tổng thống Mỹ Barack Obama xuất hiện trước ống kính bày tỏ sự quan tâm của ông đối với thảm kịch nhiều người đang chịu và thể hiện quyết tâm trong việc truy tìm thủ phạm. Nhưng ông không dùng chữ khủng bố (terrorism). Ngày hôm sau, xuất hiện trước báo chí, nói về cùng một đề tài, ông tuyến bố đó là một hành động “khủng bố”. Và định nghĩa: “Bất cứ khi nào bom được dùng để nhắm vào dân thường, nó đều là một hành động khủng bố.” (Any time bombs are used to target civilians, it is an act of terrorism.)

Đó là một cách nói đơn giản của người lãnh đạo nhằm nhấn mạnh vào tầm quan trọng của biến cố và nhằm thể hiện sự quan tâm đối với sự an toàn của dân chúng. Đó cũng đồng thời là một mệnh lệnh để các lực lượng an ninh, từ cảnh sát đến tình báo, cũng như cả guồng máy chính phủ nói chung, phải dốc sức đối phó và giải quyết.

Nhưng đó không phải là một định nghĩa hoàn hảo. Rất dễ thấy: Không phải vụ sử dụng vũ khí (bất kể là súng hay bom) nhắm vào dân thường nào cũng đều là khủng bố. Hai vụ tàn sát ở Port Arthur và Newtown kể ở trên đều không phải là khủng bố.

Vậy khủng bố là gì?

Trước hết, cần lưu ý là khủng bố không phải là hiện tượng mới. Có lẽ từ khi xuất hiện loài người, đặc biệt từ khi xuất hiện các tranh chấp giữa người và người, khủng bố đã xuất hiện. Đó là hình thức đấu tranh của những người yếu thế, trong các tổ chức nhỏ và hoạt động một cách bí mật. Có điều, càng ngày khủng bố càng phát triển. Từ biến cố 11/9/2001, nó trở thành một hiện tượng mang tầm quốc tế, thu hút sự chú ý của mọi người trên khắp thế giới. Càng phát triển, định nghĩa về khủng bố lại càng phức tạp. Ở Mỹ, các định nghĩa do Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và cơ quan FBI đưa ra đều nhấn mạnh vào mấy đặc điểm chính: Đó là việc sử dụng bạo lực (a) một cách bất hợp pháp (b) nhắm vào thường dân, (c) nhằm gây sợ hãi, và (d) gây ảnh hưởng lên chính phủ để đạt được một số mục tiêu chính trị nào đó. Các định nghĩa khác của Liên Hiệp Quốc năm 1992 cũng mang nội dung tương tự.

Hai đặc điểm đầu chỉ có tính chất mô tả, không có gì đáng kể. Hai đặc điểm sau mới quan trọng.

Thứ nhất, khủng bố nào cũng có mục tiêu chính trị. Các cuộc khủng bố của các phong trào quốc gia giành độc lập dưới chế độ thực dân, của các phong trào Cộng sản và của các lực lượng Hồi giáo cực đoan sau này đều nhắm đến mục tiêu chính trị. Tuy nhiên, không có cuộc khủng bố nào có thể thay đổi tình hình chính trị ngay tức khắc. Khủng bố không phải đảo chính. Đảo chính là nỗ lực cướp chính quyền. Khủng bố hiếm khi có tác động trực tiếp lên chính quyền. Khủng bố tác động lên chính quyền và chính trị qua một đường vòng: nó nhắm đến quần chúng, gây tác động lên quần chúng, từ đó, quần chúng lại tác động lên chính quyền và chính quyền sẽ thay đổi chính sách; khi chính sách thay đổi, chính trị cũng thay đổi theo.

Ở đây, chúng ta sẽ đối diện với đặc điểm thứ hai của khủng bố: Gây sợ hãi. Hiệu quả của khủng bố không nằm ở mức độ tác hại cụ thể và trực tiếp nó gây ra mà chủ yếu ở mức độ hoang mang sợ hãi của quần chúng. Với đặc điểm này, khủng bố, một mặt, bao giờ cũng được tiến hành một cách bí mật, nhưng mặt khác, hậu quả của nó phải được phơi bày một cách công khai trước mắt càng nhiều người càng tốt. Vì bất cứ động cơ gì, dù là vì chính trị, mang một người vào một góc rừng bắn chết rồi vùi xác đâu đó, không ai hay biết gì cả, không phải là khủng bố. Nó chỉ đơn giản là một hành động giết người. Vậy thôi. Trong bài “The nature of modern terrorism”, Jonathan R. White nêu lên ba khía cạnh của khủng bố hiện đại, trong đó, khía cạnh đầu tiên và cũng là khía cạnh quan trọng nhất là: “Để hiệu quả, khủng bố phải phải được thấy và được nghe. Như một thủ lãnh khủng bố đã tóm tắt, giết một người trước một ống kính tốt hơn là giết một trăm người ở một chỗ bí mật. Những tên khủng bố cần có khán giả.”

Tính chất “hoàn hảo” của cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Mỹ không phải chỉ ở chỗ nó giết chết gần 3.000 người mà còn, quan trọng hơn, nó diễn ra ngay ở Trung tâm Thương mại Thế giới (World Trade Centre) tại New York, một biểu tượng không phải của Mỹ mà còn của chủ nghĩa tư bản nói chung. Nếu các mục tiêu tấn công nằm ở một nơi nào khác, ví dụ một làng quê hay một thị trấn nhỏ nào đó, ý nghĩa của nó sẽ khác hẳn: Nó không có hoặc có rất ít “khán giả”.

Vụ nổ bom ở Boston ngày 15/4 vừa rồi cũng mang tính chất tinh vi của một cuộc khủng bố. Các quả bom được gài ngay ở đích đến, trung tâm chú ý của mọi người tham dự tại chỗ cũng như của hàng chục ống kính truyền hình và hàng trăm, thậm chí, hàng ngàn ống kính máy chụp hình cũng như máy quay phim cá nhân. Nhờ thế, nó sẽ có “khán giả” ở khắp nơi trên thế giới. Cho đến lúc tôi viết bài này, chiều Thứ Bảy 20/4 tại Úc, Dzhokhar Tsarnaev, một trong hai nghi phạm của vụ đặt bom đã bị bắt (tên kia, Tamerlan Tsarnaev, đã bị bắn chết trước đó). Chỉ có hai chi tiết quan trọng được công bố: Một, cả hai anh em là người Nga (gốc Chechnya), qua Mỹ từ năm 2002; và hai, cả hai đều là tín đồ Hồi giáo nhiệt thành. Chưa có tiết lộ nào về, một, hai anh em Tsarnaev làm việc một mình hay có một tổ chức nào đứng sau họ; và hai, động cơ thực sự của họ đằng sau vụ đặt bom ấy là gì. Nhưng về tính hiệu quả, quả thực họ đã thành công trong việc khiến mọi người, không những chỉ ở Boston mà còn ở nhiều nơi khác rất xa Boston, sợ hãi.

Sự sợ hãi ấy dễ làm cho người ta có cái nhìn lệch lạc về nạn khủng bố.

Theo công trình nghiên cứu của trường University of Maryland, từ năm 1970 đến 2011, trên thế giới có khoảng 104.000 vụ tấn công khủng bố. Theo Viện Kinh tế học và Hòa bình (Institute of Economics and Peace), trong suốt 10 năm qua, đặc biệt những năm gần đây, nạn khủng bố tăng vọt trên 158 quốc gia. Mười phần trăm các quốc gia trên thế giới hứng chịu đến 75% trên tổng số các vụ khủng bố. Năm 2011, có đến 4.564 vụ khủng bố, giết hại 7.473 người và làm bị thương 13.961 người. Cũng trong năm 2011, đứng đầu danh sách khủng bố là Iraq, sau đó là Pakistan, Afghanistan, Ấn Độ, Yemen, Somalia, Niegeria, Thái Lan, Nga và Philippines.

Số nạn nhân chết vì khủng bố ở Iraq chiếm một phần ba tổng số nạn nhân trên thế giới trong suốt thập niên vừa qua. Năm 2011, số các cuộc khủng bố thành công lên đến 90%, hầu hết đều bằng các loại vũ khí thô sơ. Khác với ấn tượng chung của mọi người, từ năm 2002 đến 2011, Bắc Mỹ là nơi tương đối ít xảy ra khủng bố: Tỉ lệ khủng bố ở Bắc Mỹ thấp hơn ở Tây Âu đến 19 lần. Theo bảng xếp hạng của Global Terrorism Index, Mỹ chỉ đứng hạng 41, sau Indonesia (hạng 29), Anh (hạng 28), Ai Cập (hạng 27), Hy Lạp (hạng 26), Trung Quốc (hạng 23), Na Uy (hạng 21).

Điều thú vị là trong số 31 quốc gia không hề xảy ra một cuộc khủng bố nào từ năm 2002 đến 2011, có Cuba, Lào, Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore và… Việt Nam.

Nhắc đến Việt Nam, tôi sực nhớ đến hai chuyện:

Thứ nhất, trước năm 1975, Cộng sản Việt Nam vốn rất nổi tiếng về các “thành tích” khủng bố. Theo Anthony James Joes, trong các phong trào gọi là “trừ gian” ở Việt Nam, đối tượng chính của các cuộc giết người phần lớn là các công chức cấp thấp hoặc là các giáo viên, những người, một, có tinh thần quốc gia và hai, tương đối có ảnh hưởng trong làng xã (1). Mục đích của các cuộc khủng bố ấy không phải là trừng phạt bản thân những người ấy mà chủ yếu là để lôi kéo dư luận, để tạo nên không khí bất an trong xã hội, để đe dọa dân chúng và để mọi người không thể tin tưởng là chính quyền miền Nam có thể bảo vệ được họ. Theo Walter Laqueur, một chuyên gia về chiến tranh Việt Nam, các cuộc khủng bố của Cộng sản Việt Nam còn tàn khốc hơn cả các cuộc khủng bố ở Trung Quốc trước năm 1949 (2). Anthony James Joes tổng kết: cho đến cuối năm 1958, cộng sản giết chết 20% xã trưởng ở miền Nam. Riêng trong năm 1960, giết 1.400 viên chức địa phương và dân thường. Khoảng 1965, tổng cộng dân thường bị giết chết trong các cuộc khủng bố ấy là 25.000 người (3).

Thứ hai, ở Việt Nam cũng như ở Cuba và Bắc Triều Tiên, tuy không có các vụ khủng bố nhắm đến nhà nước, nhưng lại có vô số các cuộc khủng bố của nhà nước nhắm vào dân chúng. Thì việc trấn áp dã man những người biểu tình chống Trung Quốc, những blogger đòi tự do và dân chủ cũng như những người chống lại việc cưỡng đất đai rải rác trên cả nước trong những năm qua là khủng bố chứ còn gì nữa? Chúng không phải là những hành động trấn áp hay trả thù nhắm vào một số cá nhân mà còn là những nỗ lực gây sợ hãi trong dân chúng nói chung. Với các nạn nhân, đó là khủng bố cụ thể; với dân chúng, đó là khủng bố tinh thần.

Bởi vậy, mới có khái niệm “khủng bố (của/do) nhà nước” (state terrorism) hay khái niệm “nhà nước kinh hoàng” (state of terror) tồn tại cũng như duy trì sự tồn tại bằng các biện pháp khủng bố nhắm vào dân chúng.

Nhưng đó là chuyện dài. Từ từ tính sau.

***
Chú thích:
Anthony James Joes (1989), The War For South Viet Nam 1954-1975, New York: Fraeger, tr. 46.
Walter Laqueur (1977), Guerrilla, a Historical and Critical Study, London: Weidenfeld and Nicolson, tr. 262 & 271.
Anthony James Joes (1989), sđd., tr. 46.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com



04/22/2013 9:30 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn-Xuân Nghĩa _ Thiện và ác - Nhân quyền và khủng bố

Thiện và ác - Nhân quyền và khủng bố

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Monday, April 22, 2013

Khỏe dùng sức, yếu dùng mưu. Văn minh thì dùng luật...

Vụ đánh bom Boston hôm 15 là một hành vi khủng bố. Chưa cần biết “phải trái” gì, ta đã có thể kết luận như vậy vì mục tiêu là sát hại thường dân để gây ra sự sợ hãi, định nghĩa căn bản nhất của hành vi khủng bố.

Chuyện “phải trái” ở đây là xuất xứ hay động lực của nghi can. Khi tai họa vừa xảy ra và chưa rõ chi tiết, truyền thông cánh tả tại Mỹ vội kết luận rằng đấy là hành động của các nhóm cực hữu, loại dân quân tự phát của xã hội Hoa Kỳ. Truyền thông cánh hữu thì đưa ra giả thuyết tàn sát của các nhóm khủng bố Hồi Giáo cực đoan xưng danh Thánh Chiến Jihad với lối đánh bom dồn dập để gây tối đa thiệt hại.

Sau khi một nghi can bị thiệt mạng (Tamerlan Tsarnayev) và người em là Dzhokhar Tsarnayev bị bắt rồi đang được lấy khẩu cung trong nhà thương, người ta chú ý và bàn tán về chuyện khác: thí dụ như xuất xứ sắc tộc Chechen và động lực của hai nghi can; mối quan hệ hay không của kẻ gian với phong trào khủng bố Hồi Giáo tại Nga hoặc với lực lượng khủng bố al-Qaeda; sự xuất sắc hay sơ sẩy của nhân viên công lực, v.v...

Trong những ngày tới, đề tài sẽ gây tranh luận là cơ sở pháp lý của việc truy tố nghi can - theo thủ tục đặc biệt cho kẻ thù hay là quy chế thông thường cho một công dân phạm pháp? Nhìn từ bên ngoài, Hoa Kỳ là nơi hiếm hoi mà người ta thảo luận về cách đối xử với kẻ tàn sát. Ở nhiều xứ khác, nhà nước không gặp sự phiền phức đó! Bụp, beng, phập, đoàng, là các động từ đơn giản...

Khi lùi lại một chút để nhìn trên toàn cảnh - khảo hướng chung của cột báo này - chúng ta có thể thấy ra nhiều chuyện cũng đáng suy ngẫm.

Cách đây mới chỉ một thế kỷ thôi, các gia đình di dân đến từ Âu Châu phải mất khá nhiều thời gian hội nhập. Thế hệ đầu tiên có thể làm tá điền hay nông gia vùng Mid-West. Thế hệ sau mới mở ra cơ sở tiểu thương, rồi con cháu có thể vào đại học, trở thành doanh gia, kỹ sư, bác sĩ. Ba đời chắt bóp mới có vị trí của nhiều người tỵ nạn Việt Nam, hoặc của hai anh em Tsarnayev, xin lỗi. Là bước vào đại học và có một tương lai sáng sủa hơn quá khứ của cha mẹ ông bà ở quê nhà.

Hoàn cảnh chung của đa số có cho thấy sự tiến bộ vượt bậc của xã hội Hoa Kỳ, mà cũng là bối cảnh của cuộc tranh luận hiện nay về chánh sách di dân. Ngoại lệ là trường hợp của hai anh em Tsarnayev. Họ tách khỏi đại gia đình, từ chối hội nhập mà quay về quê cũ đầy hỗn mang và chọn giải pháp tai hại nhất: Trở thành đặc công khủng bố. Và tấn công xã hội đã cưu mang họ.

Trình độ “tác nghiệp”, trong ý nghiệp vụ lẫn nghiệp chướng, của hai anh em có tính chất thô sơ với lối chế tạo võ khí tàn sát được al-Qaeda tại bán đảo Á Rập phổ biến trên mạng và tạp chí “Inspire”. Sau khi giết người, họ chẳng tìm cách đào thoát để có thể tái diễn hành động khủng bố và xiển dương một chính nghĩa ma quỷ nào đó. Khi bị truy lùng lại cán xe lên nhau để bỏ chạy...

Ðộng lực của nghi can có thể là cuộc Thánh Chiến cho đạo Hồi hay công lý cho dân Chechen vì họ là nạn nhân của chính quyền Nga - từ thời Xô Viết của Stalin năm 1944 đến hai trận chiến và mười mấy năm tao loạn ở Chechnya... Nhưng dù là bất cứ gì, ta nên nghi ngờ loại lý tưởng cao đẹp có thể biện minh cho hành động sát nhân, và trở lại chuyện nước Mỹ.

Hoa Kỳ tiếp nhận nhiều người từ tứ phương, với hành trang chất chứa nhiều vấn đề đặc thù của quá khứ mà đa số dân Mỹ không hiểu.

Trong số này, kẻ thoái hóa hoặc khó hội nhập có thể kết án sự thịnh vượng, hồn nhiên và cả tiến bộ khoa học kỹ thuật của nước Mỹ. Một số người còn học hỏi sự tiến bộ đó để trau dồi kỹ thuật giết người. Nhiều tay khủng bố đã từng tốt nghiệp kỹ sư và liên lạc để phổ biến sự hiểu biết đó trong mạng lưới của cái ác.

Tính chất cởi mở và cầu tiến của xã hội Hoa Kỳ cho phép thiện ác cùng sống chung. Và đua tranh. Then chốt ở đây là động lực tốt hay xấu, nói cho dễ hiểu mà khó giải, chính là cái “tâm”.

Chúng ta đều hiểu ra quy luật “khỏe dùng sức - yếu dùng mưu”.

Sức có thể là bạo lực, là chiến tranh. Mưu có thể là dùng sức của người khác để đạt mục tiêu của mình. Và hèn nhất trong các loại mưu là khủng bố. Nhưng xã hội văn minh là nơi mà người ta dùng luật pháp để chi phối cả cái sức lẫn cái mưu của mọi người hầu không ai, kể cả chính quyền, có thể chèn ép người khác. Trong ý nghĩa đó, Hoa Kỳ là một xứ văn minh vì coi trọng luật pháp.

Chính là tinh thần “trọng pháp” mới dẫn đến cuộc tranh luận hiện nay về cách truy tố và biện hộ cho một kẻ đã giết người tại Boston. Chỉ nội một việc Dzhokhar Tsarnayev vẫn được gọi là “nghi can” - chưa có tội - cũng cho thấy sự thận trọng và nhân bản của xã hội. Nhiều người có thể bực bội vì chính quyền sẽ lại tốn ngân sách để bảo vệ mạng sống cho nghi can rồi đưa ra tòa xét xử theo hệ thống luật lệ minh bạch và khá nhiêu khê phức tạp. Nhưng đấy là cái giá phải trả để bảo vệ nền dân chủ.

Những suy đoán của một số người về mưu mô quỷ quái của nhà chức trách để theo dõi tin tức và có khi xâm phạm nhân quyền còn phản ảnh một sự thật khác. Chính quyền có nhiệm vụ bảo vệ quyền dân, trong đó có cả quyền tự do và quyền đàn hặc chính quyền.

Theo dõi việc cơ quan FBI bị trách cứ vì từ năm 2011 đã thẩm vấn nghi can Tamerlan Tsarnayev theo lời yêu cầu của mật vụ FSB của Nga - hậu thân của KGB thời Xô Viết - mà lại để thoát, chúng ta mới thấy ra cái khó của nhân viên công lực: Chặt quá như Nga hoặc lỏng quá như Mỹ đều có thể là tai hại. Mà chặt hay lỏng thì đấy là phần suy diễn luật lệ, đôi khi bị chính trị hóa tại Hoa Kỳ.

Trong hoàn cảnh ấy, ta chú ý đến người dân.

Với sự phát triển của hình thái khủng bố tự phát, nội hóa, của những đặc công đơn lẻ trong xã hội tự do, chính là sự mẫn cán tham gia và hợp tác của người dân mới đem lại hy vọng ngăn ngừa và giải trừ. Bài học của vụ Boston Marathon là mọi gia đình đều phải quan tâm hơn nữa đến cách suy tư và hành động của con cái trong nhà - trước khi xảy ra thảm kịch. Nếu cộng đồng dân Chechen chú ý hơn nữa đến lề lối sinh hoạt của hai anh em Tsarnayev, có khi họ đã bảo vệ được cộng đồng, và nước Mỹ.

Sau cùng mới là tinh thần vô úy. Không hãi sợ lùi bước trước quân khủng bố là thái độ cần thiết.

“Chỉ Có Tại Nước Mỹ”:

Trong vụ khủng bố Boston Marathon, Jeff Bauman là nạn nhân bị nát bấy hai chân. Ông vẫn tỉnh táo giúp cơ quan FBI khi mô tả nhân dạng của một nghi can. Nhờ vậy mà nhà chức trách sớm phổ biến hình ảnh và dẫn tới việc hai nghi can thấy động mà tìm cách đào thoát rồi bị truy lùng. Hành vi của Bauman được mọi người ngợi ca. Theo kiểu Mỹ, gần vạn người liền chung góp được 360 ngàn qua mạng GoFundMe để trang trải chi phí y tế cho nhân vật anh hùng này. Ta nên để ý đến hiện tượng “crowd funding”, quyên góp tập thể từ nhưng người bình thường cho một mục tiêu công ích và bất vụ lợi của xã hội.

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com



04/22/2013 9:22 PM


linhtran
Chủ Đề :   Ngô Nhân Dụng _ Khi đảng Cộng Sản tự giải thể

Khi đảng Cộng Sản tự giải thể

Ngô Nhân Dụng

Sau khi chế độ quân phiệt ở Miến Ðiện chấp nhận con đường dân chủ hóa, nhiều người nghĩ đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nên theo gót họ. Theo một cách giản dị là họ có thể sửa đổi hiến pháp, bãi bỏ độc quyền thống trị của đảng, bắt đầu nới lỏng cho các quyền tự do phát biểu, tự do hội họp; và sau cùng tổ chức bầu cử cho nhiều đảng chính trị tham dự. Như vậy, họ có thể tuyên bố bắt đầu một tiến trình dân chủ hóa, như giới tướng lãnh ở Miến Ðiện đang làm.

Không biết những người cầm đầu đảng Cộng Sản có khả năng và can đảm dấn bước trên con đường như vậy không. Nhưng nếu họ làm như thế thật thì có thể đáng lo cho nước Việt Nam. Vì trong quá khứ đã có một đảng Cộng Sản đi theo con đường đó vào năm 1990, ở Bulgaria. Cho đến nay chế độ dân chủ ở nước đó vẫn chưa thực sự trưởng thành, mà vì thế nền kinh tế tiến chậm nhất trong số các nước Cộng Sản cũ ở Ðông Âu.

Tại các nước thay đổi chế độ khác, kinh tế suy sụp sau khi thay đổi thể chế vì thời gian chuyển tiếp gian nan. Nhưng không có nước nào mà tình trạng kinh tế suy yếu kéo dài như ở Bulgaria. Tại các nước khác, kinh tế suy yếu nhưng không làm cho dân chúng mất tin tưởng vào thể chế dân chủ; nhờ thế đời sống ngày càng được cải thiện. Ngay tại một nước không Cộng Sản như Tây Ban Nha, sau khi chế độ dân chủ thay thế chế độ Franco (chết năm 1975) thì tỷ lệ phát triển kinh tế cũng xuống thấp; từ trung bình 7% một năm (1960-1974) xuống thấp hơn 2% (1975-1985). Cùng lúc đó tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 3% lên tới 20%. Tuy vậy, dân chúng Tây Ban Nha, cũng như dân các nước cựu Cộng Sản như Hungary, Tiệp, Ba Lan, vẫn tin tưởng rằng thể chế tự do dân chủ là tốt nhất, so với các chế độ cũ; kinh tế suy yếu là hiện tượng ngắn hạn.

Tại Bulgaria thì khác. Kinh tế xuống quá khiến người dân chán cả thể chế tự do dân chủ. Mức sống giảm 40% trong 14 năm sau khi thay đổi chế độ. Lạm phát có lúc lên tới 122% một năm (1994) - tức là giá hàng hóa tăng gấp đôi - và tăng gấp bốn (311%, năm 1996). Ðến năm 1997, một chính phủ không Cộng Sản đắc cử, quyết tâm cải tổ cơ cấu và ngân hàng, nhờ thế dần dần khôi phục được niềm tin, kinh tế bắt đầu hồi phục. Từ năm 2000, sau khi việc đổi mới kinh tế được thực hiện toàn diện, kinh tế Bulgaria mới gia tăng với một tốc độ trung bình 6%, ngân sách chính phủ bắt đầu thặng dư. Trong năm 2012, lợi tức bình quân của dân Bulgaria đã lên trên 14,000 đô la Mỹ một năm, và tỷ lệ thất nghiệp dưới 10%. Tuy nhiên, viễn tượng phát triển kinh tế lâu dài ở Bulgaria vẫn chưa sáng sủa vì guồng máy chính quyền vẫn còn đầy tham nhũng, hệ thống tư pháp chưa vững chắc, vì thế quyền tư hữu cũng bấp bênh khiến giới đầu tư chưa yên lòng.

Tại sao con đường phát triển kinh tế và dân chủ hóa ở Bulgaria gặp nhiều chướng ngại như vậy? Nguyên do là vì đảng Cộng Sản Bulgaria đã “cướp thời cơ,” tự đứng ra thay đổi chế độ, để tiếp tục giữ quyền bính dưới một tên gọi mới. Ðây là một kinh nghiệm mà người Việt Nam cần nghiên cứu để tránh vết xe đổ.

Năm 1989, biến cố trong vùng Ðông Âu khiến đảng Cộng Sản Bulgaria lo sợ. Một ngày sau khi bức tường Berlin đổ (9 Tháng Mười Một năm 1989), Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Bulgaria đã họp nhau truất phế Tổng Bí Thư Todor Zhivkov (nắm quyền từ năm 1954), bầu một người mới. Nhóm lãnh đạo mới bắt đầu chương trình cải tổ chính trị theo trình tự của họ; mục đích để kiểm soát tình hình việc thay đổi. Tháng Hai năm 1990, đại hội đảng đã biểu quyết xóa bỏ điều số 1 trong hiến pháp giành độc quyền lãnh đạo cho đảng, cũng giống xóa bỏ như điều 4 ở Việt Nam. Ðể có một bộ mặt dân chủ hóa giống như thật, đảng Cộng Sản mời một nhóm người được coi là “đối lập” tới họp một “Hội nghị Bàn tròn” bàn công việc cải tổ chính trị.

