Please see the new message regarding Diamond Payments in the Help Forum here.
Close it  
Tên Tài Khoảng  Mật Khẩu

SmileSmileSmile
Make a donation click here. Your support will help us remove ads and upload local images, etc.
Title: TUỐI THƠ CỦA TÔI VÀ XÓM THƯỢNG THÀNH (Phan 3) - Lê Phiếu
ÁI TỬ BÌNH ĐIỀN   A.T.B.Đ. SÁNG TÁC
Hop cho: 
Lượt xem:212     
New Topic New Poll
<<Báo cáo vi phạmBáo cáo vi phạm>>
Trang 1 / 1    
Tác giảThảo luận
linhtran
 Tác giả    



Điểm số: 2398
Từ: 2398

(Ngày đăng:11/07/2016 11:40 AM)
Share to: Facebook Twitter MSN linkedin google yahoo

TUỐI THƠ CỦA TÔI VÀ XÓM THƯỢNG THÀNH (phần ba)

Kỷ niệm buồn...

Những đứa bé lần lược chào đời ở cái xóm Thượng Thành này không hiểu sao lại sanh đúng vào năm Canh Dần 1950 cùng lứa với tôi là nhiều nhất, hầu như nhà nào cũng rộn tiếng bi bô của con trẻ tuổi cọp sau vài năm tới lập nghiệp nơi đây, chỉ tính riêng hàng xóm cận vách nhà tôi, đã có tới bốn cô ba cậu, bọn tôi kề vai chơi thân nhau từ hồi còn chập chững, tuồng luồng không áo, không quần, cả bầy nghịch ngợm tắm dưới mưa, vổ lưng vổ bụng tự nhiên vô tư... đã vậy còn đưa tay chỉ chỏ lạ lẩm tại sao không giống nhau!?. Chúng tôi quen thuộc tới mức lớn tồng ngồng rồi, đã học tới lớp đệ ngủ, đệ tứ vẫn "mi tau" và không một chút cảm giác ngượng nghịu nam nữ, cứ như là anh em ruột trong một nhà, bởi vậy sau này lớn lên cả xóm trên, xóm dưới có ai nên duyên vợ chồng được đâu. Tôi nhớ hôm đám cưới cuả anh Mễ con bác Khai thổi kèn cho đoàn ca cổ trong đại nội, cưới chị Liễu bên kia cống Lương Y, cả xóm tụm lại xem lễ rước dâu. Đứng trong nhà nhìn ra, con bé canh dần Minh-Hương quá thích chí ! đã lấy khăn "voan" cuả mẹ nó, tự choàng lên người mình rồi bắt chước, còn rủ rê tôi chơi trò đám cưới, tôi ưng ngay! Thế là hai đứa quàng vai nhau vừa nhảy vừa hát "hai vợ chồng, chông vợ chài, bẻ lá khoai, gài lá mít, chạy vô buồng, bổ cái bạch" (té cái bịch) hai đứa giả vờ té chồng lên nhau, lại ngồi dậy cứ thế hát hoài, mặc sức thiên hạ tha hồ cười vang!..

Vợ chồng anh Mễ và chị Liễu chỉ sanh được độc nhất thằng Thông vì lúc nó lên 2 thì anh tử trận xác mất tích, anh chọn binh chủng nhảy dù thiện chiến và trở thành người đầu tiên trong xóm đã hy sinh cho Tổ quốc. Chị Liễu chiều nào cũng ôm con ngồi khóc trên bậc thềm nhà... Lớp thanh niên tuổi đôi mươi vào những năm 1962 và về sau lần lược tòng quân tham gia cuộc chiến, bỏ xóm Thượng Thành ra đi gần hết nhưng hơn phân nửa trở về trong những chiếc quan tài nhà binh lạnh giá! Những tiếng kêu khóc tiếc thương, ai oán tận trời xanh!.

Những mất mát đau thương mà xóm Thượng Thành hứng chịu, dù đã qua rồi hơn nửa thế kỷ và vào lúc đó tôi chỉ là thằng bé mười mấy tuổi nhưng mọi việc xảy ra đã hằn sâu trong tâm tưởng, không bao giờ tôi quên được ...

Ngày báo hung tin anh Hai chết. Thật ra tên của anh là Nguyễn v Lai nhưng do tôn trọng người lớn tuổi cùng xóm, nên bác Thỏ ba của anh đổi trại ra thành Hai vì trùng tên của ba tôi Lê Lai, tương tự như ông nội của Minh-Hương cũng tên Lai nên cả nhà nó lại gọi ba tôi là "bác Lơi" riết thành quen, chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho thấy cái nề nếp tôn ti của người miền Nam ngày xưa như thế nào...Bởi vậy từ bé tới lúc trưởng thành tôi chưa một lần thấy người lớn trong xóm nặng lời to tiếng với nhau bao giờ...

