KHÓC BẠN
(VỀ CÁI CHẾT CỦA MỘT BÁC SĨ)
B.S. Hoàng Thế Định
Dưới đây là một trích đoạn trong hồi ký của chúng tôi.
***
“Huế những ngày tháng 3 năm 1975.
Căn cứ Giạ Lê, Tổng Hành Dinh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Tại đơn vị Tiểu Đoàn 1 Quân Y, Bác Sĩ Bùi Hữu Út, Tiểu Đoàn Trưởng đi họp ở Bộ Tham Mưu Sư Đoàn, tôi tạm thay thế để điều động đơn vị dù chưa chính thức bổ nhiệm Tiểu Đoàn Phó.
Điện thoại reo, hạ sĩ quan quân cảnh ở cổng Bộ Tư Lệnh báo là có một bác sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến muốn vào gặp tôi, chưa rõ là ai, nhưng nghe bác sĩ quân y, tôi vui mừng mời vào. Trong khi chờ đợi, tôi thầm đoán có lẽ đây là vị bác sĩ TQLC đã từng dẫn toán quân y của anh cùng làm việc với toán tôi trong mấy cuộc hành quân phối hợp Việt-Mỹ vào những năm 71, 72 tại 18th Surgery Hospital của quân đội Hoa Kỳ tại Ái Tử, Quãng Trị.
Đến khi gặp người bác sĩ trẻ và lạ, tôi hơi bỡ ngỡ, bác sĩ Giang tự giới thiệu khi bắt tay tôi. Trong khi mời uống nước, tôi tò mò hỏi Giang:
-Làm sao Giang lại biết tôi?
-Tôi nghe một số đàn anh bên Nhảy Dù nói anh là tay đàn guitare classique điêu luyện và chơi cả Flamenco nữa, tôi tìm đến xin anh cho thưởng thức.
-Thế anh Giang thích bài nào? Tuy trong tình trạng chiến tranh nầy tôi vẫn sẵn sang làm vui long bạn mộ điệu.
-Tôi nghe Bác Sĩ Nguyễn Mạnh Tiêu nói anh chơi bản Romance hay lắm, tôi có nghe Đỗ Đình Phương độc tấu guitare bài này qua radio, nhưng không có đoạn introduction.
-Đúng vậy, tôi may mắn có đoạn introduction do Vincent Gomez soạn, bản in từ Paris và ông tag hi đề bản nhạc là Jeux Interdits cùng với chữ “Romance d’Amour” trong dấu ngoặc đơn.
-Thế chắc anh học trường nhạc từ lâu?
-Không, thật ra tôi chẳng học trường nhạc nào cả, từ 11 tuổi, tôi tự học guitare theo sách Caruly và Léo Laurant, gia đình tôi đều chơi nhạc.
Giang ngồi chaa8m chú, vừa nghe vừa theo dõi từng ngón tay của tôi, dứt bản đàn, Giang còn yêu cầu tôi chơi lại đoạn introduction.
-Có dịp tôi sẽ chép lại cho anh đoạn nhạc này, Giang cũng chơi guitare?
-Không, tôi không biết đàn, nhưng biết thưởng thức nhạc.
Trong câu chuyện khi hỏi về gia đình Giang cho biết anh còn mẹ và hai em ở Sài Gòn, Giang còn thổ lộ với tôi rằng anh rất mong được phép về thăm nhà dù mìh mới bổ dụng ra đơn vị không bao lâu.
Lần đầu gặp gở tôi đã cảm thấy mến Giang lạ lung, dù trong bộ quân phục rằn ri, Giang vẫn toát ra một tính chất nho nhã, hiền lành và lãng mạn. Giang và tôi lại cùng một cảnh ngộ chỉ khác vợ con tôi đang lánh nạn tại Đà Nẵng xa vùng chiến tuyến đang ác liệt, người yêu của Giang thì ở mãi tận Sài Gòn.
-Và bây giờ mình chơi bản này tặng cậu nhé, bản Letter à Elize (Fur Eliz) của Beethoven, chắc Giang biết bản này?
-Vâng, vâng, xin anh! Tôi có nghe bản này nhưng với đàn piano, và;;; tôi có kỷ niệm đẹp qua bài này.
Rõ ràng Giang đang lắng hồn trong ý nhạc của Beethoven viết khi chờ đợi Elize, cô học trò dương cầm mà ông yêu. Ngưng đàn, tôi khẽ hát: “Au dernier rayon du soleil dort…”
Nhạc đã dừng nhưng Giang vẫn ngồi im thả hồn về đâu, mắt anh chớp chớp, tôi nghĩ là anh đang nhớ nhà, nhớ người yêu…
Thật ra, lúc đó, bên ngoài xa vẫn vang vọng tiếng hoả tiễn 122 ly của Việt Cộng đang nã vào vòng đai căn cứ Sư Đoàn 1.