Hành động này cốt để cho thấy họ cũng làm một công việc giống như các đảng Cộng Sản ở Ba Lan, Hungary và Tiệp Khắc. Nhưng các “Hội nghị Bàn tròn” ở hai nước kia khác hẳn. Vì tại hai nước đó đã có một hình thức xã hội công dân sinh hoạt mạnh từ trước. Ở Ba Lan là nhờ giới công nhân và các nhà trí thức trong Giáo Hội Công Giáo; mà nông dân Ba Lan cũng chưa bao giờ bị nạn tập thể hóa, đã quen sống tự lập, tự chủ. Tại Hungary kinh tế đã thay đổi dần dần trong ba chục năm, nông dân và giới tiểu thương được tự do làm ăn. ở Tiệp Khắc, phong trào Hiến Chương 77 đã khơi động những cuộc thảo luận về thể chế và xây dựng xã hội công dân. Còn tại Bulgaria, chế độ Cộng Sản theo đúng khuôn mẫu Stalin, không chấp nhận một ý kiến hay hành động nào độc lập ở bên ngoài đảng. Những người được gọi là “đối lập” chỉ dám lên tiếng về việc bảo vệ môi trường sống, nhưng cũng không thể hoạt động liên tục. Một số người, vào năm 1990 lại được “mời gia nhập đảng để giúp đảng cải tổ;” rồi họ cũng được mời vô tham dự “Hội nghị Bàn tròn!”

Sau đó, đảng Cộng Sản Bulgaria đổi tên thành đảng Xã Hội, và quyết định tổ chức bầu cử ngay vào Tháng Sáu. Thời gian bốn tháng này quá ngắn, không một đảng chính trị nào đủ sức tổ chức với nhau, cho nên đảng Xã Hội thắng phiếu, tiếp tục nắm quyền một cách chính đáng! Trong cuộc vận động, họ còn đi phao tin ở các vùng thôn quê rằng nếu đảng đối lập Liên Minh Lực Lượng Dân Chủ thắng thì sẽ cắt hết tem phiếu, dân sẽ không thể mua được đủ thực phẩm mà ăn! Năm 1992, đảng Xã Hội thất cử, dân được tự do bỏ phiếu đã chọn Liên Minh Lực Lượng Dân Chủ. Nhưng luật lệ bầu cử trong hiến pháp do đảng Cộng Sản viết ra đưa tới tình trạng quá nhiều đảng phái. Cho nên chính quyền cũng không có đủ đa số trong Quốc Hội để thực hiện các chương trình đổi mới kinh tế. Phe đối lập lên nhưng cũng có khuynh hướng muốn nắm toàn quyền, theo lối Cộng Sản! Năm 1994, phe không Cộng Sản lại thua, đảng Xã Hội, tức Cộng Sản cũ, lại chiếm đa số trong Quốc Hội. Họ nắm quyền trở lại nhờ liên minh với phong trào bảo vệ môi trường sống. Cho tới năm 1997, liên minh các đảng phái dân chủ mới được bầu trở lại cầm quyền. Trong thời gian hơn 10 năm từ khi đảng Cộng Sản tự thay đổi thể chế, guồng máy nhà nước vẫn nằm trong tay “chế độ cũ”. Giống như ở các nước thay đổi kinh tế mà không thay đổi chính trị, các “cựu đảng viên” Cộng Sản Bulgaria vẫn còn cơ hội sử dụng quyền hành trong tay để làm giàu cho chính họ! Vì vậy tình trạng tham nhũng, dĩ công vi tư, lạm dụng quyền hành vẫn tiếp tục.

Tại sao những người “không Cộng Sản” ở Bulgaria lại thất bại lâu như vậy? Một lý do khiến họ không tập hợp được lại thành những đảng phái mạnh là vì suốt 40 năm trong chế độ Cộng Sản họ chưa bao giờ được phép tham dự vào các hoạt động chính trị. Chế độ Cộng Sản ở đâu cũng làm cho người dân “phát chán chuyện chính trị”. Những người đối lập với Cộng Sản thường là những con người “có lý tưởng,” quen giữ thái độ phi chính trị, vì coi chính trị là nhơ bẩn. Trong một chế độ dân chủ tự do, các đảng chính trị luôn luôn do những cuộc thỏa hiệp giữa nhiều nhóm quyền lợi khác nhau. Ngay các ông Walesa ở Ba Lan và Havel ở Tiệp cũng đều khinh thường những thỏa hiệp chính trị, kể cả khi họ lên làm tổng thống! Thái độ này khiến cho việc thành lập các đảng chính trị không tiến hành được, hoặc không thể tụ họp lại được thành những đảng lớn. Luật bầu cử vụng về khiến có quá nhiều đảng trong Quốc Hội làm việc tập họp các nhóm quyền lợi khó hơn.

Dân chúng Bulgaria cũng trải qua kinh nghiệm Cộng Sản và họ cũng chán ngán chính trị như vậy. Ðó là một lý do chính khiến quá trình dân chủ hóa ở Bulgaria đi rất chậm so với các nước khác. Mà hậu quả là nền kinh tế bị suy yếu vì không cải tổ nhanh chóng và toàn diện như các nước khác.

Một tai họa cho dân Bulgaria là khi các đảng viên Cộng Sản tiếp tục nắm quyền thì họ có phương tiện để ngăn cản các kế hoạch cải tổ kinh tế, nếu đụng tới quyền lợi họ đang hưởng. Bulgaria còn bị hai tai họa khác diễn ra vì cuộc chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ chậm chạp trong một thời gian quá dài. Một là nạn mất chất xám khi những người có học và giới chuyên gia bỏ nước ra đi rất nhiều; hai là các băng đảng tội phạm ngày càng mạnh vì xã hội bất ổn.

Nếu đọc lại lịch sử Bulgaria, chắc các người cầm đầu đảng Cộng sản Việt Nam có thể thấy một đường “hạ cánh an toàn;” là chính họ bắt đầu việc thay đổi chính trị. Họ sẽ cố nắm quyền kiểm soát các bước cải tổ để có thể tiếp tục nắm quyền. Dù bỏ điều 4 trong hiến pháp, dù chấp nhận đa đảng và bầu cử tự do, họ vẫn có cơ hội đóng vai chủ nhân ông trong một thời gian dài!

Nhưng người dân Việt Nam cũng biết đọc lịch sử để rút kinh nghiệm. Chắc chắn không ai muốn bị lừa gạt, như dân Bulgaria đã mắc bẫy.

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com



04/21/2013 5:50 PM


linhtran
Chủ Đề :   Một số thiển ý cần chia sẻ _ Huỳnh Thục Vy

Một số thiển ý cần chia sẻ

Huỳnh Thục Vy

Có lẽ tôi dành quá nhiều sự quan tâm và giấy mực cho cuộc chuyển hóa Dân chủ ở Miến Điện. Nhưng rõ ràng đó là một hình mẫu mà những người Việt Nam tranh đấu cho Dân chủ phải lưu tâm. Bởi, nếu thành công của họ sẽ cổ vũ chúng ta, thì những khó khăn hiện tại sẽ làm nản lòng không ít người quan tâm.

Ngày 14 tháng 3 vừa qua, bà Aung San Suu Kyi đã xuất hiện tại mỏ đồng Monywa và đã phải đối diện với sự giận dữ của người dân địa phương, khi bà đến khuyên họ chấm dứt biểu tình chống dự án khai thác đồng liên doanh với Trung Quốc này, vì theo bà, điều đó sẽ làm tổn hại nền kinh tế quốc gia. Thứ nữa, đến nay, mâu thuẫn giữa người Phật giáo đa số và người Hồi giáo thiểu số vẫn chưa có cách giải quyết, những nhóm sắc tộc ở vùng biên giới - thân Trung cộng vẫn giữ lập trường chống đối chính quyền Miến Điện và cũng không có quan hệ tốt với bà Suu Kyi. Những khó khăn đó khiến không ít người kỳ vọng vào bà Suu Kyi, vào cuộc chuyển hóa ở Miến Điện cảm thấy hụt hẫng. Có nhiều nguồn dư luận cho là bà có xu hướng đi gần lại với giới quân phiệt, thiếu khả năng chính trị, thiếu kinh nghiệm nghị trường... Nhiều người còn cho là giải pháp kinh tế nên đi trước giải pháp chính trị để đảm bảo thành công cho nền dân chủ, rằng Dân chủ quá sớm cũng không phải là tốt. Tôi e rằng, một số người còn lấy những khó khăn trong bối cảnh chính trị tại Miến Điện hiện nay để chứng minh rằng: những người dân chủ đối kháng với chính quyền độc tài cũng không thể giải quyết khó khăn cho quốc gia, đứng một phía để chỉ trích luôn dễ dàng hơn làm người trong cuộc… Đứng trước những phân tích có lợi cho các chính quyền độc tài đó, cá nhân tôi có một vài thiển ý sau:

1/Thứ nhất, liên quan đến câu chuyện thỏa hiệp. Mong muốn một cuộc chuyển hóa ôn hòa, không đổ máu luôn là một điều đáng trân trọng; nhưng một sự thỏa hiệp với chính quyền độc tài bỏ qua Công lý (vẫn đảm bảo địa vị lãnh đạo, tài sản, cũng như không truy tố các lãnh đạo độc tài) luôn là một quyết định đầy thách thức, sẽ gây chia rẽ lớn trong hàng ngũ những người đấu tranh đòi Dân chủ và làm tổn thương niềm tin vào lẽ Công bằng. Những tội ác của các chính quyền độc tài có thể được một phe nhóm thỏa hiệp bỏ qua, nhưng điều đó không có nghĩa là nó cũng được những nạn nhân và dư luận dân chúng nói chung khoan thứ. Những bất công đã ăn sâu trong xã hội không thể nói gạt sang một bên là được.

Trong trường hợp Miến Điện, khi chấp nhận đối thoại với chính quyền độc tài và thỏa hiệp để trở thành Nghị sĩ, bà Suu Kyi và đảng của bà đã tự đẩy mình ra xa khỏi những nhóm đấu tranh đối lập khác và những nạn nhân của chế độ. Ở đó, chỉ có nhóm của bà từ vị trí đối kháng trở nên những người đồng sự với chính quyền, còn nhiều phe phái và nhiều người dân thường khác vẫn chưa tìm thấy lý do để tin tưởng và hợp tác với chính quyền.

Hơn nữa, sau nhiều năm bị quản thúc và đàn áp, thiếu trải nghiệm trên nghị trường, bà và đảng NLD sẽ phải xoay xở khó khăn trong môi trường chính trị ngột ngạt vì ưu thế nghiêng về tập đoàn quân phiệt. Bà đã trao cho họ thứ mà họ cần, đó là tính chính đáng; họ trao lại cho đảng của bà những chiếc ghế nghị sĩ bị siết chặt bởi sức ép tương quan lực lượng. Càng đi gần với chính quyền, bà càng xa lòng dân – thứ quý giá mà không phải lãnh đạo chính trị nào cũng có được. Đó là một cái giá không rẻ và người Việt chúng ta phải coi chừng!

2/Thứ hai, liên quan đến những chỉ trích về biểu hiện của bà Suu Kyi. Nền kinh tế và cả xã hội Miến Điện lụn bại và chưa thoát ra khỏi sự kềm tỏa của Trung Quốc, sau nhiều năm dưới chế độ độc tài. Họ đã và sẽ còn vô số nan đề cần giải quyết. Những vấn đề đó, hoặc do đặc thù của xã hội Miến Điện, hoặc do chính quyền độc tài tạo ra từ lâu, nay họ trao lại cho bà. Họ giải quyết không được, không sao, nhưng nếu bà vướng vào những rắc rối ấy, thì phe quân sự đã thành công trong việc làm giảm uy tín của bà. Bà trở thành bia đỡ đạn thay cho họ. Họ có thể vô hiệu hóa bà một cách rất… lịch sự.

Qua câu chuyện này, trước khi có những nản lòng không cần thiết, chúng ta nên cùng nhau suy nghiệm lại. Thực ra, Dân chủ là một quá trình, không phải là một phép màu có khả năng tháo gỡ mọi vấn nạn trong một sớm một chiều. Chúng ta nên tự hỏi, chúng ta đòi hỏi Tự do Dân chủ vì điều gì? Tất nhiên không phải là nhằm thủ đắc một cỗ máy sản xuất ra những chính trị gia kiệt xuất. Chúng ta đấu tranh vì một niềm tin rằng, chế độ dân chủ là chế độ khả dĩ nhất cho đến nay, giải quyết các vấn đề quốc gia dựa trên giá trị tự do, sự đồng thuận và lòng khoan dung. Chế độ Dân chủ không nhất thiết tạo nên những anh hùng trong chính trị, mà tạo ra cơ hội vận động nguồn năng lực trí tuệ quốc gia một cách sâu rộng nhất.

Vì thế, dẫu cho quả thực bà Suu Kyi hay các chính trị gia dân chủ trong tương lai của Việt Nam thiếu một số kỹ năng chính trị cần thiết, điều đó cũng không làm thối chuyển niềm tin của chúng ta vào Dân chủ. Thí dụ, những năm dưới thời Lech Walesa và nhiều năm sau đó, Ba Lan đã gặp phải nhiều khó khăn kinh tế - chính trị, nhưng hãy nhìn Ba Lan ngày nay xem! Dân chủ có thể không ngay tức khắc đưa một nhóm lãnh đạo tài giỏi lên nắm quyền, nhưng nó sẽ mở ra cánh cửa lớn để con cháu chúng ta chọn được những nhà lãnh đạo như thế lên điều hành đất nước trong tự do và thượng tôn pháp luật. Đó mới là phép màu thực sự của Dân chủ. Mọi khởi đầu luôn khó khăn, nhưng không bắt đầu, chúng ta sẽ không có cơ hội nào cả.

3/Thứ ba, liên quan đến các mối bất ổn xã hội. Các sắc tộc thiểu số ở vùng rừng núi Miến Điện giáp giới Trung Quốc đến nay vẫn mâu thuẫn với chính quyền Miến Điện , cũng không muốn có mối giao hảo với NLD và gần đây xung đột đã leo thang. Có ai dám đảm bảo, ở đây không có “bàn tay đen” của Trung Quốc nhúng vào? Và sẽ rất chủ quan nếu chúng ta nghĩ rằng, Việt Nam sẽ không vướng vào tình trạng tương tự.

Cũng như Miến Điện, Việt Nam có đường biên giới dài với Trung Quốc. Trung Cộng không chỉ khống chế, mua chuộc lãnh đạo độc tài ở Trung ương, họ còn cài cắm người ở những khu vực biên giới và mua chuộc các sắc dân vùng biên giới. Dưới chế độ độc tài, mâu thuẫn giữa các sắc dân thiểu số với chính quyền đa số được kiềm chế với sắp xếp ngầm từ Trung Nam Hải, các mâu thuẫn chỉ hiện diện đủ để được dùng như lá bài cho Trung Quốc gây sức ép, tạo sự lệ thuộc lên các chính quyền Trung ương tay sai. Nhưng khi quá trình chuyển tiếp dân chủ xảy ra, các mâu thuẫn đó sẽ được khuếch trương và được bật đèn xanh cho bùng đổ nhằm phá hoại nỗ lực xây dựng Dân chủ. Trung Quốc luôn tỏ ra là bậc thầy trong việc vận dụng chiêu bài này trong quan hệ quốc tế, mà sự điên cuồng của Bắc Triều Tiên là một ví dụ đặc sắc. Bởi vậy, sẽ không mấy ngạc nhiên nếu xã hội Việt Nam im ỉm dưới chế độ độc tài, nhưng sẽ nổi dậy sùng sục từ mọi phía khi quá trình chuyển tiếp bắt đầu. Đó là vận mệnh của các tiểu quốc nằm cạnh gã hàng xóm khổng lồ bất hảo.

4/Thứ tư, liên quan đến chỉ trích rằng bà Suu Kyi đi gần lại với giới quân phiệt. Như một ai đó đã nói đại loại: không có nền Dân chủ không đảng phái. Điều đó cho thấy vai trò của các đảng phái chính trị trong việc tạo ra một không gian cạnh tranh cầu thị trong chính trị dân chủ. Nhưng chỉ có đảng phải chính trị thôi chưa đủ, bởi nếu xã hội dân sự (XHDS) không trưởng thành, chính trường sẽ chỉ là nơi ngã giá, chia phần của các đảng phải, và tự do của người dân chỉ là bargaining chip giữa họ. Người ta sẽ rất khó khăn để tập hợp lại, chia sẻ và cùng làm việc trong tinh thần vô vị lợi như trong các NGO, nhưng họ rất dễ kết hợp lại thành phe phái để giành quyền lãnh đạo chính trị. Vì thế, người Việt không sợ Việt Nam tương lai thiếu đảng phái, chỉ sợ xã hội dân sự không đủ mạnh để giám sát các chính trị gia.

Nhìn vào trường hợp Miến Điện, với khát khao và sự đấu tranh cho dân chủ, họ đã có một cuộc chuyển hóa ôn hòa. Nhưng với cuộc chuyển hóa đó, nhà lãnh đạo đấu tranh dân chủ nay đã trở thành chính trị gia. Nếu trước đó, bà Suu Kyi đại diện cho lực lượng đối lập và các thành phần xã hội phản đối chính quyền; thì nay khi đã trở thành một chính trị gia, theo logic dân chủ, chính bà cũng cần bị áp lực và giám sát.

Nếu chỉ có đảng phải đối lập mà không có XHDS thì khi quá trình chuyển tiếp xảy ra, một khoảng trống lớn sẽ xuất hiện, sẽ không còn lực lượng nào đối trọng với quyền lực chính trị. Bởi vậy, có thể nói, không có XHDS sẽ không có dân chủ thực sự, cho dù có đa đảng và bầu cử tự do. Miến Điện đang trong quá trình chuyển tiếp, người Miến Điện phải nổ lực xây dựng khối dân sự để tiến tới một nền dân chủ đúng nghĩa, vì chính trị luôn tiềm ẩn nguy cơ phản bội. Và đó cũng là bài học cho Việt Nam. Thiển nghĩ, sự độc lập nhất định của các nhà vận động dân sự khỏi sự khuynh loát của các phe phái chính trị là cực kỳ cần thiết trong tình hình Việt Nam hiện nay.

Tôi không tin rằng giải pháp kinh tế đi trước cải cách chính trị (trong một thời gian không xác định) là tốt. Hãy nhìn vào một thí dụ điển hình: Trung Quốc. Là một quốc gia thành công (?!) trong giải pháp kinh tế của mình, Trung Quốc vẫn chưa cho thấy một triển vọng dân chủ khả quan nào cả.

Bỏ qua mọi ngụy biện có lợi cho các chính quyền độc tài, Dân chủ không mang tới bất ổn mà mang tới khả năng giải quyết bất ổn một cách hài hòa, dù trước mắt nó không thể ngay lập tức xóa bỏ mọi di sản tồi dở chồng chất từ lịch sử và từ chế độ độc tài. Dân chủ cũng không phải là việc trao quyền lực từ tay nhóm người này sang nhóm người khác mà là sự vận hành một cơ chế thông minh, nhân bản, tự do và khoan dung nhất trong lịch sử nhân loại. Những rắc rối đang xảy ra ở Miến Điện càng khiến chúng ta thận trọng hơn khi nghĩ đến giải pháp thỏa hiệp và chúng ta càng nỗ lực hơn để có những chuẩn bị thích hợp cho công cuộc dân chủ hóa của mình. Một sự khởi động về phía dân chủ càng sớm, khả năng tận dụng cơ hội của đất nước sẽ càng lớn.

Tam Kỳ tháng 4 năm 2013
Huỳnh Thục Vy

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com



04/20/2013 3:15 PM


linhtran
Chủ Đề :   Trí thức và độc tài _ Nguyễn Hưng Quốc

Trí thức và độc tài

Nguyễn Hưng Quốc - 17.04.2013


Chân dung Kim Nhật Thành (Kim Il-sung, 1912-1994) và Kim Chính Nhật (Kim Jong-il, 1942-2011) tại Quảng trường Kim Il-Sung ở Bình Nhưỡng.

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài quân phiệt với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe…chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trong nhất” trong cuộc đời của ông.

Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Heidegger, một trong những họa sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Hitler.

Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v. cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.

Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Xô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và trí thức ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hóa, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số trí thức Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hòa giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.

Một người thông minh & lương thiện thì không thể cộng sản,
Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, &
Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

Đành dùng chúng thay cho lời kết luận của bài viết.

Nguồn: Blog / Nguyễn Hưng Quốc



04/19/2013 11:59 AM


linhtran
Chủ Đề :   Chủ trương của cụ Phan Châu Trinh và tình hình Việt Nam hiện tại _Trần Gia Phụng

Chủ trương của cụ Phan Châu Trinh và tình hình Việt Nam hiện tại

Trần Gia Phụng

Gần đây, có nhiều ý kiến cho rằng chủ trương của cụ Phan Châu Trinh có thể góp phần giải quyết những khó khăn hiện tại ở Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là tại sao chủ trương của một nhà hoạt động chính trị cách đây 100 năm, lại có thể tái ứng dụng với tình hình ngày nay?

1) Bản chất chế độ cai trị

Khỏi cần phải nói, ai cũng biết chế độ Pháp bảo hộ Việt Nam là chế độ thực dân. Chế độ CS hiện nay ở trong nước có những đặc tính giống chế độ thực dân Pháp: ngu dân, bóc lột, đàn áp, tù đày. Chế độ CS Việt Nam chỉ khác chế độ Pháp là chế độ nầy do người Việt thành lập để đàn áp bóc lột chính dân Việt. Nhà nghiên cứu người Pháp, ông Jean Lacouture gọi hình thức cai trị nầy là “autocolonisation”, xin tạm dịch là “tự thực dân” hay “thực dân nội địa”, tức là một chế độ thực dân do người trong nước thiết lập, chứ không phải do người nước ngoài áp đặt. Chế độ tự thực dân CS hiện nay còn độc tài chặt chẽ hơn cả chế độ thực dân Pháp.

Trong khi ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều chủ trương dân chủ, tam quyền phân lập, thì CSVN đi ngược lại. Tam quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp của CS không phân lập, mà lại đồng quy về một mối, trong tay đảng CS. Rõ ràng nhất là điều 4 hiến pháp 1992 quy định rằng đảng CS là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trong sách L’Ecommunié [Kẻ bị rút phép thông công] đã gọi nhà cầm quyền Hà Nội là cánh tay nối dài của đảng CSVN.

Cần chú ý là cộng sản chiếm toàn bộ Việt Nam năm 1975. Theo các thống kê hiện nay, khoảng 2/3 dân số Việt Nam ở lứa tuổi dưới 40. Hai phần ba dân số nầy bị CS nhồi sọ từ 38 năm nay, hoàn toàn không được học Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Các em lớn lên dưới chế độ CS, nghe hoài, đọc hoài, học hoài điệp khúc lừa dối của CS qua các phương tiện giáo dục và truyền thông của nhà nước CS. Nhà nước CS còn bao cấp tất cả các việc kinh tế, chính trị, văn hóa, giải trí. Thế hệ thanh niếu niên nầy nghe nói láo mãi, nên bị nhập tâm và lầm tưởng rằng sự cai trị của CS là một tất yếu lịch sử, hay thiên mệnh Trời định. Có nhiều em không chấp nhận điều nầy như Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tấn Hoành, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Đắc Kiên… Tuy nhiên nhóm nầy rất thiểu số, có thể đếm được trên đầu ngón tay, bị đàn áp và cô lập ngay. Còn lại đại đa số thanh thiếu niên đành phải chấp nhận và bằng lòng với cuộc sống bưng bít dưới tay CS. Các lớp tuổi nầy thật đáng thông cảm. Đó là tình hình về dân trí.

Về dân khí, vì CS cai trị quá tàn bạo, nhất là sau các vụ Cải cách ruộng đất, biến cố Mậu Thân, tù đày dưới hình thức học tập cải tạo năm 1975, nên dân chúng sợ sệt CS không khác gì Tú Xương đã nói trước đây dưới thời Pháp thuộc: "Sĩ khí rụt rè gà thấy cáo."

Hiện nay, có người cho rằng sau một thời gian sợ sệt quá đáng, ngày nay dân khí dần dần phục hồi; có một số người viết bài gởi lên Internet kêu gọi dân chủ. Tuy nhiên, ở trong nước có mấy người dùng computer? Có mấy người vào được Internet? Những người lên tiếng công khai phản đối, liền bị CS mạnh mẽ đàn áp, bắt bớ, cô lập. Cộng sản bưng bít đến nỗi có nhiều người trong nước hiện nay vẫn chưa nghe hai bản nhạc tuyệt luân của Việt Khang, vẫn chưa biết Tạ Phong Tần, Điếu Cày là ai?

Vì vậy, phải công nhận một thực tế là đa số dân chúng trong nước vẫn an phận với cuộc sống do chế độ CS bao thầu tất cả các mặt trong sinh hoạt hàng ngày, giao khoán chuyện chính trị cho CS điều khiển, chỉ lo kiếm sống và hưởng thụ. Đó là lý do xảy ra hiện tượng nhiều người đâm đầu vào bàn nhậu suốt ngày, và say sưa từ ngày nầy qua ngày khác, tinh thần trở nên bạc nhược. Như thế còn gì là dân khí?