Chiều hôm đó, Trời mưa lâm râm, tháng chạp sắp tết, cả nhà tôi đang ăn cơm chiều thì nghe tiếng khóc thảm thiết của bác Thỏ gái từ dưới con hẻm đi lên, dáng đi của bác thất thểu mất hồn sau bờ hàng rào chè tàu, tiếng bác rên xiết kéo dài "con ơi...là...con....ơi!.." mẹ tôi ra đứng nơi cây khế để hỏi cớ sự, bác đau khổ gập cả người xuống, tay cầm tờ thư báo tử "thằng Hai chết rồi chị ơi! Thằng Hai tui chết rồi...!"

Trời ơi! có thiệt không !? Ba tôi kêu lên! Cả nhà bỏ đủa, nhiều người xúm lại khuyên lơn, vợ anh Hai nằm lăn ra giữa sân...

Mới cách đây chừng hơn năm, Anh Hai còn đi chào từng nhà trong xóm để ra đơn vị tận trong Nam. Nghe kể viên đạn oan khiên của giặc thù VC đã bắn trúng hàm miệng của anh, đơn vị bị bao vây không tải thương được , máu ra nhiều nên anh đã mất đi mạng sống, chắc anh đau đớn lắm!. cả xóm sửng sờ...

Anh Hai lấy vợ sớm có hai đứa trai, thằng Tý và Thằng Tạo hơn nhau chỉ một tuổi mà anh Hai vẫn thường thay phiên "đồn đôn" (ngồi trên cổ) từng đứa dạo khắp xóm ba cha con cười vang... Anh quen chị Yến lúc hai người làm việc chung trong đại nội, chị hát hay múa giỏi lại đẹp gái, còn anh mặt mày sáng sủa rất vui tính, đàn cổ nhạc món chi cũng tuyệt, bọn nhóc chúng tôi thích nhất là ngồi quanh cái thùng gánh nước, anh Hai kéo đàn cò ngồi khuất bên trong nhà nối qua sợi dây, vậy mà tụi nhóc nghe được tiếng nhạc phát ra từ trong thùng mới lạ chứ! lủ trẻ thích quá vỗ tay, anh Hai cười bày ra chiếc răng vàng thật hiền và dễ thương... vậy mà hôm nay anh đã không còn trên cỏi đời này nữa rồi!, sẽ không bao giờ còn thấy bóng dáng anh trong mái nhà tranh ngồi kéo đàn cò...cả xóm ai cũng thương tiếc, nhớ anh và buồn ảo nảo! Thế rồi phải đợi hơn cả năm sau mới đào lấy cốt của anh đem về cải táng, hai bác Thỏ bốc đếm từng đốt xương, nhận ra chiếc răng vàng bác gái rủ người xuống khóc ngất, cả xóm xúm lại kéo ra, sợ nước mắt nhỏ xuống làm mù... Hôm đưa anh lên núi Ngự Bình, nguyên cả ban nhạc trong đại nội ra đứng dàn chào, hợp tấu khúc nhạc biệt ly để tiễn đưa lần cuối, chị Yến nằm lăn ra cản lối không cho đi... mẹ tôi rớm nước mắt lẩm bẩm "nhìn ban nhạc kéo đàn thồi kèn, thiếu mất con mình trong đó, cha mẹ chịu răng thấu !!!..bày ra chi cho thêm đau ruột !"

Bốn năm sau VC tấn công tết Mậu Thân, chúng nó leo bờ thành từ hướng cầu Thanh Long đột nhập vô xóm, bị lính VNCH từ đồn Mang Cá tiến đánh. bọn VC xé lẻ ra thành từng nhóm để lẫn trốn, do căm thù uất hận đồn nén, em ruột của anh Hai là thằng "Lô Em" (tuồi Canh Dần với tôi) và "Lô Anh" cùng chú Hạp (anh rể của anh Hai) là lính tác chiến về hưu, ba anh em tự móc lon trung sĩ đi tầm địch, diệt được một số tên bằng lựu đạn (dự trử để ném cá) bọn VC ôm khẩu ckc ngồi gát trên bờ thành. ba anh em đã ép sát lưng men theo bờ tường thẩy lựu đạn lên, sau đó chú Hạp tình nguyện tiền thám cho một đơn vị lính VNCH và bị bắn thủng bụng trong một trận đánh ở chợ Tây Lộc do một tên VC bị thương nặng giả chết rồi bóp cò khi chú choàng qua người hắn để lấy cây súng, cũng do vết thương này mà qua năm 75 chú Hạp cũng từ trần do đói khổ và thiếu thuốc men. Thật đáng khâm phục thay những vị anh hùng ẩn danh thời chiến!