Một lúc sau, Giang ngẫng lên nhìn tôi, thoáng ngượng ngùng, anh kéo chiếc ghế đang ngồi, phá tan không khí im lặng, chính tôi cũng tự trách mình đã để âm nhạc du lòng ngườii bạn trẻ mến yêu và buồn nhớ, dù chỉ là nhất thời.
Tôi lại cầm đàn và rãi hợp âm Mi trưởng thật dòn khởi đầu cho bản nhạc Flamenco « Los Sitios Di Zarogoza » với thể điệu hành khúc hùng tráng, bản nhạc dài 8 phút, chấm dứt thật mạnh và dứt khoát.
Giang đứng dậy, hai tay ghì chặt bàn tay tôi :
-Anh Định ! Phải thành thật mà nói là… tuyệt ! Cám ơn anh rất nhiều ! Mong lần khác đến thăm anh và sẽ được nghe anh đàn nữa, bây giờ tôi phải đi, phải ra tận Quãng Trị.
-Vâng, khi khác vậy. Giang đi nhé ! À, có dịp gặp Bác Sĩ Trương Thanh Trừng, cũng TQLC, nhờ cậu nói là mình gởi lời thăm, Trừng là bạn học rất thân với mình.
***
Chiến cuộc ngày càng xấu đi cho QLVNCH, thật sự, có nhiều đơn vị uất ức vì chưa được đối đầu với địch mà lệnh trên buộc rút lui để rồi hai tỉnh phía Bắc đèo Hải Vân gần như bị Việt Cộng khống chế trong thời gian ngắn vào cuối tháng 3-1975. Đêm 25 tháng 3, đêm cuối cùng của Huế Tự Do diễn ra ở bãi biển Thuận An, một đêm hỗn loạn cả quân và dân, và không ngờ đêm đó Giang cũng ở Thuận An mà tôi không được gặp.
***
… Thời gian hơn một năm lao động khổ sai ở Trại 1 Ái Tử Quãng Trị, tôi không biết có Giang ở trại 3.
Tổng Trại Ái Tử có tiểu 5 trại, trại 1 giam các sĩ quan từ cấp đại uý đến trung tá, trại 2 cấp sĩ quan chuẫn uý và thiếu uý, trại 3 và trại 4 giam các sĩ quan cấp trung uý và trại 5 cho hạ sĩ quan-binh sĩ, địa phương quân, nghĩa quân cùng anh em chiêu hồi (quân VC về với VNCH), mỗi tiểu trại cách nhau chừng vài cây số đường đồi núi.
Mỗi tiểu trại chứa trên 500 tù binh, ban giám thị mỗi trại giam gồm chừng 30-50 bộ đội, tất cả đều trực thuộc Đoàn 76. Họ cũng tổ chức ban y tế cho tù binh thuộc từng tiểu trại, nhưng chỉ chọn các y tá sơ cấp hoặc nhân viên hành chánh quân y ; còn tất cả bác sĩ và sĩ quan trợ y đều bị đưa đi lao động khổ sai. Đặc biệt ở trại 3 có vài dược sĩ và bác sĩ được đưa vào toán Đông Y đi rừng hái lá, đào rễ, bới củ về làm thuốc ; trong số đó có Dược Sĩ Lê Bá Thuận và Bác Sĩ Vũ Đức Giang.
Ban quản lý tổng trại giam Ái Tử với cái tên Đoàn 76 và trạm xá là hai cơ sở cạnh tiểu trại 3, chỉ có cách nhau 10 phút đi bộ qua mấy ngọn đồi, vùng này gồm toàn những đồi tranh và lau lách. Trạm xá Đoàn 76 gồm một số nhà tranh vách đất trên sườn đồi thoai thoải, phần lớn trạm xá dành cho bệnh nhân bộ đội với khoảng 20 bộ đội đãm trách và kiêm việc kiểm soát trạm xá nhỏ dành cho tù binh. Họ có một bác sĩ, vài y tá và một nửa căn nhà làm kho thuốc. Trạm xá của tù binh chỉ gồm vỏn vẹn một nhà nhỏ với 4 giường cho bệnh nhân tù binh từ các tiểu trại đưa đến, nếu là bệnh nặng, có 3 tù binh trong đó chỉ có một người là y tá sơ cấp và hai người thuộc hành chánh quân y được chọn coi sóc thuốc men và ăn ở cho bệnh nhân tù ngoài ra còn đãm trách những việc trồng trọt, chăn nuôi và sai vặc cho bộ đội nữa.