Vì không còn dân khí, nên đất nước bị Trung Quốc xâm lấn, dân Việt bị Trung Quốc khiêu khích, giết chóc mà quân đội VNCS, gọi là quân đội nhân dân “anh hùng”, không dám phản ứng. Vì không còn dân khí, cán bộ đảng viên không tin tưởng ở lý tưởng chính trị, không còn giữ liêm chính, không còn tự trọng, quay qua vơ vét, hối lộ tham nhũng, tạo thành một chế độ tham nhũng giây chuyền từ trên xuống dưới. Một dân tộc bạc nhược, không sinh khí, không sĩ khí thì dần dần sẽ đi đến chỗ suy vong.

Về dân sinh, một số người Việt hải ngoại trở về Việt Nam, cỡi ngựa xem hoa, thấy cảnh lầu cao nhà rộng, xe cộ rộn ràng ở thành phố, vội cho rằng hiện nay đời sống kinh tế người Việt đã được nâng cao. Thật sự chỉ có một nhóm tư bản đỏ và một số cán bộ đảng viên CS dựa vào thế lực, sống bám vào hối lộ tham nhũng và một số người được thân nhân ở bên ngoài giúp đỡ, trong khi đại đa số dân chúng vẫn nghèo khổ, nhất là dân chúng nông thôn. Chuyện nghèo đói ở Việt Nam hiện nay thì chẳng cần nói nhiều. Ai cũng biết.

Vì các lẽ trên đây, ngày nay thật là cần thiết phải trở về với chủ trương nâng cao dân trí, đề cao dân chủ, dân quyền, chấn hưng dân khí, phục hồi dân sinh mà Phan Châu Trinh đã hô hào cách đây hơn 100 năm, để cho toàn bộ thanh thiếu niên trong nước cũng như toàn dân, nhất là các đảng viên CS, hiểu rằng đất nước Việt Nam là của toàn dân, do toàn dân quyết định, ai cũng có quyền bình đẳng, mà không một ai có đặc quyền đứng trên toàn dân, độc quyền cai trị đất nước.

2) Tranh đấu bất bạo động

Pháp đặt nền bảo hộ tại nước ta năm 1884. Từ đó, người Việt Nam liên tiếp nổi lên chống Pháp trên khắp nước, mở đầu là phong trào Cần vương, đến phong trào Văn thân. Cho đến đầu thế kỷ 20, tất cả những cuộc võ trang khởi nghĩa đều bị Pháp đánh dẹp, vì võ khí thô sơ của người Việt Nam không chống lại được võ khí tối tân của Pháp.

Trước tình trạng nầy, Phan Châu Trinh đưa ra chủ trương tranh đấu bất bạo động, mở phong trào Duy tân, bắt đầu từ Quảng Nam năm 1905. Trong bài diễn thuyết tại Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội năm 1907, nhan đề là “Hiện trạng vấn đề”, Phan Châu Trinh phát biểu: “Không nên bạo động, bạo động thì chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng học.” Học tức để khai dân trí. Khai dân trí đi song song với chấn dân khí và hậu dân sinh, là những điểm chính trong chủ trương của Phan Châu Trinh.

So với tình hình Việt Nam hiện nay, đảng CS chiếm được toàn quốc năm 1975, áp đặt chế độ độc tài toàn trị. Dân chúng nhiều nơi chống đối. Quan trọng nhất là những phong trào kháng chiến từ Hải ngoại về nước kiếm cách phục quốc. Tất cả đều thất bại. Trong lúc đó, các nước trên thế giới quay qua làm ăn buôn bán với CSVN. Không một người ngoại quốc nào thương yêu và hy sinh cho Việt Nam. Họ chỉ đến Việt Nam để kiếm lợi và hưởng thụ mà thôi.

Vì vậy, việc tranh đấu võ trang không còn thích hợp, nên hiện nay người Việt cần phải trở lại con đường tranh đấu bất bạo động bằng văn hóa, chính trị và vận động tự do dân chủ mà Phan Châu Trinh đã mở ra cách đây 100 năm.

Nếu trước đây Pháp thấy rõ cuộc vận động văn hóa bất bạo động của Phan Châu Trinh là nguy hiểm, bắt đày ra Côn Lôn tất cả những nhân vật trong Phong trào Duy tân năm 1908 từ Bắc vào Trung, thì ngày nay, CSVN cũng rất sợ những cuộc vận động dân chủ bất bạo động ở trong nước mà cộng sản gọi là “diễn biến hòa bình”, bắt giam tất cả những nhà tranh đấu dân chủ trong nước, dù chỉ viết blog để bày tỏ tư tưởng mà thôi.

Lướt qua rất sơ lược tình hình Việt Nam như trên, thì rõ ràng ngày nay cần phải trở lại với chủ trương tranh đấu bất bạo động, nhất là nâng cao hiểu biết của dân chúng về dân quyền. Phan Châu Tinh đã nói: “Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì mọi việc khác có thể lần được.” (Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, tr. 116.)

Thật vậy, khi toàn dân ý thức được tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền là quyền lợi thiêng liêng của mọi người, thì toàn dân sẽ tự động đứng lên tranh đấu đòi hỏi chế độ CS hoặc phải thực thi dân chủ, hoặc phải tránh qua một bên, nghĩa là phải giải thể chế độ CS, thì mới có thể cứu vãn được đất nước, xây dựng nội lực dân tộc nhằm chống lại kẻ thù xâm lược từ phương bắc, mở ra sinh lộ cho tương lai Việt Nam.

Có thể có nhiều người bi quan cho rằng con đường tranh đấu bất bạo động thật khó khăn, lâu dài. Tuy nhiên, kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng CS cai trị Liên Xô từ năm 1917, các nước Đông Âu từ năm 1945, nhưng nhờ ánh sáng dân chủ tự do từ Tây Âu truyền sang, nên cuối cùng dân chúng Đông Âu và Liên Xô bừng tỉnh, nổi lên thu hồi dân quyền, nhân quyền và tự do dân chủ về tay dân chúng. Không lý nào mà dân tộc Việt Nam không làm được?

Trước đây, trong bài diễn thuyết cuối đời của ông tại Sài Gòn tháng 6-1925 là bài “Quân trị chủ nghĩ và dân trị chủ nghĩa”, Phan Châu Trinh đã nói: “Tôi nghĩ rằng vì cái độc của quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân tộc Việt Nam ta.”

Ngày nay, để bảo vệ quyền lực của mình, nhà cầm quyền cộng sản bán đất, bán biển, bán luôn linh hồn cho cộng sản Trung Quốc, đàn áp bắt bớ những người yêu nước lên tiếng bảo vệ tổ quốc, nghĩa là chính cộng sản hiện nay là cái độc đang giết lần giết mòn lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.

Trần Gia Phụng

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com



04/19/2013 11:29 AM


linhtran
Re :   TIN BUỒN: ATBĐ HOÀNG HỮU HƯƠNG QUA ĐỜI

"Xuan Nguyen" balamatusa@gmail.com

THAM VIENG, TIEN BIET ATBD HOANG HUU HUONG







04/19/2013 9:34 AM


linhtran
Re :   TIN BUỒN: ATBĐ HOÀNG HỮU HƯƠNG QUA ĐỜI

"Quyen Duong" ngubinh1991@yahoo.com

PHÂN ƯU

ĐƯỢC TIN BUỒN

Anh HOÀNG HỮU HƯƠNG 

"ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN HOUSTON" 
VỪA QUA ÐỜI TẠI THÀNH PHỐ HOUSTON TX
NGÀY 12-04-2013 (03 tháng 03 Năm Quý Tỵ)
SAU THỜI GIAN CHỐNG CHỌI VỚI CĂN BỆNH CANCER MÁU 

HƯỞNG DƯƠNG 67 TUỔI

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG CHỊ HOÀNG THỊ NHÀN ,CÁC CHÁU VÀ TANG QUYẾN
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH ANH HOÀNG HỮU HƯƠNG VÃNG SINH TỊNH ĐỘ

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

GIA ĐÌNH ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN BẮC CALIFORNIA
Hội trưởng Lê Hữu Nga



04/19/2013 9:20 AM


linhtran
Chủ Đề :   TIN BUỒN: ATBÐ NGUYỄN LƯƠNG HUỆ ÐÃ QUÁ VÃNG

"Xuan Nguyen" balamathue@gmail.com

TIN BUỒN: ATBÐ NGUYỄN LƯƠNG HUỆ ÐÃ QUÁ VÃNG

NHẬN ÐƯỢC TIN BUỒN.

AÍ TỬ BÌNH ÐIỀN: NGUYỄN LƯƠNG HUỆ

SINH NĂM 1935
CỰU TRƯỞNG PHÒNG THẨM VẤN TY CSQG THỨA THIÊN HUẾ.
TRẠI 1 BÌNH ÐIỀN

VỪA ÐỘT NGỘT QUA ÐỜI LÚC 9,20 AM 17-4-2013
TẠI JACSONVILLE, FLORIDA
.

HƯỞNG THỌ 79 TUỔI.

TOÀN THỂ ANH EM ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN TOÀN QUỐC HOA-KỲ
CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN.
NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH NGUYỄN LƯƠNG HUỆ
ÐƯỢC SIÊU SANH CỰC LẠC QUỐC



04/18/2013 11:25 AM


linhtran
Chủ Đề :   TIN BUỒN: ATBĐ HOÀNG HỮU HƯƠNG QUA ĐỜI

"Xuan Nguyen" balamatusa@gmail.com

TIN BUỒN: ATBĐ HOÀNG HỮU HƯƠNG QUA ĐỜI

BẠN HOÀNG HỮU HƯƠNG.

"ÁI TỬ BÌNH ÐIỀN HOUSTON".

VỪA QUA ÐỜI TẠI THÀNH PHỐ HOUSTON TX.
SAU THỜI GIAN CHỐNG CHỌI VỚI CĂN BỆNH CANCER MÁU.
HOÀNG HỮU HƯƠNG SINH NĂM 1946.
HIỆN ÐANG QUÀN TẠI BỆNH VIỆN TẠI THÀNH PHỐ HOUSTON TX.

(SẼ THÔNG BÁO CHI TIẾT SAU)

(BẠN BÈ ÐẾN THĂM)



04/18/2013 11:08 AM


linhtran
Chủ Đề :   Nhãn quan im lặng _ Phạm Chí Dũng

Nhãn quan im lặng

Phạm Chí Dũng

Chính trị luôn có những điều tế nhị và không phải luôn cần được tiết lộ. Sau đối thoại nhân quyền, thái độ im lặng của người Mỹ và của cả Hà Nội đang trở nên một đối trọng sâu thẫm, đối mặt với kiểu cách lớn tiếng không cần che giấu của Bắc Kinh.

Bắc Kinh không im lặng

Rốt cuộc, quốc gia đông dân nhất thế giới đã không thể tiếp tục giữ được im lặng.

Vào ngày 16/4/2013, tức 4 ngày sau khi diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền thường niên Việt – Mỹ ở Hà Nội và vài ngày sau sự kiện Ủy ban biên giới, Bộ ngoại giao Việt Nam và cả báo Nhân dân “bất ngờ” chuyển thái độ mạnh mẽ hơn đối với chủ đề can thiệp vào khu vực biển Đông của chủ thể “mười sáu chữ vàng”, Bộ quốc phòng Trung Quốc đã chính thức lên tiếng phản ứng: Chiến lược chuyển dịch trọng tâm về Á châu của Hoa Kỳ là “đi ngược lại trào lưu của khu vực” và “thường làm tình hình thêm căng thẳng”.

Phản ứng trên được phát ngôn tại Bắc kinh, 5 ngày trước khi tái hiện câu chuyện “can thiệp quân sự” của người Mỹ vào Việt Nam.

Theo một kế hoạch được xác nhận giữa hai quốc gia vốn là cựu thù, vào ngày 21/4 tới, hai chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ sẽ cập cảng Đà Nẵng trong chuyến thăm và hoạt động “trao đổi hải quân” kéo dài 5 ngày với hải quân Việt Nam.

Trái với thông lệ thường diễn ra, vào lần này “khối băng” Việt – Mỹ lại dường như được nung chảy bởi những hoạt động đồng thuận về quân sự, thay cho giao lưu văn hóa và thương mại như trước đây.

Trong khung cảnh này, “đồng thuận xã hội” cũng đang trở thành một cụm từ mới tinh và được xác nhận chính thức trên tờ báo đảng danh giá nhất – Nhân dân, tại đất nước có bề dày đổi mới một phần tư thế kỷ.

“Thoát Trung luận”?

Việc báo “lề đảng” và cả một số báo “lề phải” cùng đồng thuận đối nội khi đưa tin rộng rãi và mang tính đón chào về cuộc “trao đổi hải quân” giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại dựa trên một tinh thần đồng thuận đối ngoại: những xác nhận không giấu diếm từ William Lee – Chuẩn đô đốc phụ trách về chính sách và năng lực của Tuần duyên Hoa Kỳ – về “hai nước Việt Nam và Mỹ đang hợp tác để phát triển lực lượng cảnh sát biển đủ năng lực giúp các ngư dân Việt Nam khi họ gặp nạn”.

Theo bình luận của BBC, gần đây Trung Quốc thường xuyên chỉ trích kế hoạch điều thêm tàu chiến và hải quân tới khu vực Á châu của Hoa Kỳ, mà Bắc Kinh nói không chỉ liên quan đến các đồng minh quân sự truyền thống như Nhật Bản, Nam Hàn và Philippines, mà còn mở rộng ra cả quốc gia cựu thù Việt Nam. Trung Quốc cũng cho rằng việc này có mục tiêu kềm chế Trung Quốc về mọi mặt.

Báo Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc hôm 15/4 đăng xã luận với lập trường cáo buộc hết sức kiên định: “Các thế lực thù địch phương Tây đã tăng cường chính sách Tây hóa và chia rẽ Trung Quốc, đồng thời tìm đủ cách thức để kềm chế và kiểm soát sự phát triển của đất nước chúng ta”.

“Sự phát triển của đất nước chúng ta” cũng đang là một lời đánh đố ở Việt Nam vào những ngày gần đây, được biểu trưng bởi làn sóng dư luận sôi động về tinh thần độc lập tự chủ “Thoát Trung luận” và một sự kiện chưa từng có tiền lệ: dự thảo hiến pháp tiếp thu đã chính thức nêu phương án về đổi tên nước thành “Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

Tồn tại từ năm 1976, tên gọi “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đang có cơ hội quay về với giá trị nguyên thể của nó – Hiến pháp năm 1946.

“Đồng thuận xã hội” – như cụm từ khởi phát từ báo Nhân dân – cũng đang được tiêu chí hóa như một hình ảnh quy tụ lòng dân, cùng với mô hình “xã hội giá trị” lần đầu tiên được khẳng định trên mặt báo đảng ở Việt Nam.

Âm mưu và tình yêu

Xét về nguồn cơn, “xã hội giá trị” lại là một trong những nền tảng của “nền tư sản Hoa Kỳ”, hoặc như một loại bản chất không mấy tốt đẹp của “các thế lực thù địch phương Tây” mà quốc gia đặc trưng bởi chiến thuật “biển người” đang cố gắng đè bẹp.

Song bất chấp biển người đang chực chờ tràn xuống biển Đông, đức tính quy tụ lòng dân và tạo đồng thuận xã hội của phong trào đổi tên nước lại đang khơi dậy hy vọng cho những chia sẻ quan – dân trong lòng triều chính Việt Nam. Chỉ 3 ngày sau khi kết thúc cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ ở Hà Nội, một người từng bị xem là “đối tượng chống đối” – blogger Người Buôn Gió – đã được chính quyền Việt Nam chấp thuận cho “đi học tập” ở Weimar – một địa danh khởi sự nền cộng hòa đầu tiên của nước Đức, cũng là nơi lưu giữ nhiều ký ức về nhà soạn kịch cổ điển Schiller cùng kịch phẩm kinh điển “Âm mưu và tình yêu” của tác gia này.

Chuyến tàu tốc hành mang tên Weimar của hành khách Người Buôn Gió cũng có thể khiến nhiều trái tim dễ rung động của “lề dân” không khỏi bồi hồi, khi nhớ lại hình ảnh ngơ ngẩn dưới trời tuyết Paris vào tháng 3/2013 của một “đối tượng” khác – blogger Huỳnh Ngọc Chênh, bởi bản thân người được giải thưởng “Công dân mạng năm 2013” của Tổ chức phóng viên không biên giới cũng khó tưởng tượng ra vì sao ông không bị “đeo bám”.

Trùng thời gian hậu đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, một tốc hành khác cũng xảy ra khi hình ảnh đeo bám bất chợt được gỡ bỏ. Phản hồi của một số bạn đọc “lề dân” vào những ngày qua cho thấy có thể khá nhiều nhà mạng đã bất ngờ tháo dỡ “bức tường lửa” – vốn được thiết lập từ nhiều năm qua để chống “diễn biến hòa bình”.

“Tự do Internet” – một nỗi sợ da diết của “diễn biến hòa bình – lại là một trong những chủ đề trọng tâm mà Phó trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Dan Baer nêu ra “một cách quyết liệt” – như cụm từ mà Chủ tịch tiểu ban Hạ nghị viện Hoa Kỳ Christ Smith ủng hộ – trước và trong cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ vừa qua.

Đồng thuận im lặng?

Chỉ có điều, trong khi quá hăng hái ủng hộ Đạo luật nhân quyền Việt Nam, ông Dan Baer lại bị thiếu vắng tư cách tự do cá nhân ở quốc gia đang ứng cử ghế nhân quyền, khi không làm cách nào tiếp xúc được với hai nhà hoạt động nhân quyền là luật sư Nguyễn Văn Đài và bác sĩ Phạm Hồng Sơn.

Điều an ủi còn lại cho nghị sĩ nhiệt thành Dan Baer chỉ là cuộc gặp gỡ với linh mục Nguyễn Văn Lý trong trại giam – địa chỉ đã lưu giữ một trong bảy triệu con chiên của Chúa ở Việt Nam và hơn thế, còn làm cho con chiên đó trở nên nổi danh thế giới với ảnh chụp bị bịt miệng trước tòa án.

Không khác mấy với tình cảnh im tiếng của cha Lý, vào lần này người đại diện cho Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng trở nên im lặng một cách khác thường. Lặng lẽ hơn rất nhiều so với không khí quyết tâm tại cuộc điều trần tại Hạ nghị viện Hoa Kỳ một ngày trước khi diễn ra cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, ông Baer đã không xuất hiện trước dư luận quốc tế để thông tin về kết quả cuộc họp này, ít nhất cho đến thời điểm hiện nay.

Thay vào đó là sự hiện diện của Quyền phó phát ngôn thuộc Bộ ngoại giao Hoa Kỳ – Ventrell.

“Hoa Kỳ và Việt Nam đã có đối thoại nhân quyền thẳng thắn và xây dựng hôm 12/4” – ông Ventrell cho các phóng viên biết trong một cuộc họp báo sau cuộc đối thoại trên – “Đối thoại hôm 12/4 với Việt Nam đề cập tới một số vấn đề, trong đó có tự do tôn giáo, pháp quyền, tù nhân lương tâm, quyền của người lao động và tự do biểu đạt”.

Tuy nhiên, cho tới nay Bộ ngoại giao Mỹ và phái đoàn Hoa Kỳ tham dự cuộc đối thoại nhân quyền vẫn chưa tiết lộ bất kỳ thông tin nào về cuộc họp có thể là rất quan trọng và cũng rất “tế nhị” này.

Hiển nhiên, chính trị luôn có những điều tế nhị và không phải luôn cần được tiết lộ. Sau cuộc đối thoại nhân quyền, thái độ im lặng của người Mỹ và của cả Hà Nội đang trở nên một đối trọng sâu thẫm, đối mặt với kiểu cách lớn tiếng không cần che giấu của Bắc Kinh.

“Dân biểu nói bừa”

Chắc hẳn điều mà Bắc Kinh đang muốn che giấu là tâm thế “bị bỏ rơi” của họ, trong bối cảnh Hà Nội không quá ngại ngùng khi đề đạt nguyện vọng ứng cử vào một trong những cái ghế của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc.

Tuy thế, Bắc kinh sẽ không quá thất vọng bởi họ hiểu rõ người Mỹ không cho không ai cái gì. Tất cả mới chỉ bắt đầu, thử thách vẫn còn ở phía trước.

Thời gian là tiền bạc, còn nhân quyền lại là vấn đề thời gian.

Theo Chủ tịch tiểu ban Hạ nghị viện Mỹ Christ Smith, tiểu ban này “sẽ xem xét một cách có phê phán thông báo của Việt Nam trở thành ứng viên của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cho nhiệm kỳ 2014-2016”.

Cần nói thêm, Christ Smith lại là nhân vật được báo Quân đội nhân dân đặt cho biệt danh “Dân biểu nói bừa” – trong một bài viết đăng ngày 16/4/2013 tại mục “Phòng, chống diễn biến hòa bình”.

P.C.D.

Nguồn: http://www.x-cafevn.org/node/4746



04/17/2013 9:45 AM


linhtran
Chủ Đề :   Ði Tìm Con Cháu Thuyền Nhân 849 Năm Trước: Nguyên Tổ Hai Giòng Họ Lý Tại Ðại Hàn-Yên Tử Cư Sĩ Trần Ð

Ði Tìm Con Cháu Thuyền Nhân 849 Năm Trước: Nguyên Tổ Hai Giòng Họ Lý Tại Ðại Hàn

Yên Tử Cư Sĩ Trần Ðại Sĩ

Tác giả chân thành cảm tạ Tiến-sĩ Thái Văn Kiểm, hội viên Hàn-lâm viện Pháp-quốc hải ngoại, đã giúp đỡ rất nhiều khi viết bài này.

Ngày 17 tháng 9 năm 1957, Tổng-thống Ngô-đình Diệm công du Ðại-hàn (1). Năm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1958, Tổng thống Ðại-hàn dân quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm Việt-Nam. Trong dịp này ông đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Báo hồi ấy có tường thuật sơ sài. Còn chính quyền thì gần như không để ý đến chi tiết lịch sử này.

( Lý Thừa Vãn 이승만 李承晩 I/Ri Seung-man ( Syngman Rhee ), là Tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Nam Hàn từ 15 tháng 8/1948 – 22 tháng 3/1960 ) – Chú thích của Ái Hữu Ninh Thuận.

Bấy giờ, đệ nhất Cộng-hòa thành lập chưa quá hai năm, mới chỉ có viện Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên cứu lịch sử. Cho nên không ai nghĩ đến việc sang Ðại-hàn tìm hiểu xem họ Lý từ Việt Nam, đã đi sang đây từ bao giờ? Ai là nguyên tổ của họ?

Thời gian này tôi mới 19 tuổi, vừa bước chân vào đại học. Nhưng nhờ thấm nhuần Nho-giáo, nên đã chững chạc lắm rồi. Tôi viết thư cho sứ quán Ðại-hàn tại Việt-Nam để hỏi về chi tiết này. Dĩ nhiên tôi viết bằng chữ Nho. Hơn tháng sau tôi được thư trả lời của tộc Lý tại Nam-hàn. Trong thư, họ cho tôi biết rằng:

"Tổng-thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-bình vương Lý Long Tường. Kiến Bình vương là con thứ 6 của vua Lý Anh-tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế kỷ thứ 13 vì quốc nạn".

Ánh sáng đã mở ra trước mắt tôi. Nhưng tôi tra trong Ðại-Việt sử ký toàn thư (ÐVSKTT), trong Việt-sử lược (VSL), trong Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KÐVSTGCM), không bộ nào nói đến Kiến Bình vương Lý Long Tường cả.

Tò mò chưa được thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ qua, vì bấy giờ tôi phải dồn hết tâm tư vào việc học. Năm 1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris, vô tình tôi đọc được Tập-san sử địa của Nhật-bản, số 2 năm 1941, trong đó nói vắn tắt rằng:

"Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là con thứ sáu vua Lý Anh-tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Ðộ hãm hại, nên ông đã đem tướng sĩ dưới quyền, tông tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao-ly".

Tôi tự hẹn, sau này có tiền sẽ sang Ðại-hàn tìm hiểu chi tiết này.

Thế nhưng, sau khi ra trường, 1964, tuy đã có chỗ đứng vững chắc về phương diện tài chánh. Ngặt vì nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, tôi vẫn không thực hiện được cái ước vọng sang Hàn quốc, tìm hiểu về nguồn gốc họ Lý tại đây.

Mãi tới năm 1980, tháng 8, tôi đi trong phái đoàn Pháp, sang dự đại hội y khoa tại Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại hội, tôi được tiếp xúc với phái đoàn Bắc-Cao (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên BTV-Xcafevn). Phái đoàn này có bác sĩ Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và bác sĩ Lý Diệp Oanh ở Thuận-xuyên (Sunchon). Bấy giờ tôi đã 41 tuổi, còn Diệp Oanh mới 30 tuổi. Tuy là bác sĩ, thế nhưng cô tươi như hoa lan, phơi phới như hoa thủy tiên ban mai. Thấy mỗi bữa ăn cô lẩm nhẩm đọc kinh mà không làm dấu thánh giá, tôi cho là cô đọc kinh Phật. Tôi cũng đọc kinh Bát-nhã bằng tiếng Việt. Cô hỏi tôi:

- Ủa! Anh đọc kinh cảm ơn Tổng-thống Valéry Giscard đấy à?

- Không! Tôi đọc kinh Phật. Thế cô đọc kinh gì vậy?

- Phật đâu có cho anh cơm ăn, áo mặc ?

- Vậy cô đọc kinh gì ?

- Tôi đọc kinh cảm ơn cha già Kim Nhật-Thành đã cho chúng tôi đươc tự do, có cơm ăn, áo mặc! (2)

Nghe cô nói, tôi rùng mình. Song thấy cô xinh đẹp, tôi đùa:

"Ở nước tôi, vào thế kỷ thứ 12, dưới triều vua Lý Anh-tông, tổ tiên tôi là Trần Thủ Huy được gả công chúa Ðoan Nghi...".