Chỉ trong vòng mấy năm mà bốn gia đình cuối con hẻm ở bên này nằm theo thứ tự quanh nhà tôi, tất cả đều có con em tử trận, riêng nhà bác thợ Du có tới hai đứa đã hy sinh, người anh cả lớn hơn anh tôi hai tuổi, sinh khoảng năm 1940, người em là thằng Bửu tuổi canh dần. Anh tôi nhờ đang theo học cán sự y tế và ra trường làm chi trưởng phục vụ vùng quê nên được tạm hoản dịch, nếu không thì cũng khó mà biết được chuyện gì xảy ra... Thằng Bửu đi lính địa phương quân, chết do lựu đạn VC gài lúc tôi còn ở trong quân trường KQ Tent City và sẽ nói sau.. Anh Tánh là anh cả mà hai bác thợ Du ở nhà thường hay kêu là "thằng Nậy" tánh tình hiền lành chất phát, ăn nói thủng thẳng anh yêu thầm chị Quýt hằng ngày gánh đậu hủ bán dạo khắp xóm, anh gặp mà không dám mở lời kể cả lúc đã vô lính, chỉ tăn măn hỏi thăm qua tôi. Hình ảnh hai cha con nhà bác thợ Du mỗi sáng sớm dắt xe đạp đi làm với bao nhiêu đồ nghề thợ nề lỉnh kỉnh và chiều tối cùng nhau trở về lúc mặt Trời đã tắt...hai cái bóng đen lầm lủi vội vả rẻ con hẻm để vô nhà đã trở nên rất quen thuộc. Quanh năm suốt tháng cả xóm chưa ai thấy một ngày nào hai cha con đi riêng lẻ cho tới khi anh Tánh vô lính. Vợ chồng bác thợ Du có cả thảy bốn con trai, ba con gái chỉ duy nhất anh Tình kế anh Tánh là được đi học đến nơi đến chốn, người con trai này sống nhủn nhặn âm thầm không thấy ra khỏi cửa bao giờ...ngoại trừ thời gian có lớp, anh như pho tượng suốt ngày ngồi trên bờ thành với cuốn sách và cây đàn "măn-đô-lin". Nói chung nhà bác thợ Du từ cung cách sống đến cảnh trí nhìn vào trông giống ngôi chùa nhỏ hơn là nhà ở, chín con người ai cũng hiền lành chất phát, vậy mà Trời Phật ở đâu không ngó xuống ...

Anh Tánh về phép lần cuối cùng, đúng vào lúc anh Hai con bác Thỏ tử trận cách đó chỉ mấy tuần, tôi vẫn còn nhớ khuôn mặt anh đượm nét buồn, đôi mắt chùng xuống lộ nét nao núng! nhưng anh vẫn cố nói chậm rãi chắc nịch như để trấn an ba mạ và đàn em "Hai nó quá xui chứ đánh trận cũng khó mà chết lắm!" hôm đó anh mặc cái áo sơ mi chiến nhất có sọc ngang hình hạt gạo, áo bỏ ngoài đi dép, anh nói sẽ đi tỏ tình với chị Quýt rồi đợt phẻp tới xin về làm đám cưới. Không biết là đùa hay thật nhưng anh Tánh đã không bao giờ còn trở về!... anh đã hy sinh trong trận đánh đầu tiên sau khi trở lại đơn vị sư đoàn 23 bộ binh. Tội nghiệp! không biết trước đó anh đã tỏ tình rồi với chị Quýt xóm dưới hay là chưa? mà sao nghe tiếng rao mời khách ăn đậu hủ nóng của chị vẫn lanh lãnh... bác Du gái đau đớn đến ngã ngữa và bất tĩnh luôn, tôi và thằng Bửu hai đứa phải chạy kêu thầy Yên dưới chùa lên chích lễ, bạn tôi vừa chạy vừa quẹt nước mắt rên rỉ ui chao ơi! ui chao ơi!.. Trời ơi!..." Vài năm sau thằng Bửu đăng lính Địa Phương quân, Mậu thân xong tôi cũng nhập ngủ tình nguyện vào KQ, đang trong thời gian học Anh Văn ở Tent City thì tôi nhận được thư Ngọc-Như ( vợ tôi hiện tại) báo tin Bửu bạn tôi đã chết, nàng cho biết do say men chiến thắng, bạn tôi đột nhập căn cứ của địch bỏ chạy để thu chiến lợi phẩm để lại và bị gài lựu đạn nổ tan xác. Thư hồi âm cho em hôm đó, tôi đã không viết chữ nào mà dành riêng nguyên trang giấy vẽ hình thằng bạn nhỏ xóm Thượng Thành của tôi lúc hai đứa từng cùng nhau đi câu cá dưới cống Lương Y, thả diều trên bờ thành, bẻ trộm lá chanh cho chị tôi gội đầu v.v. Hồi âm cho người yêu mà như vậy là với ý gì chính tôi cũng không biết nữa!? Nhưng mãi tới hôm nay dù đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn còn đau lòng nhớ thương thằng bạn củ cùng xóm như thuở nào...