Tháng 5 năm 1976, một hôm bị bệnh, tôi được sung vào toán « lao động nhẹ », « nhẹ » nghĩa là vượt 7 cây số đường núi đồi từ tiểu trại 1 đến trạm xá Đoàn 76 để cuốc cỏ tranh xung quanh các nơi đây.
Sau giờ ăn trưa, được nghỉ ngơi nửa giờ, tôi nằm dài trên đất dưới mái hiên một nhà nào đó để mong được hưởng hơi mát từ đất, dưới ngọn nắng gay gắt, chói chang và gió Nam Lào hừng hực, tôi thiếp đi trong mệt mỏi. Tôi được đánh thức giậy bằng mấy cái đá nhẹ vào đùi, bừng mắt thấy một cán binh bộ đội sừng sững nhìn tôi :
-Anh là Định ? Theo tôi vào làm việc !
Tôi bàng hoàng chẳng biết mình có làm điều gì sai phạm để phải bị « làm việc », mọi tù binh đều sợ chữ « làm việc » vì có nghĩa là bị thầm vấn, tra hỏi về vấn đề gì không tốt cho mình.
Theo người cán binh bộ đội vào nhà, không khí bên trong mát dịu làm tôi tỉnh táo, tôi thầm nghĩ :
-Mang thân phận tù là tận cùng rồi thì còn sợ cái quái gì nữa ?
Một người bộ đội đứng tuổi với phong cách như vị chỉ huy nhìn tôi không có vẻ gì ác cảm, giọng nhẹ nhàng làm tôi khá bỡ ngỡ, ông ta hỏi tôi :
-Anh là bác sĩ bên đối tượng ? Anh phẩu được ?
Bộ đội Cộng Sản dùng từ « đối tượng » để chỉ tù binh và từ « phẩu » nghĩa là giải phẩu.
Tôi gật đầu :
-Thưa tôi là bác sĩ giải phẩu.
-Có một anh bị tai nạn lao động, cần anh vào xem.
Thế là với bộ áo quần tù lem luốc, tôi được hướng dẫn đi rửa tay. Một y tá bộ đội giọng ra lệnh :
-Rửa tay thật kỹ vào ! Không có bao tay (glove) đâu.
Tôi đang rửa tay, anh y tá bộ đội quấn lên đầu tôi một mảnh vải thay thế mũ trùm đầu, rồi dùng một chiếc khăn vuông gấp chéo, quàng quang mặt tôi, gọi là mask. Lúc đó tôi chắc giống mấy tay chăn bò (cowboys) trong những phim miền Viễn Tây (Western).
Một gian nhà tranh vách đất nhỏ được gọi là phòng mỗ với bên trong được bọc kín bằng một loại vải mùng, nền là những tấm ghi sắt sân bay ghép lại.
Tôi đã giải quyết cho một anh tù binh trẻ thuộc tiểu trại 2, tên Huấn, cấp bậc chuẫn uý bị tai nạn lao động do cuốc phải đầu đạn M72. Bác sĩ bộ đội và toán giải phẩu của ông định cắt bỏ cánh tay trái của Huấn sau hơn 3 giờ không tìm được mạch máu bị cắt cũng như mãnh đạn. Để chứng tỏ có nhân chứng xác nhận là họ đã tận tình cứu chữa nhưng không cách gì khác hơn là phải hy sinh cánh tay người tù trẻ, họ hỏi ý kiến anh Quý, một tù binh phục vụ trạm xá, anh ta bối rối không dám quyết định một vấn đề quan trọng như vậy và anh đề nghị họ gọi tôi.
20 phút sau khi giải quyết xong trường hợp của Huấn, giữ khỏi mất cánh tay của anh ta và phục hồi sau vài ngày ; tôi còn phải mổ thêm cho một tù binh khác cùng chung một tai nạn, anh này bị mãnh đạn xuyên má bên trái, cắt ngang hai cái răng ; mọi việc tốt đẹp, từ đó họ giữ tôi ở lại trạm xá, đây là điểm y tế gọi là cao nhất và là cuối cùng cho anh em bệnh nhân tù.
Càng ngày, vùng khai hoang càng nới rộng, số anh em tù bị đẩy đi lao động khổ sai càng gặp nhiều tai nạn ; phần lớn là do bom. Mìm, đạn dược vung vãi khắp những nơi mà trước đây là vùng giao tranh ác liệt.