Diệp Oanh cắt lời:

"Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng tổ tiên anh là Trần Liễu được gả công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh được vua Chiêu Hoàng tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi thành thuyền nhân, ngày nay Hàn quốc mới có họ Lý".

À! Vạn lý tha hương ngộ tri kỷ đây. Biết rất rõ Diệp Oanh là con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, tôi đùa thêm:

"Biết đâu cô không là công chúa Ðoan Nghi, tôi không là Trần Thủ Huy tái đầu thai? Có lẽ chúng mình nên đi tiếp con đường tổ tiên mình đã đi".

Diệp Oanh vả tôi một cái vào má trái, tỏ cử chỉ thân thiện. Song chúng tôi bắt con tim ngừng phiêu lưu ở đây, vì bấy giờ bà vợ tôi còn sống, còn quá trẻ; vợ chồng lại rất tương đắc ngoài đời, nồng thắm trong phòng the.

Thế rồi chúng tôi nhận họ. Suốt đại hội, tôi với Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng với hình. Tôi kể cho hai người nghe về những trang sử rực hào quang dưới thời Lý, nhất là huyền sử về Linh Nhân hoàng thái hậu (Ỷ Lan). Sau đại hội, Chiếu Minh, Diệp Oanh rủ tôi du lịch Bắc-Cao. Bấy giờ là thịnh thời của chủ tịch Kim Nhật Thành, Bắc-cao khép kín cánh cửa với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên nhờ mang thông hành Pháp, nên tòa đại sứ Bắc-cao ở Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán được du lịch nghiên cứu về nhân sâm trong 8 ngày.

Tới Bắc-cao, ông đại sứ Pháp tưởng tôi đi nghiên cứu nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn phòng tùy viên văn hóa giúp đỡ tôi. Tôi không muốn nói dối ông đại sứ. Tôi thú thật là đi tìm một số tài liệu lịch sử. Dù biết tôi mượn danh đi nghiên cứu y khoa, cơ quan trao đổi y học dư thừa tài chánh đài thọ tất cả phí tổn cho tôi. Thế nhưng sứ quán Pháp vẫn giúp đỡ tôi tận tình. Nào cung cấp xe, cung cấp tài xế, gửi thư giới thiệu.v.v. Kể ra làm công việc nghiên cứu của Pháp cũng sướng thực. Xin vạn vạn lần cảm ơn tinh thần yêu văn hóa của nước Pháp.

Tại Hùng-xuyên, cũng như Thuận-xuyên, các chi họ Lý tiếp đón tôi rất niềm nở. Buồn là các cuộc đàm thoại bị giới hạn khá nhiều, tôi phải dùng tiếng Quan-thoại nói với Chiếu Minh và Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng Ðại-hàn. Các chi họ Lý xin phép chính quyền, rồi tổ chức những buổi hội, để nghe tôi nói chuyện về thời đại Tiêu-sơn. Khi nghe kể đến đoạn công chúa Bảo Hòa tu tiên, cho đến tuổi 90 vẫn trẻ như hồi 17 tuổi, cử toạ suýt xoa sung sướng. Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý Thánh-tông, đang đêm trốn khỏi hoàng cung, gặp cô thôn nữ Yến Loan, rồi sau đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân; cử tọa vỗ tay hết tràng này đến tràng khác. Khi nghe tôi kể đến các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh trấn ngự biên cương khiến các quan Tống ở Nam-biên nghe đến tên đều kinh hồn vỡ mật. Các cô ngửa mặt lên nhìn trần nhà cười đầy vẻ hãnh diện. Lúc mà tôi thuật đến đoạn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại quân phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt, tiến đến rừng tre, cách Thăng-long có 25 cây số... Trong phòng có đến hơn 700 người, mà không một tiếng động. Rồi tôi kể tiếp: Công chúa Thiên Ninh đánh bật quân Tống trở về Như-nguyệt, thì phòng hội hoan hô đến muốn rung động thành phố. Tôi thuật tiếp đến đoạn công chúa tuẫn quốc, thì cả phòng hội đều khóc nức nở. Những người khóc nhiều nhất lại là những thiếu niên.

Hầu hết những chi họ Lý đều đem gia phả ra hỏi tôi những chi tiết mà họ không hiểu. Tất cả gia phả đều viết bằng chữ Nho. Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có đôi câu đối:

Thập-bát anh hùng giai Phù-đổng, Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh.

(Mười tám anh hùng đều như Phù-đổng thiên vương. Ba nghìn nữ kiệt đều có thể sánh với Trưng-vương).

Tôi phải moi trí nhớ, để đọc cho họ chép lại tiểu sử 18 danh tướng vào thời vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn quốc. Tôi lại phải thuật cho họ nghe về công chúa Thiên Ninh (Bà Chúa Kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang Ðại-Việt, phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt tiến về Thăng-long. Quân Tống nhập vào vòng đai phòng thủ chỉ cách Thăng-long có 25 cây số, bị công chúa đánh bật trở về Bắc sông Như-nguyệt. Sau đó công chúa cùng 3 nghìn nữ kiệt đều tuẫn quốc.

Hầu hết các chi, khi nghe tôi nói rằng: Triều Trần kế tục triều Lý. Nhưng các vua triều Trần đều dành ra một số ruộng đất lớn, cho tá điền cầy cấy, thu tô để làm phương tiện hương khói, thờ cúng, tu bổ lăng tẩm 9 đời vua triều Lý... đều hài lòng. Các triều đại kế tiếp như Lê, Nguyễn vẫn giữ nguyên truyền thống này. Mãi đến năm 1956, trong cuộc cải cách ruộng đất, những ruộng đất này mới bị tịch thu. Tuy nhiên đây là những di tích lịch sử, nên kể từ năm 1962, bộ Văn-hóa miền Bắc Việt-Nam đã ban nghị định công nhận là di tích văn hóa, lịch sử, và bảo quản rất kỹ.

Bác-sĩ Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng đất linh của giòng họ Lý. Thực là kỳ điệu, dưới chế độ Cộng-sản cực đoan, chủ trương hủy diệt tất cả những gì là văn minh của tổ tiên, để chỉ còn biết đến Mác, Lê, biết đến cha già dân tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng họ Lý vẫn giữ gìn được những di tích của tổ tiên. Nào cửa biển Phú-lương giang nơi hạm đội của Kiến-bình vương cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi đầu tiên họ Lý làm nhà ở, nào ngọn đồi Julhang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki) nơi có lăng của Kiến Bình vương Lý Long Tường. Tôi cũng được lên Quảng-đại sơn thăm Vọng-quốc đài, là nơi vương lên nhìn về quê hương.

Sau đó, năm 1983, tôi lên đường đi Nam-hàn để tìm hiểu thêm về giòng họ Lý. Tiếc rằng khi Lý Long Tường tới Hàn-quốc táp vào miền Bắc, vì vậy dường như tại Nam-hàn không có một chút di tích nào của ông. Giòng họ Lý sống tại Nam-hàn rất ít, tổng số chưa quá nghìn người. Họ cũng giống như người Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo rất ít di vật, gia phả về tổ tiên mình. Không nhà nào mang được gia phả cổ. Gia phả mà họ cho tôi xem, hầu hết là mới chép gần đây. Nội dung lại quá nhiều sai lạc. Như chép về việc ra đi của Kiến Bình vương, gia phả nói rằng họ Lý bị Trần Thủ Ðộ cướp ngôi, Lý Long Tường cầm quân chống lại, bị thua. Về Lý Chiêu Hoàng, họ chép là hoàng hậu của vua Lý Huệ-tông! (3)

Họ Lý, hậu duệ Kiến Hải Vương, hay họ Lý Tinh-Thiện

Thế nhưng, tại Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông cho biết, tổ tiên ông là người Việt, nhưng không thuộc giòng dõi Kiến Bình vương. Tổ tiên ông là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu thế kỷ thứ mười một.

Quý độc giả có biết tâm trạng tôi bấy giờ ra sao không ? Kinh ngạc, bàng hoàng, đờ đẫn cả người ra. Vì trong khi nghiên cứu về triều Lý, tôi biết một huyền sử vắn tắt như sau :

"Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam, người nhận con của các thân vương trong hoàng tộc làm con nuôi. Năm Ðinh Dậu (1117) nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi. Sau truyền ngôi cho con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, tức vua Lý Thần-tông. Khi Lý Thần-tông băng, Thái-tử Thiên-Tộ còn bế ngửa, triều thần muốn tôn con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn lên nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn ra, sau vợ của vua Lý Thần-tông nhờ có tình nhân là Ðỗ Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ (1150) nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Ðỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong. Song không biết đi đâu (1150)".

Bây giờ, sau 831 năm, tôi gặp lại hậu duệ của Kiến Hải vương. Tâm tư rúng động ! Hỡi ơi ! Tại Hàn-quốc có tới hai giòng họ Lý, gốc là thuyền nhân Ðại-Việt. Tôi ghi chú tất cả những gì mà giòng họ Lý của Kiến Hải vương cung cấp để khi viết về thời đại Tiêu-sơn còn có thêm tài liệu.

Cuối năm 1996, một nhà nghiên cứu tộc phả nổi tiếng của Nam-Hàn là giáo sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke) công bố kết quả cuộc nghiên cứu của ông rằng ông đã phát hiện một giòng họ Lý thứ nhì, tại Ðại-hàn, được gọi là Lý Tinh-thiện. Giòng họ này, chính là giòng họ Lý, con cháu Kiến Hải vương mà tôi đã có cơ duyên gặp hậu duệ là ông Lý Gia Trung.

Giáo sư Phiến Hoằng Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả của giòng họ này mang tên Tinh-thiện Lý thị tộc phả, được lưu trữ tại thư viện Quốc-gia Hán-thành, thì ông tổ của giòng họ Lý Tinh-thiện là Lý Dương Côn (Lee Yang Kon) tới Ðại-hàn vào đầu thế kỷ thứ 12:

"Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hoàng tử thứ ba con vua Càn Ðức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương".

Tra trong sử Việt, thì vua Càn Ðức chính là tên của vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông là con của vua Lý Thánh-tông với Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Người chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh lịch sự Việt-Nam. Theo ÐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tông kỷ thì: "Niên hiệu Hội-tường Ðại-khánh thứ 8 (DL.1117, Ðinh Dậu)...

...Tìm con trai trong tôn thất để nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: "Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có hoàng nam, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Nên trẫm nuôi con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử. Bấy giờ con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán, lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập làm Thái-tử".

Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông, chứ không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng hầu tên Lý Dương Côn, tước phong Kiến Hải vương.

Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý thị tộc phả và bộ Cao-ly sử, ông công bố: Hậu đuệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy giờ Cao-ly đang ở dưới triều đại vua Nghị-tông (Ui-jiong 1146-1170). Nhà vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng. Nước Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc xâm lăng của Khiết-đan tức Ðại-liêu, nên các võ tướng nắm hầu hết quyền hành. Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ phái, đảo chính vua Nghị-tông lập vua Minh-tông (Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị các võ phái, võ tướng nổi lên chống đối. Lý Nghĩa Mẫn là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các cuộc nổi dậy. Ông được thăng chức Trung-lang tướng, Tướng-quân, Ðại-tướng quân (1173), Thượng-tướng quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178). Năm 1179, một võ quan khác là Khánh Ðại Thăng (Kyung Dae-Seung) làm cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền. Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181). Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ, chèn ép. Ông cáo quan về hưu.

Sau khi Khánh Ðại Thăng chết, vua Minh-tông mời Lý Nghĩa Mẫn vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Ðồng-trung thư môn hạ bình chương sự tức Tể-tướng trong 14 năm (1183-1196). Năm 1196, một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon) cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là tướng cầm quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ tha cho người con gái ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, giòng họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa Mẫn và các con không bị hại.

Phối hợp chính sử với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng Cơ kết luận rằng: Giòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo Giang-nguyên, phía Ðông Nam Ðại-hàn ngày nay là con của hoàng tử Lý Dương Côn thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý Dương Côn bỏ quê hương ra đi vì sự đe dọa của nước Kim đối với Tống, năm 1115. Tới năm 1127 thì Bắc Tống bị diệt.

Qua cuộc nghiên cứu của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy có đôi chút nghi vấn:

Một là, vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm 1117. Vua Thần-tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý Dương Côn rời Ðại-Việt ra đi là năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổi. Thế nhưng gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn, được vua Nghị-tông phong cho chức Biệt-trưởng. Ðây là điều vô lý. Bởi năm đó chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới có 54 tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đời? Tôi thì tôi cho rằng Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:

1. Lý Thái-tổ. 2. Lý Thái-tông. 3. Lý Thánh-tông. 4. Lý Nhân-tông. 5. Kiến Hải vương Lý Dương Côn. 6. Lý Nghĩa Mẫn.

Hai là, trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn rời quê hương ra đi vì quốc nạn. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ cho rằng vì sự đe dọa của Kim. Có lẽ khi giải đoán việc ra đi của Lý Dương Côn, ông đã bị ảnh hưởng bởi sử Cao-ly. Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc Nữ-chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Sau đó, họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà Tống lại tái lập triều Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Ðại-Việt còn một nước Tống quá rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tới Ðại-Việt khiến Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đi. Nhất là giai đoạn 1161 đến 1174, bấy giờ binh lực Ðại-Việt đang mạnh, muốn hướng lên Bắc tái chiếm lại Quảng Ðông, Quảng Tây! (xin đọc Anh-hùng Ðông-A dựng cờ Bình-Mông hồi 4 và hồi 16-17-18).

Lần lại trang sử Ðại-Việt thời đó: Vua Thần-tông được vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vua. Theo Hội-điển sự lệ triều Lý thì những chức như: Thái-úy, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Ðại Ðô-đốc Thủy quân, luôn trao cho các hoàng đệ. Vì vậy trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông, thì Thái-tử Dương Hoán đươc truyền ngôi, còn 4 con nuôi khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên. Con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải vương, lĩnh chức Ðại Ðô-đốc Thủy-quân. Khi vua Thần-tông băng (1138), Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần muốn tôn hoàng đệ Lý Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là người thông minh, tài trí, đang là Ðại Ðô-đốc, ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm Thánh hoàng hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được tình nhân Ðỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua Thần-tông) hết sức ủng hộ. Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là vua Anh-tông.

Dĩ nhiên vua Anh-tông lên ngôi, khi còn bế ngửa, thì mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vua. Bà phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con bà. Bà cùng Ðỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của vua Thần-tông là con của các hầu em vua Nhân-tông. Toàn gia các hầu, từ thê thiếp, con, cháu, thân binh, nô bộc đều bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn đóng quân ở Ðồn-sơn, được mật báo. Ông đem hết gia thuộc, xuống chiến thuyền, bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-ly.

Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương Lý Dương Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận rằng: Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức Ðại Ðô-đốc đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-ly. Ðời sau có nhân vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng một vai trò trọng yếu trong lịch sử Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại Ðại-hàn.

Giòng thứ nhì, hậu duệ của Kiến-Bình Vương Lý Long Tường, còn gọi là Lý Hoa-Sơn

Giòng họ Lý thứ nhì tới Ðại-hàn sau giòng họ Lý Tinh-thiện 76 năm, là hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, con thứ 7 của vua Lý Anh-tông mà tôi đã trình bầy ở trên.

Theo Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, để tại nhà từ ở thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu-dương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc ; phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Có đoạn nói về các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn như sau :

Vua có bẩy hoàng tử.

Hoàng trưởng tử Long Xưởng do Chiêu Linh hoàng hậu sinh vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Ðược phong tước Hiển Trung vương, lập làm Thái-tử. Niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng xuống làm con út, tước Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi bị Ðỗ An Di giết cả nhà, thọ 31 tuổi. Hoàng-tử thứ nhì Long Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh đại đô-đốc, Kiến Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổi.

Hoàng-tử thứ ba Long Ðức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1153, Quý-Dậu) ra. Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết độ sứ, Kiến An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175), thọ 23 tuổi.

Hoàng-tử thứ tư Long Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân Hoa sinh niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong như sau : Ðặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư tả thừa, Trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175) thọ 24 tuổi.

Hoàng-tử thứ năm Long Ích, do Ðức-phi Ðỗ Kim Hằng sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Ðinh-Hợi). Chức tước phong như sau : Dao-thụ Thái-phó, trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng niên hiệu Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổi.

Hoàng-tử thứ sáu Long Trát, do Thục-phi Ðỗ Thụy Châu sinh niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn), tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôi. Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ), ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổi.

Hoàng-tử thứ bảy Long Tường do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Ðức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh) phong chức tước phong như sau : Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước Kiến Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.

So sánh giữa Tộc phả Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc phả, có một chi tiết khác nhau. Tộc phả Kiến Bình thì chép Kiến Bình vương là con thứ sáu vua Anh-tông. Trong khi Trần tộc vạn thế ngọc phả lại chép vương là con thứ bẩy. Vì sao? Phả Trần tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước là anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến Bình vương là con thứ 7. Phả Kiến Bình thì chép thứ tự theo chỉ dụ của vua Lý Anh tông, Long Xưởng bị giáng xuống làm con út, thì Long Tường trở thành con thứ sáu.

Hồi đó Lý Long Tường dẫn tông tộc rời Ðại-Việt ra đi. Trần triều không biết đi đâu. Nay chúng ta mới được biết vương với hạm đội bị bão phải ẩn ở Ðài-loan. Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường rồi dạt vào Cao-ly. Duy một người con của vương tên Lý Long Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại Ðài-loan. Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðại-hàn, thế tử Long Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðài-loan hiện nay ? Sự kiện này tôi sẽ tìm hiểu sau.

Tôi đã bỏ công sang Bắc cũng như Nam-hàn, tìm các chi, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, khảo gia phả của họ. Phần chi tiết tuy có sự khác biệt, nhưng đại lược vẫn giống nhau. Tổng-thống Lý Thừa Vãn của Ðại-hàn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình vương Long Tường. Còn tổng thống Lý Ðăng Huy của Ðài-loan có phải là hậu duệ của thế tử Lý Long Hiền hay không, thì tôi không dám quyết, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc.

Cả ba bộ sử ÐVSKTT, VSL, KÐVSTGCM cùng chép rất mơ hồ về việc vua Anh-tông phế Long Xưởng lập Long Trát. Nhà vua có tới bẩy hoàng tử. Nếu sự thực Long Xưởng phạm tội, phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến Ninh, Kiến An, Kiến Tĩnh vương? Hoặc cùng quá, thì lập Kiến Khang vương Long Ích, năm ấy đã chín tuổi? Mà phải lập Long Trát mới có 26 tháng làm Thái-tử, rồi phải cử Tô Hiến Thành làm phụ chính? Cái khúc mắc này tôi đã giải thích rất chi tiết, rất rõ ở hồi 21-23 bộ Anh-hùng Ðông-a dựng cờ bình Mông. Trong bài ngắn này không thể giải thích hết.

Dưới đây là phần tôi thuật theo Tộc-phả Lý Hoa-sơn:

Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Ðộ hãm hại, vì vị thế trọng yếu của mình:

- Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huệ-tông. - Thân vương duy nhất nắm quyền hành. - Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc.

Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ Ðồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Ðình-bảng. Lại đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Ðồn-sơn, rồi đem hết tông tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội ra đi.

Việc Kiến Bình vương ra đi, có lẽ bắt nguồn từ việc ra đi của Kiến Hải vương trước kia chăng? Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bão. Hạm đội phải ngừng lại một đảo (Ðài-loan?) rồi tiếp tục lên đường. Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Ðăng Hiền cùng vợ con ở lại đảo. Hạm đội lênh đênh trên biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc

Cao-ly. Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac có nghĩa là Bến của khách phương xa có đồ thờ cúng.

Kỳ diệu thay, đêm hôm trước, vua Cao-tông (Kojong) mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ Tây-hải. Tỉnh lại, vua sai người tới đó tìm kiếm, thì gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-tông và các đại thần Cao-ly. Triều đình Cao-tông đối xử với vương rất tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn sơn (Chin-sang).

Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống mới. Trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi làm kế sinh nhai. Ông mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ thuật. Ông soạn sách Học vấn giảng hậu. Vì học trò đông, ông cho xây Ðộc-thư đường, Giảng võ đường. Ðệ tử của ông lúc nào cũng trên nghìn người.

Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tông thứ 40, quân Mông-cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn-đồng giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các đảo Ðại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây-đô (Giang-hoa). Thủ-đô Cao-ly bị đe dọa. Các tướng sĩ hầu hết bị tử trận.

Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố vấn cho ông về binh pháp Ðại-Việt. Ðích thân vương cỡi bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Ðắp thành cao lên, đào hào đặt chông quanh thành. Trong thành đào giếng để có nước uống, tích trữ lương thảo. Ông đem tất cả binh pháp Ðại-Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-ly.

Ðánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị chặn đường rút lui, xin hàng (6). Tết năm ấy, toàn Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường, lấy tên ngọn núi ở quê hương ông là Hoa-sơn; phong cho ông làm Hoa-sơn tướng quân. Cho đổi tên ngọn núi nơi ông cư ngụ là Hoa-sơn. (4). Nhà vua sai dựng bia ghi công ông trên núi Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ Thụ hàng môn (Cửa tiếp thụ giặc đầu hàng). Cho đến nay, sau 746 năm, trải biết bao nhiêu mưa nắng, thăng trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du khách nhớ huân công của một Việt-kiều trên Hàn-quốc.

Trong dịp thăm Hoa-sơn năm 1981, tôi xin người đại diện tộc Lý cho phép được mượn thợ khắc vào một phiến đá bài thơ cổ phong, đặt cạnh tấm bia trên, gọi là chút lòng của người sau, tế người trước:

Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh, Thất đại bôn Bắc Cao, Bình Mông danh vạn đại, Tử tôn giai phong hầu. Học phong nhân bất cập. Vọng quốc hồn phiêu phiêu, Kim tải quá bát bách, Hà thời quy cố hương?

(Ngài là người họ Lý, được hưởng phúc tại ngọn núi Tiêu-sơn. Kể từ vua Lý Thái-tổ tới ngài là đời thứ bẩy, phải bôn tẩu đến xứ Bắc Cao-ly. Nhờ chiến công đánh Mông-cổ, mà con cháu ngài đều được phong hầu. Ngoài ra, ngài là người đem học phong tới Cao-ly, công đức ấy không ai sánh kịp. Thế nhưng trải trên 8 trăm năm, hồn ngài lúc nào cũng phiêu phưởng, không biết bao giờ được về cố hương ?).

Ngày nay trên ngọn đồi Julbang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki) cách núi Hoa-sơn 10 cây số về phía Tây còn lăng mộ ngài và con, cháu cho đến ba đời. Trên Quảng-đại sơn có Vọng-quốc đàn, nơi cuối đời ngài thường lên đó, ngày ngày nhìn về phương Nam, ôm mặt khóc, tưởng nhớ cố quốc. Mỏm đá mà ngài đặt chân đầu tiên lên bờ biển Cao-ly, được gọi là Việt-thanh nham, tức đá xanh in vết tên Việt. Trên Hoa-sơn còn rất nhiều di tích kỷ niệm huân nghiệp của vương. Khi đến Hoa-sơn hành hương, thay vì chào nhau, du khách được hướng dẫn viên du lịch dạy cho nói câu: Hữu khách, Hữu khách, kỵ bạch mã. Nghĩa là Có người khách cỡi ngựa trắng, tức Lý Long Tường.

Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn truyền trải 28 đời. Tại Nam-hàn chỉ có khoảng hơn 200 hộ, với trên dưới 600 người. Tại Bắc-hàn thì đông lắm, không thống kê được. Lý tộc tại Nam-hàn, hầu hết họ là những gia đình có địa vị trọng yếu về giáo dục, kinh tế, kỹ nghệ. Kỳ ứng cử vừa qua, một ứng viên Tổng thống họ Lý suýt trúng cử.

Theo tấm bia trên mang tên Thụ-hàng môn bi ký, thì Kiến Bình vương Long Tường có nhiều con trai, tất cả đều hiển đạt. Không thấy nói tơí Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn 200 người ở lại Ðài-loan. Lý Cán Ðại lĩnh Ðề-học nghệ văn quán, Kim-tử quang lộc đại phu. Lý Huyền Lương, Tham-nghị lễ tào, Chính-nghị đại phu. Lý Long Tiền Giám- tu quốc sử.

Ngày nay, tại Bắc-hàn, cứ đến dịp tết Nguyên-đán, hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường khắp lãnh thổ Ðại-hàn đều kéo về Hoa-sơn để dự lễ tế tổ. Khởi đầu của cuộc tế, đánh chín tiếng trống, gọi là Tâm-thanh để mọi người cùng tưởng nhớ cố quốc. Theo gia phả của chi Thuận-xuyên, sở dĩ đánh chín tiếng, vì muốn ghi lại triều Lý trải 9 đời vua, kể cả Lý Chiêu-hoàng. (4)

Năm 1995, con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, quy tụ hơn trăm người trở về Ðình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Bắc-ninh dự lễ hội làng vào ngày rằm tháng ba Âm-lịch. Tại thiên chi linh, hẳn 9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng như Kiến Bình vương Lý Long Tường đã thỏa nguyện: Những đứa cháu lưu lạc, nay trở về chầu tổ.