Kế đến là anh Lê v Tích con cúa hai bác thợ Phong nhà đối diện ngay mặt tiền nhà tôi. là người thứ năm cúa xóm đã vĩnh viễn ra đi trong cuộc chiến... ba của anh, mẹ tôi dặn phải gọi là bác ôn mà đúng vậy trông ôn già lụ khụ,chuyên mặc áo ngắn kiểu ba tàu rất giỏi chử nho, sáng nào cũng thấy ngồi trước cửa mài mực xạ, ôn còn kiêm luôn thợ mộc nhưng chỉ chuyên chạm trổ, hình như do bị điếc nặng nên ít thấy khi nào ôn trò chuyện với ai, chỉ luôn cười ruồi một mình, mệ Thợ Phong thì bán khoai sắn chuyên nghiệp đã mấy chục năm nay, mệ già rồi mà tiếng rao hàng thật khỏe và rất dễ thương cứ khoảng trưa là nghe tiếng rao dẻo kẹo của mệ vang lên khắp xóm "the thía khoai sắn mới nấu, the thía". Ai kêu mua đừng hòng thò tay lựa, mệ khẻ liền, đưa tiền mệ tự chọn và cứ việc nhận không được so kè mà đặc biệt là mệ già thế đó nhưng liếc mắt qua là bốc đều rín như máy không chê vào đâu được. Ôn mệ có ba người con anh Tương và anh Tích, cô gái út là chị Mót cũng lớn tuổi ở với ôn mệ không màng chi tới chuyện chồng con, ôn mệ hiền như bụt mà hai thằng con thì nghịch chịu không thấu!, anh Tương nghe đâu bỏ xóm ra đi từ bé đến khi trở về thì râu tóc đã điểm sương, lạ một điều là khi anh đi cũng như về cách nhau hằng mấy chục năm, ôn mệ cũng tỉnh bơ không thoáng chút cảm xúc, bác ôn vẫn tiếp tục đục đẻo, mệ bán khoai sắn về gặp lại đứa con mệ chỉ buộc miệng "chà.. đi dữ ha" điều này khiến mẹ tôi rất lấy làm lạ, nói hoài... "Thiệt khá khen cho hai bác Thợ, người chi vô tâm được rứa!?" Nói về anh Tích gần ba chục tuổi đầu mà còn nghịch ngợm, đến nổi con gái hơ hớ cả xóm trên xóm dưới đều chạy làng, bởi vậy tới lúc chết đã gần 40 chẳng thấy vợ con đâu cả. trò tinh nghịch quái đản của anh đã làm mấy chị hét lên, run bần bậc, có người kinh hải đến bất tỉnh, còn anh thì đứng cười nhe cả hai hàm răng, cái thú của anh là câu cá, bắn chim( dù đã lớn) chọc ghẹo mọi người nhưng mê nhất là bắt chuột và rắn học trò nhốt chung trong thùng, thỉnh thoảng bắt ra tùng con tẫm dầu hôi đốt sống một nửa thân rồi thả cho Chạy ngoài đường rồi đứng nhìn, có con chạy ngược vô nhà, mấy lần suýt gây hỏa hoạn, cả xóm ai cũng khiếp vía! nhưng anh "ghiền" không bỏ được cái thú vui kinh dị này, màng biểu diễn độc đáo nhất là gói rắn hoặc chuột trong khăn rồi lại gần bên mấy chị và mở ra hoặc bất ngờ trao tay những cô nàng chưa biết về anh, thử hỏi có con gái nào còn dám làm thân!? Anh Tích còn có tài ném "bun" xoáy đứng ngắt nổi tiếng cả làng Vĩnh An ai cũng biết, anh hay lượm lặt ở đâu những trò chơi thú vị rất hợp "gu" bọn con nít trong đó có cả tôi, nên thích anh lắm! đi theo sau lưng anh cả đoàn. Tôi quên kể một chuyện có thật mà cả xóm và chính mắt tôi đã trông thấy là rắn trả thù, anh đốt chết rất nhiều rắn và chỉ độc nhất một loại là rắn học trò có cái cổ màu đỏ hồng, và rồi một ngày kia, không biết từ đâu bò ra mà sáng dậy rắn học trò xuất hiện, vắt vẻo đầy mấy dây thép phơi áo quần, dưới gầm giường sau bếp bác thợ ôn phải thắp nhang vái lạy khắp nơi...sau lần đó anh mới "tởn" và không còn dám đụng tới... Thế rồi bẵng đi một thời gian khá lâu, anh Tích cũng bỏ nhà bỏ xóm ra đi từ lúc nào không ai hay, cho đến một ngày bà con trong xóm thấy người ta chở về cái quan tài phủ Quốc kỳ thì mới biết anh đi lính và đã tử trận, chuyện này tôi chỉ nghe kể lại vì lúc bấy giờ tôi cũng đã là lính chiến đang phục vụ ở phi trường Đà Nẵng...