Với một số ít dụng cụ y khoa sản xuất tại Trung Quốc, điều kiện thuốc men hạn chế, phòng ốc thiếu vệ sinh,.., tôi phải giải quyết mọi trường hợp mổ lớn y như là một bệnh viện. Trên nguyên tắc, trạm xá tù chỉ điều trị cho tù binh mà thôi, nhưng khi dân chúng quanh vùng gặp những trường hợp cấp cứu, phía bộ đội lại giao cho chúng tôi giải quyết, có người được chúng tôi mổ nối ruột non và tạo hậu môn nhân tạo (artificial anus). Ngay cả phía bệnh nhân bộ đội, có nhiều người đã yêu cầu tù binh chúng tôi giải phẩu cho họ, để giữ an toàn, chúng tôi đã tế nhị đòi hỏi họ viết tờ cam đoan với sự xác nhận từ bác sĩ bộ đội của họ là sẽ không làm khó dễ toán y tế tù nếu xảy ra những điều bất như ý hoặc tai nạn khó lường trong giải phẩu.
Tôi còn yêu cầu họ đóng một bàn mổ theo bản vẽ thiết kế của tôi, còn về thuốc men cho tù binh ở trạm xá cũng như các tiểu trại, tôi cũng xin được bổ túc thêm, nhất là dành cho cấp cứu tại chỗ.
Vì nhu cầu y tế ngày càng tăng, tôi đề nghị bác sĩ bộ đội cho chúng tôi thêm nhân sự, được chấp thuận, tôi viết danh sách gồm nhiều bác sĩ và sĩ quan trợ y ở khắp các tiểu trại, và họ đã chọn những người từ tiểu trại 4 trong đó có Bác Sĩ Trương Ngọc Hiền, thuộc TQLC và Bác Sĩ Nguyễn Văn Thông, Bộ Binh, cùng với ba sĩ quan trợ y là các anh Lê Như Thành, Nguyễn Văn Tường, Lê Văn Đàn ; những sĩ quan trợ y này trước đây là những trung đội trưởng trong đại đội quân y do tôi làm đại đội trưởng.
Ban giám thị trạm xá còn dựng một phòng bệnh khá vững chắc có sức chứa 20 bệnh nhân tù và có cả phòng ăn kế bên, số anh em tù từ các tiểu trại bị bệnh khá nặng đều được chuyển đến trạm xá nơi chúng tôi phục vụ.
Một ngày trời mưa tầm tã và bắt đầu se lạnh của tháng 10 năm 1976, tôi đang viết danh sách số thuốc yêu cầu cho bệnh nhân tù thì liếp cửa bật mở, BS Giang bước vào, người anh ướt đẫm từ đầu đến chân, anh vừa cười vừa rủ nước trên chiếc nón vải nặng trĩu.
-Hay quá ! Có anh đây !
Tôi rất mừng gặp bạn, nhưng sợ phạm tôi liên lạc với người khác trại nên tôi vội bước ra ngoài nhìn lại xem có giám thị trạm xá thấy Giang vào đây không, không có ai qua lại, tôi yên chí cầm túi vải ướt đẫm nước của Giang vào nhà. Trong tất cả các trại giam thuộc Đoàn 76, trạm xá này là nơi độc nhất không có hàng rào kẽm gai vây quanh, nhưng chẳng tù binh nào dám trốn trại, vì khắp vùng đều nhan nhản bộ đội và dân quân tuần tra nghiêm ngặt.
Đưa khăn cho Giang lau mặt, tôi ái ngại nhìn bạn:
-Cậu đi đâu về mà ướt đẫm thế này?
-Em đi rừng đào củ Hà Thủ Ô, còn rộng thì giờ, em vào đây nghe anh đàn.
Tôi kéo bếp than nóng để cạnh bạn và đưa chén trà cho Giang. Tôi luôn có trà nóng nhờ bếp than dùng nấu syringues và kim chích. Sau khi hít một hơi thuốc lào dài, tôi cầm cây đàn guitare, tù binh chúng tôi chống lại với cái lạnh buốt tới xương của vùng rừng núi ẩm thấp của phía Tây Quãng Trị này bằng cách hút thuốc lào một thuốc rẻ tiền nhất. Sau 30 thántg 4 1975, trong giấy trình diện mà họ gọi là “đi học tập cải tạo” có phần bị ghi chú “trại viên nên mang theo dụng cụ thể thao, âm nhạc…”, điều đó làm cho mọi người nghĩ rằng thời gian “học tập” chắc sẽ chỉ vài ngày hoặc vài tuần. Sự thật thì không phải học tập mà là đi tù và đơn vị thời gian không phải là ngày, tuần, tháng mà là năm hay chục năm. Biết bạn thích những bản nhạc nào, tôi đàn ngay, Giang ngồi sưởi ấm vừa nhấm nháp trà vừa nghe nhạc, sau khi chấm dứt bản nhạc Panpancuillo của Francisco Tarrega, Giang ung dung đặt chén trà xuống bàn:
-Bản này nghe âm hưởng như nhạc Nhật Bản, phải không anh Định?
-Đúng vậy! Giang còn nhớ bản nhạc Tranonto không?