Lời quê gửi tới người Việt hải ngoạiH

iện nay gần ba triệu người Việt lưu lạc khắp mọi góc biển, mọi chân trời. Có nơi sống tập trung như Hoa-kỳ, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao, Canada, Úc, Pháp, Nga-sô. Có nơi sống rải rác cô độc như Do-thái, Irak, Gabon... Nhìn vào tấm gương của hai giòng họ Lý tại Ðại-hàn. Dù con cháu quý vị không còn nói được tiếng Việt. Dù con cháu quý vị đã kết hôn với người địa phương. Nhưng quý vị phải luôn nhắc nhở cho chúng biết rằng: Chúng là người Việt, lấy chủ đạo là con Rồng cháu Tiên. Xin qúy vị khẩn chép lại:

1. Nguồn gốc giòng họ mình từ làng nào, xã nào, tỉnh nào. Hoặc liên lạc với họ hàng trong nước để xin bản sao gia phả. 2. Tiểu sử những tiền nhân. Nếu không nhớ được hành trạng của các tổ xa đời, thì ít ra cũng chép được từ đời ông, đời cha. 3. Rời Việt-Nam ra đi vì lý do gì? Bắt đầu đến đâu? Lập nghiệp ra sao? 4. Mỗi năm vào dịp tết, quý vị sai đọc cho tất cả con cháu đều nghe. 5. Hằng năm, nếu có thể, khuyên con cháu, nên trở về quê hương, viếng thăm đất tổ, thăm mồ mả tiền nhân. Khi về già, các vị sai chép ra thành nhiều bản, cho mỗi con một bản.

Vài lời thô thiển. Biết rằng các vị cho là thường. Thưa quý vị, bây giờ là thường, nhưng sau đây trăm năm, nghìn năm, sự ghi chép của quý vị sẽ trở thành quý báu vô cùng. Mong lắm thay! Cầu xin như vậy đấy.

Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ

----------------------------------------

(Những tài liệu tôi dùng để viết bài này rất phong phú, rất nhiều. Xin xem phần Những nguồn tài liệu, trong bộ Anh-hùng Ðông-A dựng cờ bình Mông, quyển 1 )

(1) Trong chuyến đi này, Tổng-thống Ngô Ðình Diệm cho một sĩ quan tháp tùng, mà người ưu ái vì lòng yêu nước, tin tưởng vì lòng trung thành là Dương Văn Minh. Nhưng cũng tương đương với ngày tháng này, sáu năm sau, Dương Văn Minh tuân lệnh Hoa-kỳ, giết chúa.

(2) Chế độ Cộng-sản cực đoan của Bắc-cao là một chế độ suy tôn lãnh tụ vào bậc nhất thế giới, bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Khi ăn cơm, sáng dậy, tối đi ngủ đều đọc kinh tạ ơn Kim chủ tịch.

(3) Sau đó tôi đã giúp họ hiệu đính lại những chỗ sai lầm trong gia phả của họ.

(4) Tôi tra trong địa lý thời Lý, trên lãnh thổ Ðại Việt không có ngọn núi nào tên Hoa-sơn cả. Có lẽ là núi Tiêu-sơn, nơi phát tích ra triều Lý chăng ?

(5) Chín đời vua triều Lý là :

1. Thái-tổ Lý Công Uẩn. 2. Thái-tông Lý Ðức Chính. 3 . Thánh-tông Lý Nhật Tông 4. Nhân-tông Lý Càn Ðức. 5. Thần-tông Lý Dương Hoán . 6. Anh-tông Lý Thiên Tộ. 7. Cao-tông Lý Long Trát. 8. Huệ-tông Lý Long Sảm. 9. Chiêu-hoàng Lý Phật Kim

(6) Có một sự trùng hợp. Năm năm sau, tháng 1-1258, Thái-sư Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai (Uriyang- qadai) đem quân đánh Ðại Việt, cũng bị tuyệt đường lương, rồi bỏ chạy. Xin đọc Anh-hùng Ðông-A dựng cờ bình Mông hồi 50.

Nguồn: http://www.x-cafevn.org



04/15/2013 12:05 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nguyễn-Xuân Nghĩa _ 'Thế Kỷ Này Là Thế Kỷ Của Chúng Ta'

"Thế Kỷ Này Là Thế Kỷ Của Chúng Ta"

Người Mỹ đang muốn hát như lời ca của Võ Hoàng!

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 130412


* Thế kỷ 21 này có còn là "Thế kỷ của Hoa Kỳ" hay không?

Từ trăm năm nay, người ta đã nghe nói đến sự lụn bại của Hoa Kỳ và sự tiêu vong của tư bản chủ nghĩa. Năm năm qua, nghe chừng là lời tiên báo ấy đang thành hiện thực... Có chắc không?

Với người Mỹ, Thế kỷ 21 bắt đầu với tám tháng suy trầm kinh tế, khởi sự từ Tháng Ba năm 2001 sau một cuộc bầu cử tổng thống đầy kịch tính lạ thường vào năm 2000.

Trong cuộc bầu cử đó, Thống đốc Texas là George W. Bush thắng cử nhờ án lệnh của Tối cao Pháp viện và 257 phiếu tại Florida. Bị đối thủ cay cú chê là cướp ngai hay đỗ vớt, ông trù tính ưu tiên giải quyết các vấn đề bên trong và có chủ trương đối ngoại ôn nhu khiêm nhượng. Nhưng nạn suy trầm mà ai cũng đoán trước được từ vụ bể bóng cổ phiếu năm 2000, đã xảy ra, lại nhồi trong vụ khủng bố 9-11 vào Tháng Chín và hàng loạt tai tiếng của các doanh nghiệp bất lương (vụ Enron) vào cuối năm. Sau đấy là chiến dịch A Phú Hãn lồng trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Tiếp theo là chiến dịch Iraq và những hoạn nạn dồn dập của chính quyền Bush.

Năm năm sau, khi Thế kỷ 21 mới lên tám, Hoa Kỳ trôi vào một trận bão khác: lại suy trầm kinh tế cuối năm 2007, bồi thêm vụ khủng hoảng tài chánh và những trầm luân không dứt. Ngày nay, nếu bình tâm nghĩ lại thì người dân Mỹ có thể đồng ý rằng 13 năm qua quả là 13 năm "trâu trắng mất mùa". Kinh tế chưa hồi phục, khu vực gia cư bị tanh bành vẫn chưa gượng dậy. Ngân sách bội chi liên tục và gánh nặng quốc trái thăng thiên lên trời, tính đến hôm nay thì nợ 16 ngàn tám trăm tỷ đô la. Trong khi ấy, các chính trị gia của cả hai đảng và Tổng thống Barack Obama vẫn là những người đi trên mây. Đầy thủ thuật mị dân mà thiếu đởm lược đưa ra giải pháp thật.

Mà không chỉ có vậy, lời tiên đoán từ trăm năm trước về sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản lại lởn vởn trong đầu nhiều người. Nhất là từ cánh tả có khả năng viễn mơ nhiều hơn cái nhìn thực tế. Những người lạc quan nhất trong số này thì mong là nhà nước sẽ cải tiến chủ nghĩa tư bản. Nhiều người khác thì coi như Giấc Mơ Hoa Kỳ đã tàn phai, đang thành cơn ác mộng.

Trong hoàn cảnh đó, không mấy ai dám nghĩ rằng Thế kỷ 21 này là Thế kỷ của Hoa Kỳ.

Tội nghiệp! Hãy nhìn về quá khứ và nhìn ra chung quanh đã, rồi hãy hát khúc bi ca.

Trong một thời gian khá lâu, những kẻ tối dạ vẫn hồ hởi nghĩ rằng cộng sản chủ nghĩa – hay ả vợ bé của nó là xã hội chủ nghĩa khi lý luận cộng sản mắc bệnh liệt dương và chuyển sang từ trần – mới là tương lai của nhân loại. Không thiếu gì những người xưng danh học giả và trí thức trong thế giới tư bản và các nước dân chủ, kể cả Hoa Kỳ, cũng nghĩ vậy. Họ cầm tinh con vẹt để ngợi ca thành tựu của Liên bang Xô viết. Kết cuộc thì giấc mơ đỏ lè ấy tồn tại được một hoa giáp! Liên Xô tan tành và chủ nghĩa cộng sản phá sản.

Ba chục năm trước, cũng thành phần ưu tú của Mỹ đã hoài nghi thành tựu của Hoa Kỳ.

Với họ, sống, kinh doanh hay cạnh tranh thì phải như người Nhật. Chủ nghĩa tư bản với màu sắc Nhật Bản và cây kiềng ba chân của chính quyền, bộ máy hành chánh và các doanh nghiệp mới là tương lai. Nhật đã làm chủ nhiều cơ sở tại Hoa Kỳ và mô thức quản trị kiểu Nhật được giảng dạy trong các đại học uy tín nhất của Mỹ. Quần chúng ở dưới hốt hoảng thì phát huy tinh thần bài Nhật, lấy búa tạ phang xe hơi của Nhật và hồ hởi xem phim chống Nhật!

Giờ đây, không còn mấy ai nhớ mấy chuyện đó vì cùng với sự sụp đổ của Đế quốc Xô viết là sự lụn bại của nước Nhật từ năm 1991, nay vẫn chưa dứt.

Những người không lý tài như dân Nhật mà chuộng mã trí thức văn minh thì không nhìn về đó mà mơ ước mô hình Âu Châu.

Ưu điểm của "Cựu Thế Giới" mà "Tân Thế Giới" là Hoa Kỳ có thể học được chính là "phẩm chất của cuộc sống". Không cạnh tranh và đổi thay đến chóng mặt như Mỹ, Âu Châu mới là một tương lai hài hòa. Nhất là ngay sau khi Liên Xô tan rã, các nước đã có Thoả ước Maastricht năm 1992 để lập ra Liên hiệp Âu châu và có kế hoạch thống nhất tiền tệ để lập ra khối Euro.

Nhưng sau đúng 500 năm làm mưa làm gió trên thế giới, từ 1492 đến 1991, Âu Châu tụt xuống ghế đẩu. Và ngày nay đang cầm đèn đỏ, kinh tế suy sụp, thất nghiệp triền miên, đồng Euro thành đồng sứt. Hàng loạt quốc gia như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan,Ý Đại Lợi, Cyprus và Slovenia đang ở mé bờ khủng hoảng.

Những người Mỹ bi quan cứ nhìn vào danh hài Barack Obama mà thở hắt. Họ nên ngó qua bên kia Đại dương: nơi đó, các chính khách như Silvio Berlusconi hay Beppe Grillo của Ý hay Tổng thống François Hollande và cựu Bộ trưởng Ngân sách Jérôme Cahuzac của Pháp mới là những tay hề chính hiệu. Thế kỷ này không là thế kỷ của Âu Châu! Hết rồi.

May là còn có Trung Quốc và phép lạ kinh tế của bốn thế hệ lãnh tụ Đặng-Giang-Hồ-Tập!

Với một lực lượng dân công đông như kiến là một tỷ 354 triệu người hết còn phải đấu nhau như trong trăm năm trước, Trung Quốc có thể có sản lượng kinh tế đáng nể và giấc mơ bành trướng đáng sợ. Nhưng vỏ cứng ruột mềm, nền kinh tế và xã hội đó đã có triệu chứng suy trầm, rạn nứt và động loạn. Ít ai để ý đến trái bóng địa ốc hay núi nợ của Trung Quốc mà chỉ ca tụng bước nhảy vọt của Bắc Kinh và dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ ngay trong thập niên này. Nhưng thủ thuật ăn cắp và dòm lén thì quả là cao, đấy có là mẫu mực không? Và Thế kỷ 21 này có chấp nhận cho một anh hung đồ to xác cứ đòi tự tung tự tác hay chăng?

Thế giới còn lại những ai, xứ nào, để người Mỹ cho là tấm gương đáng soi? Ấn Độ? Brazil, Nam Phi, Nam Dương, Đại Hàn, Mễ? Hay Iran, Bắc Hàn? – Thưa rằng chẳng còn ai cả!

Hoa Kỳ phải tìm con đường sáng cho mình. Và sẽ lại tìm ra như sau mỗi lần hốt hoảng vì bị điện giựt như đã thấy trong lịch sử. Người dân Mỹ đang lặng lẽ thử nghiệm và tìm lấy sau khi đuổi một mớ chính khách về viết hồi ký.

"Thế kỷ này là Thế kỷ của Chúng ta!" - khi họ biết ca như vậy thì sẽ tìm ra.

Nguồn: http://dainamaxtribune.blogspot.com



04/14/2013 11:00 PM


linhtran
Re :   Ông Vương Trí Nhàn là 'nhà nghiên cứu văn hóa'?

Ông Vương Trí Nhàn là "nhà nghiên cứu văn hóa"?

Đàm Mai Đạo


Ông Vương Trí Nhàn

Đọc bài viết nhan đề: "Trình độ sống của người Việt còn thấp!" [1], tôi quá ngạc nhiên trước những nhận định và đánh giá về trình độ, tính cách dân tộc Việt của ông Vương Trí Nhàn. Tôi ngờ rằng, ý định của ông chỉ xoay quanh những thói xấu của người Việt (có lẽ chỉ là dân tộc Kinh), hơn là những lượng định phẩm chất toàn bộ dân tộc Việt Nam. Dù là thói xấu, nhưng những thói xấu đó không thể xem là của riêng người Việt, bởi hầu như những tính xấu (theo ông Nhàn, nó phản ánh trình độ dân tộc) như: bạo lực, tham lam, xảo trá, đố kỵ, mê tín dị đoan v.v... hầu như dân tộc nào trên thế giới cũng có.

Dù cho ông chỉ có ý định nói về người Kinh (dân tộc đông nhất tại Việt Nam), vẫn là điều mà cá nhân tôi cho rằng khá hời hợt. Bài viết làm cho người đọc tưởng tượng ra hình ảnh: ông Vương Trí Nhàn đang đứng trước cánh rừng già nguyên sơ quý hiếm được mệnh danh là "Bản sắc dân tộc Việt Nam" với những cảnh vật mờ ảo của buổi chiều tà ảm đạm rồi ông vội vã lượng định hết sức sơ sài cùng một chút võ đoán. Cũng có thể, từ cánh rừng quý giá đó, ông đã từng bị một hoặc vài tai nạn nào đó, có thể do bất cẩn trong lúc thám hiểm hoặc có thể ông tham gia cùng đoàn quân lâm tặc để phá rừng hoặc những kẻ săn trộm thú quý hiếm và rồi lãnh những sự trừng phạt từ rừng xanh chăng? Từ những tai nạn đó, tay không trở về, ông đã vội kết luận đó là cánh rừng nguy hiểm, đáng sợ và không có gì thú vị để khám phá, gìn giữ như là những tài sản quý giá cho thế hệ mai sau?

Nhận định một cá nhân đã khó, viết về một người nổi tiếng càng khó và buộc người viết phải cẩn trọng vô cùng để không thất thố. Tôi vào wikipedia, trong đó cho thấy [2]:

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét nhẹ nhàng về ông Vương Trí Nhàn:

Trong số những cây bút phê bình lý luận Việt Nam hiện đại, Vương Trí Nhàn là một người từ mấy chục năm nay đã tạo được một giọng điệu riêng khó lẫn. Ông không phải là người tiếp cận thật sâu một vấn đề gì đó và triển khai nó đến tận cùng, mà thường vấn đề gì cũng lướt qua một cách nhẹ nhàng, nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy.

Ngoài GS. Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Ngô Thảo có cách đánh giá khác:

"Người ta nói, anh Vương Trí Nhàn từ một nhà phê bình văn học trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa. Tôi rất nghi ngờ tính khoa học những loạt bài đó."

"Anh Nhàn là người ham học hỏi, đọc rất nhiều, nhưng cái kiến thức và cái tư tưởng của anh Nhàn, tôi rất nghi ngờ. Đó là khoảng cách của một người chủ trương phê phán thị trường, nhưng chính mình lại chìm ngập trong thị trường"

Tôi nghĩ, không riêng nhà báo Minh Phương vất vả khi phỏng vấn ông Vương Trí Nhàn qua bài viết thượng dẫn, mà các nhà báo khác cũng khó khăn rất nhiều bởi cách trả lời của ông dù êm nhẹ nhưng vòng vo không bao giờ đi thẳng vào câu hỏi, ngoài ra ông tỏ ra bảo thủ và cực đoan. Thật khó để nghĩ ông là một người "nghiên cứu văn hóa" hay "phê bình văn học", bởi ông khó chấp nhận bản thân sai hay những lỗ hổng trong cách lập luận. Một ví dụ buồn dưới đây, cho thấy phóng viên đã kiên nhẫn để cuộc phỏng vấn được tốt đẹp nhưng ông Vương Trí Nhàn tỏ ra cay cú (dù nhẹ nhàng) và bất hợp tác, đành hanh (trích):

PV: Nếu không nhận thức được mình thì chúng ta sẽ không có những triều đại rực rỡ như Lý, Trần, Lê, sẽ không có những anh hùng hào kiệt, các vị anh quân của các triều đại. Nếu không nhận thức được thì sẽ không có các tác phẩm nghệ thuật kinh điển. Nếu không nhận thức được chúng ta sẽ không có cuộc sống ngày hôm nay. Nếu không nhận thức được thì dân tộc Việt không thể có một nền văn hóa như vậy. Chúng ta cần đưa ra một trường hợp cụ thể. Theo ông, Nguyễn Du có nhận thức được mình không khi viết ra một tác phẩm như Truyện Kiều?

VTN: Tùy bạn, bạn cứ nói những điều này trên mặt báo. Một người như Nguyễn Du nhận thức được không có nghĩa là cả dân tộc nhận thức được.

PV: Ông nói sao? Một thiên tài như Nguyễn Du cũng không biểu hiện cho nhận thức của dân tộc sao?

VTN: Không có nghĩa là như thế. Tôi sẽ không gặp lại bạn nữa. Tôi đi về đây. Tôi không thích kiểu nói chuyện này.

(hết trích)

Quay trở lại với bài viết "Trình độ sống của người Việt còn thấp!", tôi nhận thấy:

Khi ông Nhàn đưa ra những câu chuyện cổ tích như: "Tấm Cám", "Trí Khôn" để quy kết "bạo lực nằm sâu trong văn hóa Việt" quả đáng choáng váng cho không chỉ những người yêu mến ông Nguyễn Đổng Chi - tác giả của 5 tập truyện "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam", được xem là tập hợp khá đầy đủ chuyện cổ tích Việt Nam. Cổ tích Việt Nam, nếu theo cách lý giải của ông Vương Trí Nhàn, có thể nói, dày đặc trong đó là... "bạo lực". Không chỉ là bạo lực mà còn nói đến những tính cách khác như: vong ân bội nghĩa (Sự tích Con Muỗi), tham tàn hiểm độc (Thạch Sanh Lý Thông), tham sang phụ khó, ma mãnh (Sự tích Thạch Sùng), thác loạn (Chữ Đồng Tử), thậm chí có thể quy kết "Sự Tích Trầu Cau" là cổ súy cho việc loạn luân, "Sự tích quả dưa hấu" là ủng hộ cho những nghịch tử, cũng đúng theo ý ông Nhàn v.v... và hàng hà sa số câu chuyện khác. Nếu quả thật vậy, dân tộc Việt Nam này từ đâu và làm sao mà tồn tại cho đến ngày nay giữa muôn trùng những thói xấu bất tận như thế?!

Truyện cổ tích là những câu chuyện mà không ai có thể biết rõ thời điểm được kể ra, chỉ biết là rất xưa. Nói điều này để thấy sự gắn kết chuyện cổ tích với xã hội hiện đại ngày nay (ít nhất là 20 năm trở lại đây - khoảng thời gian mà đạo đức Việt Nam ngày càng suy đồi), phải chăng quá khập khiểng và ngây ngô? Xã hội ngày nay chẳng phải đang cổ võ và đòi hỏi quyết liệt cho một nếp sống tuân thủ pháp luật? Chỉ tiếc pháp luật Việt Nam hiện tại vẫn chỉ là trò hề đối với nhân dân. Đó có phải là điều mà ông Vương Trí Nhàn bỏ qua một cách đáng tiếc, khi viện dẫn chuyện cổ để áp đặt cho tính cách, trình độ của người Việt?!

Ông Vương Trí Nhàn nói: "Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh". Thoạt nghe phân tích, có vẻ đúng thế. Không thể chối bỏ mê tín dị đoan ngày nay nảy nở khủng khiếp với những hủ tục, lễ lạt đầy chất ma mị. Thử hỏi, "khai ấn đến Trần" ai chủ xướng? Tại sao ngày Giỗ Tổ Vua Hùng bị lãng quên, cho mãi đến những năm sau này (2007) mới được hồi phục? Lại rất đau lòng để chỉ ra cái cách tưởng nhớ Tiền Nhân theo kiểu được thêm ngày nghỉ, để xả hơi, tụ họp ăn chơi và cổ súy như là một ngày dành cho hưởng thụ thay vì để thật sự nhớ về Người đã dựng nên nước Việt? Còn nhiều lễ lạt khác như: Hội Chùa Hương, Tết Trung Thu v..v... ngày càng méo mó đến thê thảm. Ai phải chịu trách nhiệm? Ngay đây, khi nhắc về "thần thánh", ông Vương Trí Nhàn đã bộc lộ lỗ hổng kiến thức rất lớn, ông không phân biệt được 3 lĩnh vực: Tâm Linh - Tôn Giáo - Mê tín dị đoan. Dường như ông đánh đồng cả 3 lĩnh vực này với nhau thì phải?!

Mặt khác, giữa một xã hội loạn lạc, vô chính phủ hiện nay; đứng trước những thiên tai, nhân tai, và cả... "chế độ tai", người dân không còn một chỗ nào bấu víu để được giải quyết thấu tình đạt lý trước những tranh chấp lợi ích đầy dãy, trước những tai nạn "trên trời rớt xuống" rình rập, trước những cái chết oan khiên, cho đến gia đình Đoàn Văn Vươn tề tựu tại Giáo Đường cầu nguyện Đức Chúa v.v..., thử hỏi những người dân côi cút, trắng tay như thế, nếu không bám víu vào Đức Chúa, Đức Phật thì họ sẽ tìm chỗ nào để nương tựa, để cầu xin, để hy vọng mong manh tìm chút bình an cho cuộc sống đối mặt với quá nhiều bất trắc?

Lý luận theo ông Vương Trí Nhàn, không hiểu ông sẽ lý giải như thế nào về trường hợp GS. Ngô Bảo Châu, cũng quan tâm đến tâm linh, lúc trẻ, trước khi thi, ông Châu thường hay tới chùa và thích ông ngoại đưa đón khi thi, vì tin rằng may mắn sẽ đến [5]. Theo quan điểm ông Nhàn, hoàn toàn có thể quy kết ông Châu như là lợi dụng thần thánh cùng với trình độ thấp?!

Một thực trạng ê chề không ai có thể chối cãi, Tôn giáo đã bị chà đạp, phỉ báng và rẻ rúng kể từ ngày người cộng sản áp đặt ách cai trị bạo tàn tại Việt Nam, trong khi họ luôn nói ngược. Không chỉ giới cấp cao mà ngay cả những người đắm chìm trong giáo điều cộng sản, họ cũng chưa bao giờ nhìn nhận và đánh giá đúng vai trò Tôn giáo trong một xã hội băng hoại đến cùng cực, bằng chứng dẫn ra đây là của một vị giáo viên nhiều năm dạy chính trị liên quan đến Marx - Lenin:

huycanh (khách viếng thăm) gửi lúc 22:16, 11/04/2013 - mã số 83942

Tôn giáo giúp chúng ta đến với cái linh thiêng, huyền bí, vượt lên trên cái hữu hạn, trần trụi của đời sống-đó là một mặt,là ý nghĩa của tôn giáo, tuy nhiên cũng phải thấy :tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân. Đó là một luận đề lịch sử, theo tôi, hoàn toàn chính xác của Marx.

Tôn giáo có sự linh thiêng, nhưng chưa bao giờ là huyền bí (theo cách mê tín dị đoan), bởi Tôn giáo là những gì trong sáng, thánh thiện nhất mà con người mãi luôn cần đến. Chính vì vậy, Tôn giáo không bao giờ là "hạnh phúc hư ảo". Bởi nếu Tôn giáo là "hạnh phúc hư ảo" thì không thể tồn tại và lan tỏa rộng khắp vượt khỏi không gian và thời gian mấy ngàn năm qua. Chúng ta đều biết trên tờ giấy bạc của Mỹ có dòng chữ "In God We Trust", chiếu theo quan điểm của chế độ hiện nay, có thể nói trình độ dân Mỹ cũng... thấp (?)(!). Một người quen (cũng là đảng viên) đã từng thắc mắc với tôi về hình thức "Xưng Tội", ông ta nói, đại ý: Lạ quá! Xưng tội xong, là hết tội. Vậy, sau đó họ có thể tiếp tục làm tội rồi vào xưng tiếp. Cứ vậy thì còn gì nói nữa. Tôi bật cười và nói với ông ấy rằng: "Chỉ khi nào ông thật sự làm người Công giáo nghiêm túc, ông sẽ hiểu". Điều đáng nói là những người này, luôn lấy suy nghĩ chủ quan của họ để áp lên mọi việc mà không bao giờ tìm hiểu một cách nghiêm túc.

Theo wikipedia, ông Vương Trí Nhàn cũng lớn lên và mưu sinh dưới chế độ cộng sản. Đó có thể cho thấy, có một ít liên quan giữa quá trình sinh sống, hấp thu giáo dục nhiều năm trong một chế độ nhất định với nhận thức về Tôn giáo.

Nếu ông Nhàn thiếu vắng hẳn tính chất quan trọng - Tôn giáo trong việc "nghiên cứu" gắn kết với "trình độ sống" thì ông Huy Canh cho thấy hình như chưa bao giờ nghiên cứu một chút gì về Tôn giáo, chí ít đọc nghiêm cẩn về một quyển sách nói về Tôn giáo chính thống nào đó. Trong khi những người mang nặng chất giáo điều này, họ có vẻ vẫn chưa phai lạt, mà vẫn xem "chủ nghĩa hư vô" có tên gọi là "chủ nghĩa Marx - Lenin" cho đến nay vẫn đúng (!). Tôi ngờ rằng, chính họ đang tự ru ngủ bằng chính cái "hạnh phúc hư ảo" mà họ lầm tưởng do Tôn giáo mang tới.