Chỉ tính riêng trong phạm vi vòng chử U nối liền hai con hẻm của xóm tôi và đường Nguyễn Thành, xúm xít chừng hai mươi căn nhà mà có trên chục thanh niên trai tráng đã bỏ mình trong cuộc chiến! Đại Úy Lê Quang Thương con bác Sừng, Thượng Sĩ Khoan con bác Sanh, Đại Úy Thoại con bác Thưởng nhà đối diện nằm san sát nhau ở hai phía con đường chính Nguyễn Thành, đi xa thêm một đoạn ra hướng cửa Đông Ba sau chùa Vĩnh Nhơn có thêm Đại Úy Hoàng Xuân Long con ông Táo bán quán nhậu nổi tiếng. Cả bốn gia đình xóm dưới này cũng đã lần lược mất đi những đứa con trẻ tuổi tài ba. Tôi nhớ lúc tiễn đưa quan tài phủ cờ Tổ Quốc của từng anh đều có ban quân nhạc đứng dàn chào rất uy nghi. Cả xóm ra đứng đầy đường, khoảng thời gian này tôi còn đang học lớp đệ thất và đệ lục, thấy cảnh hùng tráng thích quá nên đã buộc miệng nói với mẹ tôi "mai mốt con cũng đi lính để được như rứa!" Tôi đâu biết rằng chính vì câu nói vô tư ngô nghê này mà mẹ tôi lại để bụng âu lo như một "điềm gở" đến nổi chị Gái con bác Nghị phải luôn trấn an mẹ tôi "tới lược thằng Phiếu mà đi lính thì chắc thiên hạ chết hết cả rồi! bác lo làm chi!" chị vừa nói vừa cúi xuống lấy kim băng gài lên túi áo tôi miếng vải màu vàng hình thang để tang cho thầy Thích Quãng Đức. Phật Giáo xuống đường năm 1963. Lúc bấy giờ Tôi chỉ là thằng bé 13 tuổi chẳng biểt chi, đúng là còn quá nhỏ như lời chị Gái nói. Nhưng đâu ai lường trước được chuyện tương lai... thật oái ăm ! Thời gian đúng là như bóng câu... rồi cũng tới lược tôi rời bỏ mái ấm gia đình tham gia cuộc chiến, với 6 năm phục vụ trong quân ngủ, cọng thêm 7 năm đọa đày trong ngục tù Cọng Sản vị chi là 13 năm. Lúc tôi trở về đã ở ngưỡng cửa tuổi băm hai. Cưới được vợ xinh chưa đầy một năm thì lên núi, tiêu tốn mất bảy năm đúng vào cái thời khắc đẹp nhất của một đời người để sống chung với loài "khỉ vượn đười ươi". Thôi cố quên đi chuyện củ để khỏi ức lòng!..

Bây giờ xin nói về con hẻm đầu tiên, nằm ngay phần cuối đi lên là nhà của bác Cháu Xự mà cả xóm thường quen gọi là bác Cháu may, gia đình hai bác thuộc thành phần khá giả đông con và rất sinh động, con trai đầu là anh Xàng, nhưng hai bác Xự luôn gọi là "Khu Anh" rồi Khu em, Ba, Tư cho đến Khu Năm thì ngưng, chuyển qua con gái là Thu Lan, Thu Liên tôi chỉ biết được ngang đó khi từ giã xóm để đi lính... bác Cháu trai ăn "trai trường" suốt đời và thờ Phật tại gia, thỉnh thoảng mới đi chùa nhưng bác luôn ăn mặc áo quần kiểu sư sải màu trắng hoặc nâu, cả xóm chỉ mình bác là có cái xe mô bi lét máy nổ, chiều đến chở hàng áo quần may sẵn ra chợ bỏ mối. áo cà sa và con ngựa nhà Trời (xe kiểu xưa) nhìn không hợp cho mấy! Mái hiên của nhà bác Cháu khá rộng được lát xi măng có mái tôn chìa ra thêm một đoạn che luôn đoạn cuối của con hẻm đắp xi măng và được xử dụng như một cơ xưởng nhỏ, ban đêm thắp đèn "măn sông" sáng choang, nhất là vào dịp tết, 5 cái dàn máy may đạp xành xạch suốt canh khuya, con nít nghe đến vui tai, người lớn thì hình như không muốn nhưng chẳng thấy ai phàn nàn kêu ca chi.

Mấy người thợ của bác toàn là những thanh niên bất bình thường, không ốm yếu co ro, thì điếc lác hoặc đầu óc chậm chạp, không biết hai bác lượm lặt góp nhặt ở đâu ra... trong số này có anh "Ba điếc" và anh "Con ròm" là ấn tượng nhất mà tôi muốn đề cập đến do bởi cá tính đặc biệt, nhất là cả hai anh cũng đã vị Quốc vong thân trong chiến tranh.