Cũng trong bài viết của ông Nhàn đang được bàn luận, ông nói: "...Chúng ta cũng đã từng kêu ầm lên khi có hiện tượng các cô gái đi lấy chồng Hàn Quốc… Rồi có làm gì thêm đâu". Đúng vậy, không chỉ là thảm nạn mà có thể nói đó là sự sỉ nhục quốc thể từ cái gọi là "cô dâu Hàn Quốc", "cô dâu Đài Loan", "cô dâu Trung Quốc" mà nạn buôn người cả cho việc bán thân đến nô lệ lao động xảy ra đầy các nước, mới đây xảy ra tại Nga đã làm bàng hoàng, chết lặng cho sỉ diện dân tộc do chủ chứa Nguyễn Thúy An [6] cầm đầu làm mưa làm gió nhiều năm với sự tiếp tay của quan chức cộng sản Việt Nam tại Nga, rồi hùng hồn tuyên bố đã mua đứt và dính dáng chằng chịt với quan chức và con cái của họ. Thử hỏi ông Nhàn, khi ông dùng chữ "chúng ta" ở đây là "chúng ta" nào? Những phụ nữ, trẻ em bị buôn bán để phục vụ tình dục như thế, ai, tổ chức nào phải chịu trách nhiệm? Một hội đoàn nào đó được thành lập tự nguyện tại Việt Nam chỉ duy mục đích lên tiếng và đấu tranh cho những người phụ nữ đáng thương đó, có được hoạt động chăng hay bị bắt giữ ngay lập tức với chiêu bài "79" hoặc "88"? Ai sẽ đứng ra để giải trừ thảm họa buôn người như thế này? Hay lại đổ thừa do "trình độ sống" dân Việt "thấp"?! Tôi cho đó là sự khinh rẻ tồi tệ dân tộc thì đúng hơn!

Giáo dục - lĩnh vực phản ánh rõ nét về trình độ của dân tộc nào đó. Còn gì để bàn cãi với nền "giáo dục XHCN" hiện nay? Cậu bé khôi ngô Đỗ Nhật Nam bị sỉ vả và chỉ trích dồn dập, chỉ vì dám nói thật những suy nghĩ của mình, có là gương điển hình của một sự bóp chết "trình độ" người Việt không?

Một người được xem là "nhà nghiên cứu văn hóa" nhất định phải có kiến thức vừa sâu vừa rộng trên nhiều lĩnh vực liên quan. Người đó còn phải có tư duy vận động liên tục, nhãn quan nhạy bén và hiện đại để hòa hợp với thời đại và cần nhận thức rõ thế giới đang đổi thay chóng mặt với khái niệm "toàn cầu hóa", "thế giới phẳng", "kinh tế tri thức". Ngày nay tri thức không còn bị những "biên giới" như là những hàng giậu ngăn cách. Nghiên cứu văn hóa không thể tách rời, chẻ nhỏ hay cắt khúc như cắt ổ bánh mì đối với những hiện tượng cần nghiên cứu.

Tóm lại, dân tộc Việt Nam hiện nay tan hoang về nhân cách sống, rách bươm về đạo đức vì:

- Tôn giáo bị rẻ rúng, đàn áp.

- Pháp luật chỉ là những manh giấy vô nghĩa.

- Giáo dục bóp chết sự sáng tạo.

- Thiếu vắng một xã hội dân sự thông qua việc thành lập những hội đoàn để người dân có tiếng nói đấu tranh cho lợi ích của mình (ví dụ: Hội những người chống tệ buôn người, Công đoàn độc lập, Hội dân mất đất oan v.v...).

- Chế độ độc đảng toàn trị đang tôn sùng và cổ súy trong nhân dân vai trò bạo lực trở thành công cụ và phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi vấn đề.

Chính những thiếu vắng và hụt hẫng nói trên đã phá nát cái gọi là "trình độ" mà ông Vương Trí Nhàn gọi là "thấp" để rồi áp đặt vô lý cho dân tộc Việt Nam.

Chỉ có trả lại và nâng cao Quyền Con Người mới mong giải quyết vấn đề văn hóa nói riêng và mọi vấn đề nói chung tại Việt Nam.

Đàm Mai Đạo
(Tôi ủng hộ Phong Trào Con Đường Việt Nam)

_____________

[1] Vương Trí Nhàn - Trình độ sống của người Việt còn thấp! (Dân Luận)

[2] Vương Trí Nhàn (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[3] Tri thức hiện đại - Không được tạo 'dịch nói xấu người Việt' (Sự Kiện)

[4] Nguyễn Đổng Chi (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[5] Thời thơ ấu của Ngô Bảo Châu (VNExpress.net)

[6] Chủ Chứa Ở Nga: Các Quan Chức Việt Ngậm Miệng Ăn Tiền (Mạch Sống)

Nguồn: danluan.org



04/14/2013 11:44 AM


linhtran
Chủ Đề :   VIỆT NAM ĐI TRƯỚC VỀ SAU _ BS Hồ Hải

VIỆT NAM ĐI TRƯỚC VỀ SAU

BS Hồ Hải


Điểm lại lịch sử, phong trào người dân các nước nô lệ đứng dậy giành lại độc lập trên toàn thế giới, thì Việt Nam là nước sớm nhất khi cụ Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình vào ngày 02/9/1945. Ngay cả so với Trung Hoa cũng phải hơn 4 năm sau thì Mao Trạch Đông mới khai sinh ra nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa bây giờ vào ngày 01/10/1949. Tất cả các quốc gia quanh vùng Đông Nam châu Á cũng phải độc lập ở thập niên 1950s. Càng chậm hơn nữa đối với các quốc gia châu Phi và các châu lục khác.

Thế nhưng vì cái gì mà mãi đến 30/4/1975 Việt Nam mới có ngày thống nhất?

Thế nhưng, vì cái gì mà mãi hôm nay Việt Nam vẫn còn lẹt đẹt theo đuôi các nước đang phát triển quanh vùng Đông Nam Á, chứ chưa dám nói đến chuyện Việt Nam có thể sánh vai cùng năm châu, bốn bể như cụ Hồ đã từng tuyên bố?

Và thế nhưng, vì cái gì mà hôm nay Việt Nam vẫn còn mang hình thái, dáng vóc của một Trung Hoa về cả kinh tế lẫn chính trị, một cách rập khuôn?

Tất cả những câu hỏi trên đã là những đề tài tốn không biết bao nhiêu giấy mực trong hơn nửa thế kỷ qua. Để rồi hôm nay, một Việt Nam với cái gọi là đã từng "đánh thắng 3 đế quốc", lại là một nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, tự ăn thịt gia sản tổ tiên để lại, và tự phá nát văn hóa, giáo dục, đạo dức con người, kinh tế, v.v... dưới một thể chế chính trị thối nát như chưa bao giờ thối nát bằng hôm nay.

Hàn Quốc, họ chỉ mới thay đổi hiến pháp 1 lần từ sau đất nước chia đôi vào năm 1987. Mới chỉ 26 năm sau thay đổi hiến pháp để biến một nhà nước độc tài quân phiệt thành một nhà nước dân chủ tự do, để giải phóng sức sản xuất của toàn xã hội, và họ đã biết sử dụng được sức mạnh của toàn dân để đi lên thành cường quốc trên toàn cầu. Cho nên có một nguyên lý cơ bản là, để thoát cái nghèo anh chỉ cần một thập niên làm ăn cần mẫn, nhưng cái mất văn hóa và đạo đức anh cần cả thế kỷ để gột rửa những vết nhơ.

Ba câu hỏi trên, kẻ thắng cuộc thì cho mình là chân lý và độc quyền truyền thông để biện mình mình đúng. Người thua cuộc thì cũng cho mình là chính nghĩa. Nhưng có một điều rất đau lòng là, dù thắng hay thua thì nhân dân cũng đã phải nằm xuống hàng triệu sinh linh, để hôm nay có một Việt Nam thấp hèn và bạc nhược thuộc vào hàng nhất khu vực. Thế thì, thắng hay thua để làm gì?

Có câu nói cửa miệng ngày còn nội chiến Nam Bắc Việt Nam, là miền Nam đi trước về sau. Và sau khi đất nước thống nhất, miền Nam cũng là nơi chịu nhiều thiệt thòi nhất. Nhưng cái đáng nói hơn là sao không ai để ý đến, Việt Nam đi trước thế giới các dân tộc bị áp bức nộ lệ, nhưng lại về sau cho mãi đến tận hôm nay?

Có phải chăng vì nhân dân Việt Nam không đủ tư chất để làm thay đổi vận mệnh quốc gia, hay là vì tầng lớp "tinh hoa" Việt chưa bao giờ đặt tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân, mà bỏ qua nhiều cơ hội để đất nước đi lên, nhân dân ấm no, hạnh phúc? Một vận hội mới năm Quý Tỵ - 2013 - này đang chờ phía trước thông qua việc gia nhập Tổ chức Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một trong 9 thành viên đầu tiên đăng ký tham gia, liệu có bị bỏ qua không, trong khi các quan đầu triều vẫn còn mãi lo chuyện tranh ngôi đoạt vị vẫn chưa xong?

Có lẽ, nếu các lãnh đạo và nhân dân Việt Nam bình tâm ngồi lại, suy nghĩ để trả lời được câu hỏi: Vì sao Việt Nam đi trước mà phải chịu về sau, thì mới hy vọng nước Việt có một tương lai tốt đẹp.

Nguồn: Blog Hồ Hải



04/14/2013 11:19 AM


linhtran
Chủ Đề :   Ngô Nhân Dụng _ Sống thật không sống giả

Sống thật không sống giả

Ngô Nhân Dụng - Friday, April 12, 2013

Trước khi các chế độ cộng sản sụp đổ, ít người thấy được những nhược điểm căn cốt nằm bên trong chế độ, kể cả những lực lượng đối lập đang đòi dân chủ hóa. Ông Jan Urban, một người trong nhóm Hiến Chương 77 sau này cho biết vào mùa Hè năm 1989, nhà trí thức trong nhóm này đã có trong tay một bản báo cáo của cơ quan mật vụ StB trình lên Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Trong báo cáo này, StB cho biết “những nhóm chống Chủ nghĩa Xã hội” chỉ gồm có 60 người, và nhiều nhất là 500 người ủng hộ họ. Jan Urban đồng ý là các con số được StB ước lượng là đúng. Ông viết: “Chính chúng tôi cũng thấy mình không thể nào chống lại chế độ này được, cho đến khi nó sụp đổ còn ngạc nhiên.” Ðảng Cộng sản Tiệp Khắc sụp đổ vào mùa Thu năm đó.

Bởi vì mọi người chỉ được xem một tấn tuồng giả dối. Cố Tổng thống Václav Havel (1936-2011) cũng trong nhóm Hiến Chương 77, trong cuốn “Quyền lực cho những người Bất lực” (The Power of the Powerless, 1978) đã mô tả nước ông là nơi các công dân bị bắt buộc phải “sống trong một trò giả dối” (live within a lie). Năm 1984, ông đã đưa ra một lời kêu gọi đồng bào ông, “Hãy sống thật!”

Ở bên Nga trước đó, năm 1974 văn hào Aleksandr Solzhenitsyn cũng nhìn thấy cảnh tượng đó. Ông viết xong một bài tựa đề “Ðừng Sống Dối Trá” (Live Not By Lies) đúng vào ngày ông bị mật vụ đến bắt đem đi. Năm đó Solzhenitsyn còn bi quan hơn nhiều; ông viết: “Chúng ta đã bị mất nhân tính một cách tuyệt vọng đến mức sẵn sàng từ bỏ tất cả các quy tắc, từ bỏ tâm hồn mình, từ bỏ tất cả những nỗ lực của tổ tiên cũng như từ bỏ các cơ hội đáng lẽ con cháu chúng ta phải được hưởng; để đổi lại lấy mấy khẩu phần tem phiếu nhỏ nhoi, và chấp nhận đừng có làm gì hết khuấy động cuộc sống mong manh này.” Solzhenitsyn than: “Chúng ta đang chết về mặt tinh thần.... và chúng ta vẫn cứ thế mỉm cười một cách hèn nhát...”

Năm 1975 Havel đã viết một lá thư ngỏ gửi cho lãnh tụ đảng Cộng sản Gustáv Husák để trình bày cảnh tượng người dân chán nản trong một xã hội “phân biệt chính trị' (political apprtheid) không khác gì chế độ phân biệt chủng tộc đen trắng ở Nam Phi lúc đó. Ông nhìn thấy trong xã hội nước Tiệp Khắc những công dân “muốn sống trong sự thật” sẽ tự nhiên tách mình ra khỏi cái không khí tinh thần (ông gọi là một nền văn hóa) do chế độ ban bố. Havel nhìn thấy có hai đời sống văn hóa song hành, một đời sống giả do đảng và nhà nước cộng sản duy trì, và một nền văn hóa thật trong đời sống hàng ngày của người dân. Chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc là một chế độ hà khắc kiểu Stalin nhất, so với những nước cộng sản cởi mở hơn ở Ba Lan và Hungary; tình trạng mà cũng vào năm 1984 nhà phân tích chính trị T. G, Ash nhận định trong một tựa đề rất thích hợp: “Nước Tiệp Khắc ướp đá,” (Czechoslovakia under the Ice). Nhưng chính lúc đó Ash cũng đã nhìn thấy, một số nhà trí thức can đảm cũng chứng tỏ có những đốm lửa nóng ngầm bên dưới đang đang làm tan cái khối băng đá khổng lồ là chế độ cộng sản. Bởi vì ai cũng còn nhớ, dân Tiệp Khắc đã có lúc vùng dậy, muôn người như một, chứng tỏ họ là một dân tộc hào hùng. Vì thế, giới trí thức phản kháng dù họ chỉ mới quy tụ được 60 người, vẫn tin tưởng, hy vọng, và tiếp tục hành động.

Tại Việt Nam ngày nay, người dân không phải hy sinh danh dự vì những phần ăn có thể mua bằng tem phiếu như ở Nga thời Solzhenitsyn nữa. Nhưng người ta vẫn có thể bỏ quên danh dự vì những lý do khác. Xã hội vẫn sống hai mặt, trong hai đời sống khác nhau. Một cuộc sống dối trá ở chỗ công khai, một cuộc sống thật khi quay về với chính mình. Ðó là “hai nền văn hóa song song,” như Havel diễn tả.

Trong nền “văn hóa sống giả,” ở trên cùng là đảng Cộng sản vẫn còn hô hào “xây dựng chủ nghĩa xã hội;” trong khi chính các lãnh tụ đảng cũng không ai còn tin vào cái chủ nghĩa mơ màng đó nữa. Còn bên dưới, cả guồng máy tuyên truyền hàng ngàn thứ báo, đài, vẫn được bộ máy văn hóa tư tưởng uốn nắn vào khuôn, không ai dám nói đến nhu cầu dân chủ tự do. Toàn dân không còn ai tin vào những lời hứa hẹn của đảng Cộng sản; mà cũng không ai tin đảng sẽ còn sống lâu được nữa. Nhưng cả bộ máy truyền thông vẫn tiếp tục vẽ một bộ mặt bình thường cho chế độ, loan tin những nghị quyết, những kế hoạch, những thành quả, làm như tương lai vẫn rất tươi sáng.

Năm 1975, ông Havel đã báo động với lãnh tụ cộng sản Husák rằng tình trạng “phân biệt chính trị” của chế độ đang gây ra một hậu quả là người dân Tiệp Khắc sẽ bị “phi chính trị hóa,” không còn ai quan tâm đến xã hội chung quanh mình nữa. Ở nước ta hiện nay chủ nghĩa “Mặc Kệ” cũng đang tràn ngập. Chế độ kinh tế tư bản rừng rú mở cửa cho lòng tham và óc hưởng thụ nổ bùng. Nhưng không thiết lập được những định chế để kiềm chế các hành động gian manh do lòng tham thúc đẩy. Nền văn hóa sống giả làm cho cả xã hội suy đồi. Ðến nỗi có nhà tư bản đỏ bỏ hàng tỷ đồng trùng giúp tu chùa chiền cho thật hào nhoáng, để đưa hình ảnh vợ con, gia đình mình vào đặt ngang với bàn thờ.

Nhưng trong “nền văn hóa sống thật” vẫn có những mạng lưới của giới trí thức, giới sinh viên, các nhà vận động dân chủ. Họ dám nói thẳng: Sống như thế này không thể chấp nhận được. Phải thay đổi, và thay đổi toàn diện.

Bên cạnh cuộc sống thật đó, xã hội vẫn may mắn vẫn còn các đoàn thể tôn giáo, những nhóm tư nhân, nghề nghiệp, đang tự tổ chức để hoạt động trong các phạm vi thuần túy tôn giáo, xã hội, khoa học, nghệ thuật, bên ngoài tầm kiểm soát của đảng. Họ đang xây dựng nền tảng cho một xã hội công dân tương lai, khi quyền hội họp tự do được chính thức công nhận. Ngoài ra cũng có những ý kiến lâu lâu xuất hiện trên báo chí công khai, chỉ mới dám vận động xin đảng Cộng sản nới lỏng một chút tự do cho họ được phép góp ý kiến một cách ôn hòa. Những hoạt động và các tiếng nói nhỏ đó giúp cho cuộc sống đẹp hơn. Nhưng chính họ vẫn phải chấp nhận chỉ đóng vai trò của mình, thu hẹp trong cả tấn tuồng giả dối do đảng Cộng sản đạo diễn.

Bây giờ là lúc người Việt Nam phải nói với nhau: Chúng ta quyết định không sống giả nữa. Nhiều người đã hành động như vậy. Thí dụ, ngay trong tấn tuồng “sửa hiến pháp” đang diễn ra. Trong nền văn hóa sống giả, đảng Cộng sản đang loan báo bao nhiêu tổ dân phố trên toàn quốc đã bầy tỏ ý kiến ủng hộ dự thảo tu chính hiến pháp của cái gọi là “quốc hội.” Cả bộ máy truyền thông của đảng loan tin hơn 50, 60 triệu người dân đã hoan nghênh bản dự thảo gia tăng quyền hành cho đảng. Nhưng trong nền văn hóa sống thật, đã có những nhóm như 72 nhà trí thức, có cả hội đồng giám mục, lên tiếng đòi bác bỏ điều 4, bãi bỏ các điều khoản phản dân chủ. Không phải chỉ có một Giáo hội Phật giáo Thống nhất dám nói công khai là phải xóa hẳn bản hiến pháp độc quyền chuyên chế, mà có cả những cá nhân cũng nói thẳng phải xóa đi làm lại, từ một nhà báo trẻ tuổi như Nguyễn Ðắc Kiên tới một đảng viên cộng sản lão thành như ông Lê Hồng Hà. Họ là những người đã quyết định phải sống thật.

Sửa Hiến pháp không phải là trò hề duy nhất trong cả cuộc sống giả dối từ hơn nửa thế kỷ nay vẫn còn đang diễn ra. Người Việt Nam đang hàng ngày phải sống với tấn tuồng giả dối khổng lồ. Sẽ đến lúc người ta phải tự thấy xấu hổ khi soi gương nhìn thẳng vào mặt mình.

Bởi vì trong nền văn hóa sống giả còn cả những vụ giết người nữa. Thử coi lại câu chuyện những người dân khỏe mạnh bỗng nhiên chết trong đồn công an. Năm 2011 có một công nhân ở khu công nghệ Shinec tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Rồi tới một thanh niên “bị tạm giam” tại Công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang. Năm 2013 là cảnh một ông xã Phúc Thành, huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương bị bắt, ngày hôm sau thì công an báo cho gia đình biết là ông ta “thắt cổ bằng sợi dây điện” tự ải. Rồi một ông chết ở đồn công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Ðắc Nông; họ bảo là ông ta “tự đút tay vào ổ điện rồi ông ấy giật điện, tự tử” mặc dù trên đầu chảy máu thân thể nhiều vết tích bầm tím. Chúng tôi không nhắc đến tên quý vị trên vì lòng kính trọng các người đã khuất. Nhưng tại sao nhiều người Việt Nam lại chọn đồn công an làm chỗ chết hay chỗ tự vẫn như vậy? Nói dối đến thế thì còn ai tin được hay không?

Chúng ta phải sống giả dối mãi như thế bao lâu nữa? Bao nhiêu mạng người chết oan uổng nữa thì tấn tuồng giả trá mới chấm dứt? Hãy nhớ những lời chân thành của Václav Havel, của Aleksandr Solzhenitsyn. Cần sống thật. Không thể tiếp tục sống giả dối. Nghĩ đến tổ tiên, đến con cháu, ai cũng phải quyết định như vậy

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com



04/12/2013 11:19 PM


linhtran
Chủ Đề :   Vương Trí Nhàn - Trình độ sống của người Việt còn thấp!

Vương Trí Nhàn - Trình độ sống của người Việt còn thấp!

Minh Phương (thực hiện)

"Bạo lực nằm sâu trong di sản văn hoá cộng đồng. Người Việt chúng ta không có niềm tin đủ mạnh vào cái thiện, đủ để làm cho họ tránh phạm điều ác. Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn phải phấn đấu nhiều để vượt lên một trình độ sống khác".

Vụ clip bạo lực của nữ sinh Trần Nhân Tông chưa kịp nguội trong dư luận, thì liên tiếp nhiều vụ bạo lực học đường và tội ác xã hội với cấp độ còn cao hơn... Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn tiếp tục chia sẻ sâu hơn xung quanh chủ đề về mầm mống bạo lực trong xã hội Việt.

 Bạo lực nằm sâu trong văn hóa Việt 

Ông đặt vấn đề suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống. Vậy thì, nhìn xa hơn những biểu hiện mà ta đã nói đến, thì mầm mống của bạo lực trong đời sống Việt nằm ở đâu? 

Ở ngay trong di sản văn hoá của cộng đồng. Ngay trong ca dao, tục ngữ… có những câu báo động về cách cư xử của người xưa. Nhiều câu tôi nghe từ lâu Cả vú lấp miệng em, Lấy thịt đè người, Già đòn non nhẽ…

Gần đây trong những dịp đọc linh tinh, tôi lại nhặt thêm được một câu Cả bè to hơn văn tự. Câu này đại khái có nghĩa thế mạnh vật chất là nhất, vượt lên trên mọi cam kết, mọi lẽ phải, mọi luật pháp.

Cổ tích của chúng ta cũng có không ít truyện cho thấy ẩn ức bạo lực của con người. Trong “Tấm Cám”, cô Tấm trả thù mẹ con nhà Cám rất tàn bạo. Trong ngụ ngôn “Trí khôn của ta đây”, con người lừa trói con hổ, châm lửa đốt… chỉ để khẳng định bản thân.

Đó là những biểu hiện tâm lý của thời kỳ xa xưa, có thể hiểu là thời chưa văn minh. Trên hành trình phát triển của dân tộc, những yếu tố gì khác nuôi dưỡng mầm mống bạo lực này, thưa ông?

Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Hoàn cảnh chiến tranh khiến người ta coi nhẹ cái chết, coi nhẹ bạo lực. Đã đổ máu nhiều tự nhiên người ta sinh ra coi thường sự đổ máu.

Đi qua chiến tranh, chúng ta tưởng rằng mình sẽ khác, nhưng thực tế lại bước vào cuộc cạnh tranh khác. Những tiền đề bạo lực ấy hàng ngày đang được dung dưỡng, tha thứ.

Ngoài ra, tôi cho một trong những yếu tố quan trọng là người Việt chúng ta không có một thứ tôn giáo đủ mạnh, đủ để làm cho họ sợ mà tránh phạm điều ác. Cảm giác hướng thiện, cảm giác về một cuộc sống khác trong mỗi người thường rất mong manh.

Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh. Còn lòng nhân từ mà tôn giáo nào cũng khuyến khích lại không bắt rễ sâu sắc trong ta.

Trình độ sống của người Việt còn thấp

Quay trở lại các hiện tượng bạo lực hiện nay. Thực ra, có không ít sự vụ tương tự… chỉ có điều không “lộ sáng” dưới hình thức dễ tác động tới công chúng. Tức là, sự xuất hiện của những clip mà cả xã hội đang xôn xao kia chỉ là sự bộc lộ một tình trạng mà chúng ta chưa ý thức đầy đủ?


"Cổ tích của chúng ta cũng có không ít truyệncho thấy ẩn ức bạo lực của con người"

Đúng như vậy. Các clip bạo lực học đường này so với nhiều câu chuyện được đề cập trên báo chí hàng ngày đã ăn thua gì. Tôi được biết, trong những vụ tai nạn xe ô tô, nhiều khi tài xế cố cán cho người bị nạn chết luôn, chấp nhận bị đi tù vài năm so với việc chẳng may phải bồi thường và nuôi nạn nhân cả đời nếu họ bị tàn tật.

Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn rất nhiều phấn đấu để vượt lên một trình độ sống khác.

Báo chí hàng ngày cho thấy các hình thức bạo lực cũng đang bùng phát ở nhiều xã hội khác, được cho là văn minh hơn. Vậy, nói bạo lực phản ánh trình độ sống thấp của dân Việt là một khái quát vội vã?

Cố nhiên, dân mình không độc quyền trong chuyện này. Bạo lực đang hoành hành ở nhiều xã hội. Có điều, theo tôi hiểu, ta thuộc về khu vực của những nước bạo lực không chỉ phổ biến mà còn bị đẩy lên quá đáng, nhiều khi phải nói là dã man.

Bất cứ ở đâu phát triển bạo lực tức là nơi đó trình độ sống còn thấp. Ta cũng là một minh chứng rõ rệt cho quy luật đó.

Trong thái độ bạo lực đối với thiên nhiên mà ta đã nói đến, sở dĩ loại bạo lực này còn đến ngày nay, xét sâu xa ra vì ta chưa hiểu sâu sắc mối quan hệ con người với thiên nhiên. Trong công cuộc kiếm sống, tư duy hái lượm còn đang chi phối. Tư duy hái lượm nghĩa là chỉ biết ăn sẵn, lo tước đoạt thiên nhiên chứ không biết làm giầu cho thiên nhiên. Ở các xã hội phát triển hơn, lối kiếm sống này, lối tư duy này đã bị vượt qua từ lâu.

Bạo lực giữa người với người nảy sinh và tồn tại dai dẳng khi ngôn ngữ giao tiếp bất lực người ta không thể dùng lời nói để thuyết phục nhau, chia sẻ ý kiến với nhau, và quan trọng nhất là phân chia quyền lợi với nhau, đành dùng lối “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” vậy.

Sự thiếu vắng một ngôn ngữ chung hiệu qủa (ngôn ngữ theo nghĩa một công cụ giao tiếp) là dấu hiệu của trình độ sống còn thấp.

Phản ứng ầm ĩ nhưng kém hiệu quả


"Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh". 

Sau mỗi vụ bạo lực, bạo hành, những cơn xúc động của dư luận bùng lên để rồi lại xẹp xuống cho đến khi lại có những vụ việc tiếp theo. Trong khi đó, xu hướng này vẫn tiếp tục. Nghĩa là những cảnh báo, báo động, kêu gọi… của chúng ta là cách phản ứng ầm ĩ nhưng lại kém hiệu quả?

Trong cách phản ứng hiện nay thấy thể hiện một khía cạnh tính cách người Việt. Chúng ta thường nông nổi, đồng bóng mà ít chịu nghĩ sâu một điều gì đó. Không riêng gì với bạo lực, cách ứng xử ấy đã bộc lộ trong nhiều trường hợp khác. Chúng ta cũng đã từng kêu ầm lên khi có hiện tượng các cô gái đi lấy chồng Hàn Quốc… Rồi có làm gì thêm đâu.

Hơn thế nữa tôi cảm thấy một xu hướng cư xử hiện nay là chúng ta thích dễ dãi với nhau bỏ qua cho nhau nhiều điều lẽ ra không thể bỏ qua. Ta không biết ngăn chặn cái ác từ lúc nó mới manh nha. Cái gốc là ta không đặt ra những yêu cầu cao với những người chung quanh, với người thân của ta, với con em ta nữa.

Nguồn: VnMedia



04/12/2013 10:12 AM


linhtran
Chủ Đề :   Năm lần 'phá' Chủ Nghĩa Xã Hội để tồn tại _ Ngô Minh

Năm lần "phá" Chủ Nghĩa Xã Hội để tồn tại

Ngô Minh

Không ai biết Chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một hình thái xã hội như thế nào. Nó có trong trí tưởng của ai đó hay có ở hành tinh khác. Chỉ nghe thầy giáo chính trị giảng đi giảng lại trong lớp học từ bé lớp một cho đến sinh viên đại học, rằng: Nước ta đang xây dựng CNXH, giai đọn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa xã hội là sung sướng gấp vạn lần, dân chủ, tự do gấp vạn lần chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế ở nước ta (và nhiều nước CNXH “anh em” khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ) 80 năm qua, càng xây dựng CNXH thì cuộc sống càng đi xuống, bị kềm nén không có tự do báo chí, không có tự do lập hội, thiếu dân chủ v.v... Chỉ đi xe chục tiếng sang Thái Lan, thấy đời sống nước họ, tự do dân chủ nước họ mà thèm. Đó là chưa nối đến Hà Lan,Thụy Sĩ, Thuỵ Điển, Đan Mạch… cuộc sống của họ là thiên đường thực sự. Ở xứ ta, chỉ có giai cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền là ngày càng giàu sang và quyền lực. Các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm một cuộc “cách mạng mềm” lật đổ CNXH để xây dựng cuộc sống mới. Bốn trăm triệu người ở Liên Xô và Đông Âu được giải phóng, vô cùng hoan hỷ. Nước ta từ năm 1954 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 trên cả nước, ai cũng nhận thấy càng xây dựng CNXH thì dân càng đói kém, cuộc sống càng bị o ép khổ cực. Đến bây giờ nước ta vẫn được xếp hạng một trong những nước nghèo nhất thế giới. Nhưng nhân dân ta đã có những cuộc vượt phá chiếc “vòng kim cô” CNXH để mưu sinh và tôn tại rất ngoạn mục:

1. Cuộc “lãn công” vĩ đại dưới thời Hợp tác xã

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ở miền Bắc tiến hành Hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo tiểu thủ công nghiệp. Hợp tác xã là Chủ nghĩa xã hội. Lúc đầu bà con háo hức lắm. Nhưng rồi tham nhũng nảy nòi, được thể chế CNXH khuyến khích: Một người làm việc bằng hai / Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe/ Một người làm việc bằng ba / Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân… Đưa ruộng cha ông để lại vào hợp tác rồi, người nông dân không còn ruộng đất canh tác nữa, phải đi làm đồng theo kẻng. Ruộng chung như cha chung không ai khóc, nắng lên khỏi ngọn sào mới lục tục ra đồng, chưa xong đường cày đã giải lao, chiều mặt trời còn con sào đã về. Nên cuối vụ chia công điểm, mỗi công được 2 lạng thóc. Dại gì mà làm cho thằng khác ăn. Thế là đói. Cả xã hội nông thôn lãm công. Người gần rừng thì đi đào củ mài. Người không có rừng thì đào cua bắt ốc ra chợ đổi gạo. Nên cả miền Bắc nông dân lãn công.

Lãn công đến độ, bờ xôi ruộng mật cũng chẳng ai ngó ngàng đến. Thấy cảnh dân đói quá, các nhà quản lý buộc phải “phá lệ XHCN”, chia “Đất phần trăm” cho nông dân. Đất phần trăm là đất được xác định 5% quỹ đất của địa phương chia cho các hộ gia đình để sản xuất rau màu,cấy lúa. Những người sinh từ 1962 trở về trước được chia 2 thước ta tức là 48m2/người và được toàn quyền sử dụng. Trên mảnh đất phần trăm đó, các hộ nông dân đã trong khoai cấy lúa nuôi sống gia đình mình, không cần đến thu nhập của HTX. Đất phần trăm tư nhân ấy là cú “phá CNXH” đầu tiên của nông dân Việt Nam.

2. Khoán hộ Kim Ngọc – cú đấm vào mặt CNXH

Có đất phần trăm rồi vẫn nhiều hộ đói, vần tiếc ngẩn ngơ hàng triệu hecta đất màu mỡ vào HTX không mang lại thu nhập, bà con ở Vĩnh Phú, theo anh Kim Ngọc nghĩ ra cách khoán hộ, để có người chịu trách nhiệm hiệu quả trên tầng thước đất. Khoán Kim Ngọc ra đời. Tổng bí thư đảng kêu lên: ”Khoán hộ là phá CNXH”. Thế là Kim Ngọc bị kiểm điểm. Phá CNXH cũng không chết bằng đói. Thế là phong trào khoán hộ phát triển rầm rộ ở nhiều tỉnh như Hải Phòng, Hải Hưng… Cuối cùng thì Bộ Chính trị buộc phải “phá CNXH” ra nghị quyết “Khoán 10”. Khoán Kim Ngọc như một nắm đấm đấm vỡ mặt Chủ nghĩa xã hội ảo tưởng.

3. CNXH: PHÂN NHƯ CỨT, CỨT GÌ CŨNG PHÂN

CNXH được định nghĩ là “nền kinh tế Kế hoạch hóa từ sản xuất đến tiêu dùng”. Nên kế hoạch sản xuất hàng hóa hàng năm giao cho các nhà máy, xí nghiệp. Sản xuất được bao nhiêu nộp cho nhà nước để nhà nước phân phối theo kế hoạch. Nhưng sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu ngày càng cao. Nên tất cả các nước đều phải áp dụng chế độ tem phiếu một cách triệt để. Chỉ có lãnh đạo cao cấp là được mua theo nhu cầu, toàn hàng tốt ở của hàng Tông Đản, còn cán bộ, công hnân viên đều có đủ loại tem phiếu, từ mớ củi, bìa đậu phụ, bó rau… đến mét vải màn cho phụ nữ vệ sinh, đều có tem phiếu hoặc sổ mưa hàng. Bắt cởi trần phải cởi trần / Cho may ô mới được phần may ô. Cung cấp thành nếp sống. Lãnh đạo đẩng tuyên bố: “Kế hoạch hoá tiêu dùng chính là bản chất của CNXH”. Buổi sáng nọ, ở công Sở Thương Mại tỉnh nọ có câu đối: Phân thì như cứt. Cứt gì cũng phân. Nhưng đến khi Bộ trưởng thương mại Trần Phương vạch kế hoạch bỏ tem phiếu, TBT kêu lên: ”Làm thế thì phá CNXH còn gì?”. Nhưng dân tộc ta đã “phá CNXH”, từ bỏ được chế độ tem phiếu để tồn tại. Từ bỏ cảnh cung cấp bao năm trời làm đau khổ chị em: Hôm nay mồng tám tháng ba / Chị em phụ nữ đi ra đi vào / Hai tay hai củ xu hào/ Miệng luôn lẩm bẩm: Nên xào hay kho?

4. TỰ CHỦ TÀI CHÍNH – CUỘC PHÁ CNXH NGOẠN MỤC

Sau năm 1975, Bộ Chính trị đảng chỉ đạo tức tốc “cải tạo công thương nghiệp miền Nam, đánh bại bọn tư bản, nếu không thì không thể xây dựng CNXH được”. Thế là đua nhau đập phá, cải tạo. Các nhà máy, xí nghiệp hiện đại đang vận hành êm ru bỗng chốc tiêu điều. Nguyên liệu không có để sản xuất, công nhân không có việc làm, không lương. Nhiều giám đốc tư bản rãy chết bị thay bằng “giám đốc học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ra”. Cái trường ấy cũng lạ, ai tốt nghiệp trường đó có thể ra làm bất cứ việc gì, từ bí thư, chủ tịch, đến giám đốc nhà máy dệt, giám đốc công ty điện tử êm ro. Không cần sản xuất hàng hóa nhiều, chỉ cần suốt ngày phê bình tự phê bình, đấu tranh giai cấp. Thế là cả một nền kinh tế miền Nam không lồ chỉ vài năm sau thành kiệt quệ. Đói đầu gối phải bò. Anh em công nhân đề xuất chủ trương “tự hạch toán”, “tự chủ tài chính”, “kế hoạch ba”, “xuất khẩu để lấy ngoại tệ mua vật tư nguyên liệu”… TBT đảng hét: ”Bọn bây phá chủ nghĩa xã hội à!”. không phá thì chết đối cả nút. Thế là cuộc “phá” CNXH lần thư tư diễn ra không thể đảo ngược.

5. CNXH LÀ KHÔNG ĐƯỢC CÓ NHÀ 2 TẦNG TRỞ LÊN

Qua 4 lần “phá CNXH”, đời sống của nhân dân khá lên đôi chút. Có người buôn bán có tiền làm nhà lầu vài ba tầng. Thế mà một lãnh đạo đảng hét lên: ”Giàu như rứa là trái với bản chất chủ nghĩa xã hội”. Thế khoảng tháng 3 năm 1983, chỉ thị Z30 một chỉ thị miệng ra đời, nhằm tịch thu nhà, tài sản của những gia đình có nhà hai tầng trở lên tại các thành phố. Chỉ thị mật, không rõ của Ban Bí thư hay của Chính phủ ra lệnh, không có người ký, không có văn bản, không dựa trên bất kỳ một điều khoản pháp luật hiện hành, chỉ truyền miệng qua hệ thông Công an. Thế mà ở Hà Nội đã tịch thu 105 nhà, không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản bất minh. Có một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang, bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt. May mà có một số người đã phá cái lệnh CNXH đó. Nguyễn Văn An bí thư Hà Nam Ninh đã đốt danh sách (khoảng 100 quyết định) do công an tỉnh lập để tiến hành tịch thu, đã được đóng dấu ngay trước đêm định thực hiện trong danh sách 200 gia đình xếp theo ABC . Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh cũng không tuân lệnh “bảo vệ CNXH” ấy.

Đấy, CNXH là rứa đó, nhân dân ta đã bao nhiêu năm điêu đứng, lầm than vì nó, đã 5 lần vùng lên “phá CNXH”, cố thoát ra khỏi cái ách đó, mà không thể thoát được. CNXH lại biến thành cái đuôi đằng sau cái khái niệm: Kinh tế thị trường định hướng XHCN, pháp chế XHCN v.v... với kinh tế nhà nước là chủ đạo. Thế là tha hồ cho bọn tham lam hốt tiền ngân sách. Các tập đoán nhà nước đã thất thoát hơn triệu tỷ đồng, bọn bán biệt tự Hà Nội trốn thuế 1.400 tỷ đồng, những Vinashine, Vinaline… mọc lên như nấm. Bây giờ thì CNXH đã lộ nguyên hình là một hình thái xã hội tham nhũng, ăn cắp. Ăn đất, ăn biển, ăn rừng, ăn dự án, ăn chức, ăn quyền… ăn cả học vị và học hàm giáo sư, tiến sĩ. ĂN CẮP CẢ XƯƠNG MÁU ĐỒNG ĐỘI ĐỂ CÓ DANH HIỆU ANH HÙNG. Đau đớn thay! Nhưng nhân dân Việt Nam vốn thông minh và dũng cảm, nhất định sẽ tìm cách để vứt bỏ chiếc vòng kim cô CNXN vô lý đang thít chặt quanh đầu mình …

Nguồn: danluan.org



04/12/2013 9:58 AM


linhtran
Re :   Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân

 From: Tuyen Nguyen <tuyen_516@yahoo.com>

Subject: Re: Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh
Date: Tuesday, April 9, 2013, 10:35 PM

Kính gởi Quý Ông,

Tôi là Thiếu úy Nguyễn Hồng Tuyền xin đính chánh một việc sau đây.

1-Khoá 53E1, Th/T Nguyễn Huy Ánh KHÔNG CÓ HỌC Ở Trường  SALON DE PROVENCE,Pháp ( Xin sửa lại cho đúng, để khỏi buồn hương linh ngưòi quá cố.)

Cả khoá 53E học bay T6 Marrakech 1953-1954 (Maroc) Marcel Dassaut 312 ở Avord

( Pháp) 1954-1955. về đến  VN 4/1955.

2-Thiếu úy Nguyễn Huy Ánh và tôi được chọn đi Mỹ học HLV Phi công đầu tiên vào tháng 9 năm 1955 ở Craig AFB và Bartow AB, mản khoá vào tháng 3 năm 1966 về đến  VN vào đầu tháng 4/1966. Sau mới ra TTHLKQ làm HLV trên MS 500.

.

Mến chào Quý Ông,

Người Lính Già Phù Cát.



04/11/2013 10:08 PM


linhtran
Chủ Đề :   Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân

Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân


1934-1972)
SQ 54/600.329
Sinh tháng 7-1934 Bến Tre

1953: Dân chính trúng tuyển vào Quân Chủng Không Quân
- Du học khóa Hoa tiêu tại trường Không Quân Marrakech, Maroc
- Trường Võ Bi Không Quân Salon de Provence, Pháp
- Huấn luyện Hoa tiêu vận tải căn cứ Không Quân Avord, Pháp

1955: Tốt Nghiệp Thủ Khoa căn cứ KQ Avord, Pháp với cấp bậc Thiếu Úy
- Huấn Luyện Viên phi cơ quan sát tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang .

1956: Du Học lớp Huấn luyện Hoa tiêu Trực thăng đầu tiên tại căn cứ Không Quân Randolph, San Antonio Texas Hoa Kỳ.
- Thụ huấn H-13 và H-19 trực thăng.

1959: Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 1 Trực thăng.

1962- Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 215

1963- Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 211

1965- Tư Lệnh Không Đoàn 74 Chiến thuật

1-11 Trung Tá nhiệm chức
- Tư Lệnh Không Đoàn 62 Chiến thuật.

1970: Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân Bình Thủy

1971: 1-11 vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức

1972: 29-2 thăng cấp Chuẩn Tướng Thực thụ

27-4 Tử nạn phi cơ trực thăng UH-1 hưởng dương 38 tuổi

- Truy thăng Thiếu Tướng an táng tại Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.

Trong hơn 19 năm phục vụ trong quân chủng Không Quân có trên 4,000 giờ bay Trực thăng, 4,000 giờ bay Khu trục cơ AD-6 và Phản lực cơ A-37, được ân thưởng 33 huy chương Quân Sự, Dân sự Việt nam và Ngoại quốc.


Phần Mộ Tướng Nguyễn Huy Ánh trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa


Viếng thăm Jan-2013




Chiến Hữu năm xưa vẫn ôn lại kỹ niệm của một thời binh lữa


Cháu cũa Tướng Nguyễn Huy Ánh


Hình thờ ở nhà cháu Trực và Bản Tin Sư Đòan 4 KQdo cháu Trực cung cấp



























04/11/2013 10:06 PM


linhtran
Chủ Đề :   Người đàn bà thép – Người giải phóng _ Yuliya Tymoshenko

Người đàn bà thép – Người giải phóng

Yuliya Tymoshenko
Phạm Nguyên Trường dịch

Nhà tù bao giờ cũng là nơi than khóc. Nhưng có thể đây lại là chỗ tốt nhất để nhận tin về cái chết của Margaret Thatcher vì nó làm tôi nhớ đến cái xã hội ngục tù trong thời tuổi trẻ của tôi mà Thatcher đã làm biết bao nhiêu việc nhằm giải phóng nó.

Đối với nhiều người trong chúng tôi, những lớn lên ở Liên Xô và các nước chư hầu của nó ở Đông Âu, Margaret Thatcher sẽ luôn luôn là người anh hùng. Bà không chỉ tán thánh sự nghiệp của tự do – đặc biệt là tự do kinh tế – ở Anh và phương Tây; mà bằng cách tuyên bố rằng Mikhail Gorbachev là người “chúng ta có thể cộng tác được” (trong khi hầu như tất cả các nhà lãnh đạo dân chủ đều hết sức nghi ngờ chính sách perestroika và glasnost của ông), bà đã trở thành chất xúc tác cực kì quan trọng trong việc mở cửa những xã hội đầy những trại tù của chúng tôi.

Thực vậy, đối với những người sống trong thế giới cộng sản cũ, nhưng lại đang tìm cách xây dựng chế độ tự do từ những mảnh vụn của chế độ toàn trị thì “Người đàn bà thép” đã trở thành thần tượng. Những phẩm chất của bà như lòng dũng cảm và trí kiên cường – “không chịu cúi đầu” – đối với chúng tôi, là minh chứng sống về phương thức lãnh đạo không chịu cúi đầu trong giây phút nguy khốn về chính trị. Chắc chắn là tôi đã tiếp thu được cảm hứng từ lòng trung thành của bà đối với những nguyên tắc và lòng quyết tâm không gì lay chuyển được của bà để chiến đấu và chiến đấu mãi, khi có một sự nghiệp chính nghĩa.

Một trong những niềm vui thực sự trong cuộc đời hoạt động chính trị của tôi là cơ hội được ăn trưa trong im lặng với bà Thatcher ở London cách đây mấy năm, và cám ơn bà vì bà đã thừa nhận cơ hội tự do của chúng tôi và đã nắm bắt ngay những sáng kiến ngoại giao nhằm giúp thực hiện điều đó. Trong suốt thời gian làm thủ tướng, tôi luôn nhớ câu bà từng nói: “Tôi không phải là chính trị gia thỏa hiệp, tôi là chính trị gia của niềm tin.” Ý thức khắt khe về trách nhiệm thật sự của một chính trị gia luôn luôn là nguồn động viên trong cuộc đấu tranh chính trị của tôi, vì nhiệm vụ của những người lãnh đạo không phải là giữ ghế mà là sử dụng quyền lực của mình nhằm cải thiện đời sống của người dân và mở rộng lĩnh vực tự do của họ.

Khi lần đầu tiên Thatcher thể hiện lòng tin của bà vào tiềm năng của những cuộc cải cách theo hướng dân chủ của Gorbachev, tôi mới có 24 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học và bắt đầu sự nghiệp của mình. Lúc đó chẳng có mấy hi vọng rằng cuộc đời tôi sẽ tốt hơn cuộc đời của mẹ tôi, thậm chí còn đáng thất vọng hơn, và càng ít hi vọng rằng tôi có thể cải thiện được cuộc đời của đứa con gái nhỏ của mình.

Việc bà Thatcher chào đón sự nghiệp tự do của chúng ta đã khuyến khích tôi rất nhiều. Nhà văn Nadezhda Mandelstam, đồng thời cũng là một người bất đồng nổi tiếng, đã từng nhìn thấy tương lai, trong đó chúng tôi chỉ có thế “hi vọng để đổi lấy hi vọng” mà thôi; nhưng bây giờ, đã có một nhà lãnh đạo nhìn thấy tương lai cho chúng tôi, trong đó không còn những sự dơ bẩn và thỏa hiệp về mặt đạo đức mà là tự do và cơ hội. Tôi vẫn tiếp tục lắc đầu ngạc nhiên vì bà có thể nắm bắt được niềm hi vọng đã bị bỏ rơi, khi mà hầu như không có ai – thậm chí ngay cả Gorbachev – có thể tưởng tượng được nó.

Nhưng dĩ nhiên là Thatcher hiểu được tự do vì nó nằm trong mỗi đường gân, thớ thịt của bà. Chắc chắn là bà không chịu cúi đầu, nhưng bà còn là người không chịu chấp nhận mệnh lệnh và không chấp nhận cuộc sống tù túng mà dường như xã hội đã chuẩn bị cho bà. Ở nước Anh, nơi mà giai cấp xã hội thường quyết định số phận của người ta, con của người bán hàng tạp hóa ở miền Bắc đã tìm được đường tới Oxford và nổi lên như một ngôi sao khi còn là sinh viên hóa học.

Sau đó bà đã cả gan bước vào lĩnh vực chính trị, là lĩnh vực chỉ dành cho đán ông. Rồi khi trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh, bà đã khuyến khích tham vọng của biết bao nhiêu người phụ nữ trẻ trên khắp thế giới (trong đó có tôi). Tôi có thể ước mơ lớn vì đã có bà làm gương.

Và, là một người phụ nữ, Thatcher biết rằng bà đã mang đến một điều gì đó độc đáo trong giới lãnh đạo chóp bu. Như bà nói trong lễ nhậm chức năm 1979: “Bất cứ người phụ nữ nào nắm được công việc quản lí gia đình cũng sẽ tiến gần đến việc nắm được những vấn đề trong quản lí đất nước.” Sự hợp nhất theo lẽ thường tình của những giá trị mang tính gia đình và sự liêm khiết của nền tài chính quốc gia là tấm gương cho tất cả những lãnh tụ dân cử sau bà.

Dĩ nhiên là tôi hiểu rõ rằng nhiều người ở Anh cảm thấy những cuộc cải cách về kinh tế và xã hội do bà Thatcher phát động đã bỏ họ lại ở phía sau. Nhưng dù ở xa, tôi cũng hiểu rằng thực chất chủ nghĩa Thatcher là tạo ra những điều kiện, trong đó mọi người đều có thể làm việc chuyên cần và thực hiện được ước mơ của mình. Đấy chính là điều mà tôi – và tất cả những người dân chủ ở Ukraine – mong muốn cho đất nước của mình: xã hội của cơ hội, trong chế độ pháp quyền chứ không phải là dưới gót giày của nạn ô dù và bọn đầu sỏ, trong một châu Âu cởi mở.

Thành tích nói lên tất cả. Trước khi bà Thatcher làm thủ tướng, nước Anh được nhiều người coi là “người ốm của châu Âu” – nước này khốn khổ vì những quy định gò bó, tỉ lệ thất nghiệp cao, đình công diễn ra liên miên, và thâm hụt tài chính kinh niên. Mười một năm sau, khi bà rời chức vụ thủ tướng (người nắm chức thủ tướng lâu nhất kể từ khi Lord Liverpool thôi chức năm 1827), Anh là một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Âu và cả thế giới nữa. Kết quả là hiện nay tất cả chúng ta đều là những người theo chủ nghĩa Thatcher.

Y. T.

Yuliya Tymoshenko là người đã hai lần làm thủ tướng Ukraine, là tù nhân chính trị từ năm 2011.

Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com



04/11/2013 9:36 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nhóm « Cùng viết Hiến pháp » và điều 4.

Nhóm « Cùng viết Hiến pháp » và điều 4.

Truong Nhan Tuan

Nhóm « Cùng viết Hiến pháp » do GS Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Anh Tuấn và một số cộng tác viên khác đã có nhận định như sau :

« Chúng tôi cho rằng việc bổ sung Điều 4 vào Hiến pháp 1980 nói về sự lãnh đạo của Đảng là không thực sự cần thiết, nhưng đã là một thực tế lịch sử. Chúng tôi cũng cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, việc bỏ Điều 4 có thể dẫn đến những hậu quả chưa thể lượng định đối với tiến trình phát triển trong ổn định của đất nước. »

Ở đây tôi muốn góp ý với quí vị một số dữ kiện về « thực tế lịch sử » của đảng CSVN.

Thực chất của cuộc « cách mạng tháng tám » :

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng ». Chính phủ « lâm thời » được thành lập tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là « Đế Quốc Việt Nam » kết thúc và quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » ra đời.