Anh Ba hiền khô nhưng "cộc" không ai bằng, mỗi lần anh tức giận là hai mắt long lên, con ngươi như chạy vòng quanh, miệng lảm nhảm thứ ngôn ngử riêng của anh mà chẵng bao giờ chửi rủa hay làm hại ai cả, nụ cười của anh bình thường cũng tươi tắn mặt mày cũng dễ coi nhưng sao luôn phảng phất nét tàng tàng" có phải là do vừa điếc lác vừa ngọng nghịu mà trở nên chăng !?

Anh tên là Ba nhưng phải kêu anh là "Pa" và bắt chước nói ngọng nghịu cho giống anh, anh mới hiểu, còn những khi anh không nghe không hiểu thì nhe răng ra cười rồi ngúc ngúc cái đầu, mắt sáng lên thân thiện thấy mà tội nghiệp! Suốt cuộc đời hình như anh chỉ biết ngồi bên bàn máy may cho đến khi chết, chẵng hay biểt chút chi niềm vui ngoài đời, anh hay ngồi bắt chéo chân để đạp thành ra hai bắp chuối không cân xứng, bên to bên nhỏ thấy rõ, đã vậy anh thường kéo quần lên khoe với mọi người như là một kỳ tích. Ghét ai (hay chọc) thì anh không thèm ngó mặt, nhưng thích ai là tìm cách lân la. Cả xóm hầu hết ai cũng đều thương anh "Pa" luôn nhường nhịn, hỏi chuyện và bảo vệ anh như một đứa con nít, nhưng tin chắc anh khó mà nhận ra để rồi lấy làm buồn lòng, mặc cảm...

Chiến tranh ngày càng khốc liệt, quân cảnh bố ráp bắt lính khắp mọi nơi, thỉnh thoảng toán tuần tra hổn hợp để xe dưới đường cái chia thành hai toán đi lên theo hai con hẻm rồi bất ngờ đột kích lùng sục thanh niên trốn quân dịch, mỗi lần như thế bà con trong xóm dù đang bận bịu mua bán cách mấy cũng tất tả báo tin đem anh Ba đi trốn. Lúc bị chẹt thì cả xóm đứng ra bảo vệ phân bua, sẵn sàng làm chứng bảo lãnh cho anh Ba v.v.. Có một lần cứ tưởng anh Ba khờ khạo thì ra anh đã lừa được cả toán lính khiến cả xóm vỡ lẻ và có một trận cười nghiêng ngã... toán lính xông vào "cơ xưởng may". Lần này anh Ba đã chậm chân. vị toán trưởng nằng nặc đòi bắt đi. Như mọi khi cả xóm đứng ra giải bày nhưng thấy vóc dáng và mặt mày anh Ba không đến nổi tệ, vị này không tin anh Ba điếc lác nên muốn thử, ông ta nói nếu tôi bắn phát súng hắn chạy thì tôi bắt, cả xóm hồi hộp chờ đợi mong sao nước lên nước xuống cho anh Ba điếc không nghe. Một tiếng "đùng" phát ra, anh Ba vẫn đứng yên, mọi người thở phào nhẹ nhỏm, toán lính bỏ đi hết... tới lúc đó anh Ba mới đắc chí vừa cười vừa nhảy tưng tưng "ta nghe hết, ta nghe hết...rồi ta đứng yên! ha, ha,ha.." (anh nói theo giọng ngọng nghịu). Cả xóm chưng hửng!..

Đến mùa Hè đỏ lửa năm 72, Tôi không biết nguyên do nào mà cả anh Ba và anh Con đều vô lính, cùng ra chung đơn vị và cả hai đều bị chết sau một thời gian rất ngắn, người tử trận, người bị sốt rét rừng... Trước đó không lâu tôi quá giang trực thăng ra Huế, bất ngờ gặp anh Ba đầu con hẻm đang đứng hút thuốc. anh cũng mặc đồ lính trông lạ hẳn, anh nhìn tôi cười nhẹ mặt buồn xo... anh vỗ vỗ vai áo bay pilot của tôi nói giọng ngọng nghịu "pửa ni le ác hè !" (bữa nay oai quá nhỉ). Tôi đâu ngờ rằng đó là lần cuối cùng được gặp anh Ba!... Lúc bấy giờ tôi đứng cao hơn anh Ba hơn nửa cái đầu, nhưng trong tim tôi vẫn chỉ là thằng bé ham thích thả diều năm nào và được anh "Pa" thương như em trai vẫn hay lén lút cho tôi chỉ may. tôi còn thấy rõ đôi mắt lờ đờ lồ lộ của anh, vừa lấm lét nhìn ông chủ cháu Xự vừa rút chỉ lia lịa thả xuống chổ tôi đang ngồi dưới đất sung sướng gom thành đống (muốn thả diều thật cao nhưng đâu có tiền để mua chỉ) đã hơn 50 năm mà cứ ngở mới mới hôm nào, vẫn còn nhớ rõ vóc dáng, tiếng nói nụ cười của anh Ba như anh đang lẩn quẩn đâu đây!