Vấn đề là, ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Chủ quyền (toàn thể vùng Đông Dương) trước kia thuộc Pháp, nay lọt vào tay Nhật. Nhưng sau khi Nhật thua trận, theo qui định của phe chiến thắng (Đồng Minh), Nhật phải từ bỏ các vùng lãnh thổ đã chiếm đóng trái phép trước đó. Điều này có nghĩa là, các chế độ chính trị do Nhật đặt ra tại các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm trước đó là không có giá trị pháp lý (trường hợp Mãn Châu quốc với vua Phổ Nghi, hay VN với Bảo Đại v.v...). Các vùng lãnh thổ này sẽ do Đồng Minh quản lý và quyết định số phận (ngoại trừ các vùng lãnh thổ đã được giải quyết số phận trước).

VNDCCH được thành lập qua « cuộc Cách mạng tháng Tám ». Phe cộng sản VN do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo cho rằng đã đánh Nhật, « dành chính quyền » từ tay Nhật.

Điều này không đúng.

Nhật đầu hàng đã giao toàn bộ thẩm quyền của đế quốc tại các thuộc địa cho đại diện của Đồng Minh. Ông Hồ không thể « cướp chính quyền » từ tay Nhật vì Nhật đã trao quyền này cho đại diện của Đồng Minh rồi !

Điều tệ hại, ngày 6 tháng 3 ông Hồ ký với Pháp một hiệp ước gọi là « hiệp ước sơ bộ ». Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập mà chỉ nói một nước « Việt Nam tự do » thuộc « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ». Tức ông Hồ chấp nhận « quốc gia » Việt Nam, thực ra là « tiểu bang » hay « xứ », do chính phủ ông lãnh đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ, mà quyền hành của ông còn dưới quyền của Thống sứ Pháp.

Sau khi bị chỉ trích « rước Pháp vào VN », ông Hồ cố gắng thay đổi thực tế này qua các hội nghị tại Đà Lạt và Fontainebleau, nhưng đều thất bại. Chính phủ của ông Hồ rút khỏi Hà Nội và bước vào cuộc kháng chiến, bắt đầu từ tháng 12 năm 1946. Ông Bảo Đại phê ông Hồ rằng : « Sau thất vọng ở Fontainebleau, (Việt Minh) chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào biển máu. »

Thực tế đã xảy ra : cả nước đã là biển máu.

Thực chất của 9 năm kháng chiến :

Các tài liệu đã được bạch hóa trong thời gian qua cho thấy dòng sinh mạng của đảng CSVN và nước VNDCCH gắn liền với đảng CSTQ.

Nếu quân Tàu Tưởng đã không tham nhũng thối nát khiến Hoa Kỳ chán nản bỏ rơi, thì Tàu Mao làm sao thắng được lục địa năm 1949 ? Và nếu không có chiến thắng của Mao Trạch Đông, lập ra nước CHNNTH, thì sẽ không bao giờ có VNDCCH cũng như chiến thắng Điện Biên Phủ 1954.

Lịch sử không ai đặt ra chữ nếu. Chữ nếu ở đây nhằm để mô tả sự gắn bó hữu cơ giữa hai đảng CSTQ và đảng CSVN.

Chiến thắng là chiến thắng của Mao Trạch Đông.

Thực chất công lao của đảng CSVN :

Chấp nhận rằng « cách mạng tháng tám », « chín năm kháng chiến » và cuộc chiến « chống Mỹ cứu nước » là « công lao » của đảng CSVN.

Dựa vào công lao này, các đảng viên CSVN quyết khẳng định quyền lãnh đạo đất nước bằng hiến pháp qua điều 4.

Logic của vấn đề, nếu vậy, phải lôi ông Hồ trong lăng, những xác Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ… dưới mộ sâu ra để đặt vào vị trí lãnh đạo VN.

Chỉ có những người này, thế hệ đi trước, mới có « công lao ».

Lớp đảng viên CSVN hiện nay không ai có công lao nào (với đất nước) cả.

Không có công lao thì lấy tư cách gì khẳng định quyền lực ?

Họ chỉ có sức mạnh nòng súng, nắm cả tài nguyên đất nước và sinh mạng 90 triệu người dân. Họ có thể tiếp tục kề súng vào đầu người dân ép buộc mọi người chấp nhận sự lãnh đạo của họ.

Vấn đề là, nhóm của GS Châu, GS Sơn…, bị họ kề súng vào đầu hay do hứa hẹn quyền lợi mà có kết luận như vậy ?

Nguon: http://nhantuantruong.blogspot.com



04/10/2013 3:54 PM


linhtran
Chủ Đề :   Hòa giải với ai, kẻ đã chết hay người đang chịu đựng?_Trần Trung Đạo

Hòa giải với ai, kẻ đã chết hay người đang chịu đựng?

Trần Trung Đạo


Sự kiện đảng CSVN cho phép trùng tu và ngay cả Thứ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn đã đến viếng thăm và thắp hương trước đài tưởng niệm anh linh các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa được nhiều người cho rằng đó là dấu hiệu của tinh thần hòa giải.

Giả thiết đó là chủ trương có thật, giới lãnh đạo đảng CSVN cần hòa giải với ai trước, những người đã chết trong cuộc chiến hay những người đã và đang chịu đựng lầm than dưới ách độc tài của Đảng ?

Những người đã chết, dù người lính VNCH đã hy sinh để bảo vệ miền Nam tự do hay người lính miền Bắc chết oan ức chỉ vì ăn nhầm chiếc bánh tẩm thuốc độc “thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc” của Đảng đều chưa cần hòa giải. Hòa giải thật sự và trước hết phải được thực thi với những người suốt 38 năm qua chịu đựng đưới ách độc tài toàn trị của đảng CSVN.

Hòa giải với đại bộ phận dân tộc đang chịu đựng không thể là một khẩu hiệu tuyên truyền mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng.

Hòa giải là con đường hai chiều, chiếc cầu nối nhau bằng nhiều nhịp, không ai có thể đứng bên này bờ và bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình.

Gần 38 năm, giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ không phải là Cộng Sản. Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu thống trị Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

Ngày nay, trên khắp ba miền đất nước, hàng ngàn đồng bào, nhất là tuổi trẻ vẫn đang đốt cháy tuổi xuân trong bốn bức tường đen chỉ vì họ đã gióng lên khát vọng dân chủ, tự do, nhân bản thật sự của dân tộc Việt Nam. Và tại hải ngoại, đại đa số trong số 300 ngàn trí thức Việt Nam, như nhiều nguồn ước lượng, vẫn không hợp tác với đảng và nhà nước CSVN. Họ chẳng phải thuộc thành phần “bám theo chân đế quốc” hay “chống Cộng tới cùng” gì đâu mà là những người thật sự quan tâm cho tương lai dân tộc.

Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên. Một khi cơ chế độc tài sụp đổ, cây dân chủ tươi xanh, dân tộc đoàn viên, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến mà không cần ai ban phát.

Ngày đó, những người đã chết, dù chết ở đâu, An Lộc, Bình Long, Trị Thiên, Trường Sơn hay thân xác đang nằm bơ vơ trên hải đảo xa xôi Koh Kra, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, Whitehead, Panat Nikhom, Galang cũng sẽ được quy hồi, cải táng, khói hương.Ngày đó, cả dân tộc có thể sẽ ôm nhau khóc một lần cho cạn hết nỗi đau để rồi sau đó cùng nhau nỗ lực cho một tương lai tự do, nhân bản, dân chủ và thịnh vượng cho đời đời con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

Nguồn: Facebook Trần Trung Đạo



04/10/2013 3:38 PM


linhtran
Chủ Đề :   Một thoáng Pleiku _ Phạm Tín An Ninh

Một thoáng Pleiku

Phạm Tín An Ninh


Pleiku xưa. Ảnh www.thaiduong530.com

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ, trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?) như ai.Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới. Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh. Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng;

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
….

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó
….

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời. Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê … những tiểu đoàn trưởng nổi danh, những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku. Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi- chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuôc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng 3. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó″:

Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền

Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”

Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó, nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku.

© Phạm Tín An Ninh

Nguồn: danchimviet.info



04/09/2013 6:22 PM


linhtran
Chủ Đề :   Nhìn lại sự nghiệp của ‘Bà Đầm Thép’

Cựu Thủ Tướng Margaret Thatcher từ trần

LONDON (AP) - Cựu Thủ Tướng Anh, bà Margaret Thatcher vừa qua đời sáng Thứ Hai 8 tháng 4 sau một cơn tai biến mạch máu não, hưởng thọ 87 tuổi,


Bà Margaret Thatcher chụp tấm hình kỷ niệm với Thủ Tướng David Cameron, trong chuyến trở lại thăm “căn nhà số 10 Downing Street”, biệt danh của phủ thủ tướng Anh ở London, ngày 8 tháng 6 năm 2010. (Hình AP/Alastair Grant, File)

Bà là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh Quốc, cầm quyền 11 năm từ 1979 tới 1990 khi đảng Bảo Thủ của bà giành chiến thắng trong các kỳ tổng tuyển cử năm 1979, 1983 và 1987.

Bà đắc cử dân biểu năm 1959 ở Finchley, bắc London, và rời khỏi Hạ viện 33 năm sau, năm 1992. Bà giữ chức Bộ Trưởng Giáo dục nhưng đã thành công trong việc thách thức cựu thủ tướng Anh Edward Heath để trở thành lãnh đạo của đảng Bảo Thủ năm 1975.

Thủ Tướng Margaret Thatcher, được mênh danh là “Bà Đầm Thép”, đã đem đến nhiều chuyển đổi lớn ở một giai đoạn mà nước Anh đang gặp nhiều khó khăn và suy yếu. Hai thành tích mà người ta nhớ về vị nữ thủ tướng này là công cuộc tư hữu hóa nhiều ngành công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và chiến tranh với Argentine năm 1982 ở quần đảo Falklands/ Malvinas.

Thủ Tướng David Cameron sẽ cắt ngắn chuyến công du ở Pháp và Tây Ban Nha để trở về Anh. Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger nói với BBC rằng bà Thatcher là một "nhà lãnh đạo" và một "người bạn tốt của Mỹ".

Bà Margaret Thatcher tên khai sinh là Margaret Roberts, mang tước vị quý tộc là nữ Nam Tước Roberts. Bà không được hưởng danh dự quốc táng nhưng tang lễ sẽ được cử hành long trọng theo quân cách, như tang lễ của công nương Diana và bà mẹ của nữ hoàng Elizabeth II. (HC)




Nhìn lại sự nghiệp của ‘Bà Đầm Thép’

>

ANH QUỐC - Tổng thống Barack Obama là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên trên thế giới lên tiếng bày tỏ sự đặc biệt ngưỡng mộ của Hoa Kỳ đối với cựu Thủ Tướng Anh, bà Margaret Thatcher, vừa từ trần sáng Thứ Hai 8 tháng 4, 2013 ở tuổi 87.

Ông cho rằng “Với sự quá vãng của nữ Nam Tước Margaret Thatcher, thế giới mất đi một trong những nhà dẫn đầu cuộc đấu tranh vì tự do và nước Mỹ mất một người bạn quý đã giúp chấm dứt cuộc Chiến Tranh Lạnh.”


Chiếc xe chở linh cữu bà Margaret Thatcher, có một đoàn mô tô cảnh sát hộ tống, đi ra cổng khách sạn Ritz London, nơi bà đã cư ngụ từ cuối năm ngoái khi tình trạng sức khỏe thoái hóa sau khi rời khỏi bênh viện. (Hình:Warrick Page/Getty Images)

Bà Thatcher đã sát cánh với Tổng thống Ronald Reagan trong việc xây dựng chiến lược phòng thủ chống Liên Xô và những chính sách này đưa đến sự tan rã của khối Cộng Sản, chấm dứt cuộc Chiến Tranh Lạnh. Người ta tin tưởng rằng sự hợp tác chặt chẽ của bà với Tổng thống Hoa Kỳ và Đức Giáo hoàng John Paul II là yếu tố quan trọng đưa đến kết quả này.

Cựu Tổng thống Bush cũng hoạt động gắn bó với bà Thatcher trong giai đoạn Liên Xô sụp đổ và trong chiến tranh Vùng Vịnh, ca ngợi bà như một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thế kỷ 20 về chủ trương bênh vực tự do và kinh tế thị trường.

Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, tướng Colin Powell nhớ lại khi gặp Tổng thống Bush, bà Thatcher khẳng định rằng phải có phản ứng dứt khoát đối với cuộc xâm lăng của Iraq vào Kuwait. Trong cuộc phỏng vấn của CBS, ông nhận định bà Thatcher “là Bà Đầm Thép” như Tổng thống Nga Mikhail Gorbachev đã gọi, “nhưng chúng ta có cái nhìn nhẹ nhàng hơn về bà.”

Dân Anh có những đánh giá khác biệt nhau về bà, vì chủ yếu là trong cương vị nhà cải cách kinh tế, chứ không đồng nhất như người Mỹ phán xét bà trên bình diện một nhân vật lãnh đạo thế giới. Nhưng rất nhiều bình luận gia tin rằng người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, cương quyết với chủ trương đường lối của mình, qua 11 năm làm nữ thủ tướng đầu tiên, là nhà lãnh đạo lớn nhất của nước Anh trong thời bình ở thế kỷ 20.

Bà Thatcher thuộc vào số ít những phụ nữ có tham vọng chính trị, nên không tránh khỏi chuyện người ta nói tới bà có thể, một ngày nào đó, trở thành Thủ Tướng. Nhưng cho đến đầu thập niên 1970, bà vẫn bác bỏ suy nghĩ đó; trong một cuộc phỏng vấn truyền hình, bà nói rằng không tin nước Anh sẽ có một nữ Thủ tướng vào thời đại của bà.

Bà Thatcher, tên gốc là Margaret Hilda Roberts, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1925, ở Grantham, Lincolnshire, học ngành khoa học tự nhiên tại Somerville College, Oxford. Sau khi tốt nghiệp, bà chuyển đến Colchester làm việc cho một công ty nhựa và tham gia chi bộ đảng Bảo Thủ ở địa phương.

Năm 1951, bà kết hôn với một doanh nhân đã ly dị vợ, ông Denis Thatcher, bắt đầu chuẩn bị thi lấy chứng chỉ luật khoa để trở thành luật sư thực thụ năm 1953, năm bà sinh đôi một trai, một gái, Mark và Carol. Khi ông Denis - người mà bà mô tả là "điểm tựa" - qua đời năm 2003 ở tuổi 88, bà đã nói về người chồng: "Làm thủ tướng là một nghề cô đơn. Ở một nghĩa nào đó, nó nên như thế - bạn không thể lãnh đạo từ một đám đông. Nhưng với Denis ở bên tôi chưa bao giờ cô đơn cả. Thật là một con người, một người chồng, một người bạn..."

Bà bước vào con đường chính trị từ 1949, làm ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở Kent, nhưng đã không thành công trong cuộc tổng tuyển cử năm 1950 và 1951. Tuy nhiên, bà đã gây thiệt hại đáng kể cho đảng Lao Động và là ứng cử viên trẻ tuổi nhất, thu hút rất nhiều chú ý của giới truyền thông.

Tới 1959 bà mới đắc cử Dân Biểu ở Finchley phía bắc London, cử tri nơi đây vẫn thường thiên về phía đảng Bảo Thủ. Trong vòng hai năm, bà được bổ nhiệm vào chức vụ thứ trưởng, và dù đảng Bảo Thủ thất bại năm 1964, bà tiếp tục ở vị trí nội các trong chính phủ của đảng đối lập.

Khi Sir Alec Douglas-Home từ chức khỏi vị trí lãnh đạo đảng Bảo Thủ, bà Thatcher đã bỏ phiếu cho ông Edward Heath trong cuộc bầu lãnh đạo đảng năm 1965 và được cử giữ nhiệm vụ phát ngôn viên về vấn đề nhà đất. Bà mạnh mẽ vận động cho người thuê nhà của hội đồng thành phố được quyền mua nhà và thường xuyên chỉ trích chính sách thuế cao của đảng Lao động.

Khi ông Ted Heath lên làm Thủ tướng năm 1970, bà được chỉ định làm Bộ Trưởng Giáo Dục với chỉ thị phải thực hiện cắt giảm chi tiêu trong bộ của mình. Một trong những nhu cầu để làm được điều đó là biện pháp chấm dứt sữa miễn phí ở trường giành cho trẻ em từ 7 đến 11 tuổi. Việc này dẫn đến các cuộc tấn công gay gắt từ phía đảng Lao Động với một chiến dịch báo chí gọi bà là "Margaret Thatcher, người cướp sữa". Thật ra bản thân bà đã tranh luận trong nội các chống lại việc bỏ sữa miễn phí.

Chính phủ Heath chẳng tồn tại được bao lâu. Bị đánh tơi tả do cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973, buộc phải áp dụng giải pháp một tuần ba ngày làm việc. và phải đối mặt với các cuộc đình công của thợ mỏ, chính quyền Heath cuối cùng sụp đổ vào tháng Hai năm 1974.

Năm 1975, tức giận trước những gì bà coi là ông Heath thay đổi ngược hẳn lại chính sách kinh tế của đảng Bảo Thủ, bà Thatcher tranh cử chống lại ông vào chức lãnh đạo đảng Bảo thủ. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, bà đã đánh bại ông Heath ngày ở vòng bầu cử đầu tiên, buộc ông phải từ chức, và bà đã loại ông Willie Whitelaw ở vòng hai để trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một chính đảng ở Anh.

Với cương vị của một người nội trợ vừa là một chính trị gia, hiểu rõ lạm phát có nghĩa như thế nào đối với các gia đình bình thường, bà thách thức quyền lực của nghiệp đoàn mà những cuộc đình công của họ gần như diễn ra liên tục vào thời điểm được gọi là "mùa đông của sự bất mãn" năm 1979.

Quan điểm của bà được nhiều cử tri ưa thích và đảng Bảo thủ thắng cuộc tổng tuyển cử.năm 1979. Trở thành Thủ Tướng, bà quyết tâm sửa đổi chính sách tài chính của quốc gia, bằng cách giảm bớt vai trò của nhà nước và thúc đẩy thị trường tự do. Các ngành công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được tư hữu hóa nhiều nhất trong thời chính phủ Thatcher. Giảm lạm phát là trọng tâm của chính phủ và một ngân sách cấp tiến về thuế cùng với cắt giảm chi tiêu được áp dụng.

Chính sách tiền tệ mới làm cho London trở thành một trong những trung tâm tài chính sinh động và thành công nhất trên thế giới. Nhưng sản xuất theo kiểu cũ, mà các nhà phê bình phàn nàn là tạo ra một vùng đất hoang công nghiệp, ngày càng đi xuống dốc trước nhu cầu xây dựng một nước Anh mới có tính cạnh tranh hơn, và số người thất nghiệp tăng lên tới trên 3 triệu.

Tình trạng bất ổn đáng kể xảy ra trong nội bộ đảng viên đảng Bảo thủ, đồng thời với các cuộc bạo loạn ở một số khu vực trong thành phố, là những áp lực đòi hỏi bà Thatcher phải sửa đổi các chính sách của mình. Nhưng bà không chịu khuất phục, trong đại hội đảng năm 1980 bà tuyên bố một câu trở thành nổi tiếng: "Với những người đang nín thở chờ đợi câu cửa miệng trên các phương tiện truyền thông - U-Turn – tôi chỉ có một điều để nói: Qu‎ý vị quay ngược lại nếu muốn ... nhưng người phụ nữ này thì không".

Tới cuối năm 1981, mức tín nhiệm đối với bà Thatcher giảm xuống còn 25%, mức thấp nhất được ghi nhận đối với bất kỳ Thủ Tướng Anh nào cho đến thời điểm đó, nhưng kinh tế đã có thấy chuyển biến khả quan hơn. Đầu năm 1982 nền kinh tế bắt đầu hồi phục, và cùng với nó là vị thế của Thủ Tướng trong cử tri.

Bà Margaret Thatcher được dân Anh ưa chuộng nhiều nhất vào tháng 4 năm 1982 do phản ứng quyết liệt của bà đối với việc Argentina đem quân chiếm Malvinas ở Nam Đại Tây Dương, đã thuộc Anh từ đầu thế kỷ 19 với tên gọi là quần đảo Falkland. Thủ Tướng Thatcher ngay lập tức gửi một lực lượng đặc nhiệm hải/không quân tới và giành lại quần đảo Falkland ngày 14 tháng 6 khi lực lượng Argentina ở đây đầu hàng.

Chiến thắng ở Falklands, cùng với tình trạng lộn xộn trong đảng Lao Động, khi đó do ông Michael Foot lãnh đạo, đã đưa đảng Bảo Thủ thắng lớn trong cuộc bầu cử năm 1983.

Mùa xuân năm sau, nghiệp đoàn thợ mỏ đình công toàn quốc và bà Thatcher không lùi bước như thời chính phủ Heath năm 1973. Chính phủ đã dự trữ sẵn than tại các nhà máy điện để chuẩn bị trước các cuộc đình công. Đụng độ dữ dội xảy ra giữa những người đình công và cảnh sát, nhưng các cuộc đình công cuối cùng tan rã. Nhiều công đoàn thợ mỏ đã không bao giờ hồi phục lại được từ cuộc tranh chấp đó và đẩy nhanh sự suy thoái của ngành công nghiệp than.

Ở Bắc Ireland, bà Thatcher đàn áp các cuộc đình công tuyệt thực của IRA (Đội quân Cộng hòa Ireland), và lối tiếp cận cứng rắn của bà làm ngay cả những người theo chủ nghĩa dân tộc trung dung cũng phải tức giận, đẩy nhiều người Công giáo trẻ tuổi tới con đường bạo lực. Mặc dù bà cố gắng xoa dịu căng thẳng giáo phái, nhưng nỗ lực tìm giải pháp hòa bình không thành do sự chống đối mạnh mẽ của phe thân Anh và đưa đến một giai đoạn bạo động kéo dài tại đây.

Tại một hội nghị thượng đỉnh châu Âu đầy chia rẽ, bà Thatcher thẳng thắn chống lại các đối tác châu Âu của mình, và từ chối chấp nhận bất cứ gia tăng quyền lực nào của châu Âu.

Bà Thatcher dễ dàng thắng trong một cuộc thách thức vai trò lãnh đạo đảng năm 1989, nhưng nó là một dấu hiệu về sự bất mãn ngày càng tăng giữa các nghị sĩ đảng Bảo Thủ đối với chính sách của bà. Tới 1991 ông John Major được bầu làm người kế nhiệm và bà Margaret Thatcher rời khỏi chính trường năm 1992 khi đảng Bảo thủ, ngược với mọi dự đoán, đã một lần nữa thắng bầu cử và nắm chính quyền.

Thời gian kế tiếp, bà viết hai cuốn hồi ký trong khi vẫn hoạt động chính trị, vận động chống lại Hiệp ước Maastricht và lên án chính sách của Serbia thanh trừng sắc tộc ở Bosnia. Bà công khai ủng hộ ông William Hague vào vị trí lãnh đạo đảng Bảo thủ năm 1997.

Bà buộc phải giảm bớt các hoạt động của mình từ 2001 khi sức khỏe của bà bắt đầu xấu đi. Sau một loạt các cơn đột quỵ nhỏ, các bác sĩ khuyên bà không nên xuất hiện và phát biểu trước công chúng. Bà ngày càng yếu và năm 2008. cô con gái Carol tiết lộ bà bị mất trí nhớ.

Năm 1995 bà trở thành qúy tộc với danh hiệu Nam tước Thatcher của Kesteven ở Quận Lincolnshire. Tuy vậy bà sẽ không được danh dự quốc táng dù rằng tang lễ của bà sẽ được cử hành long trọng với quân cách giống như tang lễ của Công Nương Diana và bà Thái Hậu mẹ Nữ Hoàng Elizabeth II.

Xưa nay ít có chính trị gia nào ở một chế độ dân chủ tiên tiến có khả năng thể hiện vai trò độc đoán quyết định như bà Margaret Thatcher trong nhiệm kỳ của mình. Cũng ít có chính trị gia đã thu hút cùng lúc những tình cảm ủng hộ và chống đối mạnh mẽ như bà. Một tờ báo Nga mệnh danh Margaret Thatcher là “Bà Đầm Thép” và tính cách của bà nổi tiếng toàn thế giới với biệt danh này.

Những người phản đối bà cho rằng bà là chính trị gia đã đặt nguyên tắc kinh tế thị trường trên hết, và sẵn sàng để cho những người khác phải trả giá bằng tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và bất ổn xã hội.

Những người ủng hộ ca ngợi bà đã đẩy lùi vai trò của một nhà nước quá tải, làm giảm ảnh hưởng của giới lãnh đạo công đoàn và khôi phục lại vị thế của nước Anh trên thế giới.

Nhưng trên hết, bà Margaret Thatcher là một chính trị gia có lý tưởng và niềm tin vững chắc, sẵn sàng bảo vệ niềm tin đó khi thực hiện chính sách của mình. Bà cho rằng không bao giờ nên nhân nhượng hay thỏa hiệp với đa số bất đồng quan điểm và đó là sức mạnh đồng thời cũng là nhược điểm lớn nhất của bà. (HC)

Nguồn: nguoi-viet.com



04/09/2013 2:47 PM


linhtran
Chủ Đề :   ATBD BAC CALI HOP TRIEN KHAI CONG TAC CHO DAI HOI 2013

"Cuong Nguyen" ncuongdieu@yahoo.com

ATBD BAC CALI HOP TRIEN KHAI CONG TAC CHO DAI HOI 2013



04/09/2013 10:31 AM

Subscribe to aitubinhdien

Powered by us.groups.yahoo.com

Đăng Ký | Tạo | Giới thiệu | Sơ đồ trang web | Những đặc tính | Diễn đàn | Hiển thị Tắt | Fa | Hỗ trợ
Copyright © 2000-2013 Aimoo Free Forum All rights reserved.
Energy effecient LED lights, bulus, lighting fixtures and flashlights from Lighting EVER. Better lighting, Better sense.
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY
LUFFY LUFFY LUFFY