Chuyện chị Hương tàn tàn và con Bê điên Tết Mậu Thân.

Tưởng đâu chỉ có những hy sinh mất mát của lớp thanh niên ngoài chiến trường, bom đạn vô tình còn cướp thêm ba sanh mạng vô tội ngay trong xóm Thượng Thành vào dịp Tết Mậu Thân khi mà VC đã lợi dụng tiếng pháo vui Xuân để át tiếng súng nổ của bón chúng để tổng tấn công toàn miền Nam, cũng may cho xóm tôi lúc đó có cái "pháo lộ" (hầm chứa súng đạn xưa của Pháp) cả xóm đã vô lánh đạn nếu không hậu quả thật khó lường!..Sau nhiều đợt pháo kích, VC đã rút lui ngã phía sau bờ thành khi lính mình từ đồn Mang Cá dàn quân tiến đánh. mệ Thợ Phong có lẽ từng kinh qua chiến tranh bom đạn nên biết phòng xa, sợ bắn nhầm bèn hét to không thua chi loa phóng "Hoan hô đồng bào! hoan hô đồng bào!" mệ quá run nên đã quên mất bốn chữ VNCH, mệ vừa hét vừa thúc giục mọi người ai có con nít nhéo cho thiệt đau để khóc cho to để lính mình nghe (sợ tưởng VC) cảnh chiến tranh có khi cười ra nước mắt! xin kể thêm đúng vào lủc đó còn có một cô bé Ngọc Như 14 tuổi đẹp như thiên thần từ trên trời bay xuống (vợ tôi hiện tại) đã tới trước cửa hẩm trú ẩn an toàn "pháo lộ" mà không chịu vào lánh nạn, nhất quyết đứng ngoài, cho dù súng đang nổ đì đùng... chỉ vì em "dị" (mắc cở") khi biết có cái thằng Philip (là tôi) ở trong đó, đi chạy giặc tránh đạn mà cũng "dị"!, như vậy hỏi xem có ngu không!? Biết đâu vô cớ tôi lại bị mắc tội nữa chứ!? Lúc bấy giờ không biết Nội và ba mẹ nàng có hiểu ra cớ sự!?

Hình ảnh ba mẹ con, Mệ Bí chị Hương tàng, con Bê điên không biết từ đâu tới và tới từ lúc nào tôi cũng không nhớ. chỉ thấy ba con người này thật đáng thương! Sống chen chúc bên nhau trong túp lều tranh nhỏ xíu nằm trên rìa bờ thành ở giữa con hẻm đi lên nhà bác cháu Xự, dù khổ cực lại tật nguyền nhưng không phiền lụy chi đến người khác, không ai biết ở bên trong thế nào, cách sinh hoạt của họ ra sao ? chật chội như thể ba mẹ con cũng dành ra khoảng trống đặt cái bàn thờ nhỏ và thắp nhang mỗi ngày, cái lò bếp củ kỷ bằng đất nung thì để ở bên ngoài chỉ đỏ lửa vào lúc chập tối và hình như một lần độc nhất trong ngày. Tôi thường thấy hai mẹ con chụm đầu nấu ăn vào ban đêm, lúc nào cũng muộn, con Bê điên nằm vùi đợi cơm ở bên trong.

Mệ Bí già nua ốm tong teo và điếc câm!, mệ làm nghề bán hương trầm dạo đi suốt ngày tới mời từng nhà, mệ luôn đánh môi son trông rất đồng bóng nhưng cũng ngồ ngộ, mệ hoàn toàn không nghe được và tưởng ai cũng như mình nên thường ra dấu hơn là nói bằng lời, chị Hương thực ra là do chị tự đặt tên chứ tên giấy tờ là Giỏ, không biết làm nghề chi mà môi luôn tô son đỏ choét cũng đi suốt ngày, cả người chị mới nhìn tưởng là "hàm hồ" khó ai bắt nạt, nhưng thực ra là "tàng tàng" không bình thường, còn con Bê điên là do nói quen miệng và con nít cũng bắt chước gọi theo chứ con Bê đã bộn tuổi ít lắm cũng 30 và là chị của chị Giỏ nhưng vì điên khùng dễ khiến bực tức nên hay bị chị Giỏ đánh đập đay nghiến. Hình ảnh con Bê điên với bộ đồ đen bạc màu muôn đời không bao giờ khác, quần ống cao ống thấp, chiếc áo dài bị cùn nên ngắn lên tới đầu gối, cái đầu trọc lóc trắng bạch tròn vo, cười suốt ngày.. gặp bất cứ ai cũng nhìn chằm chằm lồ lộ hai hàm răng đều đặn, cả cái mặt và hai con mắt cũng như cười theo long lanh vô nghĩa, ngôn ngử của Bê điên chỉ độc nhất hai từ lập đi lập lại và chỉ hét to khi nào lên cơn giận dữ "cha mi! cha mi!.." có người nói con Bê mà không điên cũng đẹp lắm! Nhưng tôi chẵng tìm thấy chút nào và đối với con nít là nổi ám ảnh sợ hải kinh hoàng mỗi lần chạm mặt, nhất là khi con Bê điên vừa chạy vừa nhảy cho dù đang lúc vui cười, hoặc vừa bị con em Giỏ đánh đập mà kêu lên the thé "cha mi! cha mi!.. bọn con nít hồn vía lên mây mặc dù lãnh địa hoạt động của Bê điên chỉ là một khúc bờ tường thành chạy tới rồi chạy lui ở trên cao quá đầu người lớn, bọn con nít chúng tôi đi bên dưới.,.cái bóng áo dài đen còn ghê rợn hơn vào những lúc hoàng hôn! năm tôi 17 tuổi có một lần đi ngang qua nhà người yêu Ngọc Như (chỉ mới có trong trí tưởng tượng chứ chưa một lần đối mặt) bất chợt tôi thấy dáng Bê điên ngồi trầm ngâm như pho tượng bên khung cửa sổ bằng tre xiêu vẹo nhìn ra hướng cầu Thanh Long xa vời vợi... và tôi cứ thắc mắc hoài Không biết Bê điên lúc đó đang suy nghĩ những gì trong đầu!? Thế giới của người mất trí biết đâu lại ít phức tạp hơn người bình thường!.. hay có những giây phút họ lại tĩnh táo đến phát sợ!? cũng khó mà đoán được....

Đúng vào giữa khuya đêm giao thừa tết Mậu Thân, VC leo bờ thành tràn vô xóm Thượng Thành của tôi, sáng ra đã thấy thấp thoáng từng tốp những con người mặc quần đùi mang súng dài đi chân đất hoặc dép cao su quai đen trông hết sức man rợ rừng rú, tiếng đối đáp giọng Bắc cũng lạ hoắc, khô khốc lạnh giá và chết chóc... Việt Cọng là như thế đó ư!? tôi nhìn mà rợn cả tóc gáy! Họ có phải là người Việt!? tôi thật sự hoang mang...

Qua đêm sau đạn pháo kích rớt lung tung không biết bên nào bắn, đúng vào lúc chị Giỏ chuyển dạ sinh em bé. Mệ Bí chạy đi kiếm bác Chiu sống trong "pháo lộ" (hầm chứa vũ khí lúc xưa của Tây) nhờ xuống đở đẻ cho Chị Hương mệ vừa ra khỏi túp lều tranh thì một quả "mọt chê" rơi vào lều, cả hai chị em và luôn hải nhi chưa kịp chào đời đã chết tan xác, chỉ mệ Bí nhờ vậy mà còn sống sót. sáng ra người trong xóm đào khẩn cấp hai hố sát vách lều để chôn hai cái xác bọc trong hai tấm chiếu rách... Từ đó Cả xóm thay phiên mang thức ăn nuôi mệ Bí. Người mẹ điếc lác đau khổ suốt ngày ngồi bên mộ hai đứa con, gặp bất cứ ai dù quen hay lạ cũng vuốt ngực chỉ chỏ vào hai nấm đất mới rồi nghiêng đầu ra dấu, nước mắt tươm ra. Người trong xóm lâu dần biết ý cũng ra dấu bày tỏ niềm thương cảm để đáp lại mệ Bí mới thôi không vuốt ngực.

Bờ tường thành không còn nữa bóng dáng con Bê điên với giọng cười the thé.. và mỗi lần lên xuống con hẻm cũng không còn nghe tiếng đay nghiến của chị Giỏ, thấy như thiếu vắng điều chi!? Cảm giác như hai chị em đang đi đâu xa, chứ không phải đã chết mất rồi vì bom đạn và thân xác đang rửa nát dưới lòng đất lạnh...

( còn tiếp)
Puyallup 31-10-2016
Phiếu Như

usertype:1
<<Báo cáo vi phạmBáo cáo vi phạm>>
Trang 1 / 1    
New Topic New Poll

Subscribe to aitubinhdien

Powered by us.groups.yahoo.com

Đăng Ký | Tạo | Giới thiệu | Sơ đồ trang web | Những đặc tính | Diễn đàn | Hiển thị Tắt | Fa | Hỗ trợ
Copyright © 2000-2017 Aimoo Free Forum All rights reserved.

Get cheapest China Wholesale,  China Wholesale Supplier,  to be a retailer is easy now.
LUFFY LUFFY LUFFY
LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY LUFFY